DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,142,357

Trần Văn Sơn - Lui Binh Hành

Tuesday, April 11, 201710:50 PM(View: 3116)
Trần Văn Sơn - Lui Binh Hành
TRẦN VĂN SƠN

 

THƠ TƯỞNG NIỆM

BA MƯƠI THÁNG TƯ -  MỘT CHÍN BẢY MƯƠI LĂM

 

blank

 


TỰ TRUYỆN

 

Trăm nỗi buồn vui ba định nói với con

Lần lữa mãi xem ra chừng đã muộn

Tuổi trung niên hai con vẫn còn lựa chọn

Ba quá già để nghĩ chuyện tương lai

 

Chuyện ngày xưa ba mẹ mới cưới nhau

Mẹ công chức ba quanh năm đánh giặc

Đồng lương mẹ chắt chiu từng xu từng cắc

Đồng lương ba tiền lính tính liền

 

Con chào đời tháng tư bảy mươi lăm

Anh hai con chưa đầy hai tuổi rưỡi

Ba mẹ con bị ném lên vùng kinh tế mới

Ngôi nhà từ đường đảng xẻ thịt phanh thây

 

Ba vào tù trước ngày Dương văn Minh đầu hàng

Nên cùng sống trong chín tầng địa ngục

Dân tộc Việt Nam gục đầu ô nhục

Quê hương điêu tàn bởi bầy thú dữ rừng sâu

 

Mẹ gánh hai con mỗi đứa một đầu

Thất thểu đêm ngày trốn về thành phố

Chiếu đất màn trời đầu đường xó chợ

Mưa nắng che thân ống cống gầm cầu

 

Ba mẹ con bị bắt nhốt vào tù

Tội duy nhất đảng cướp nhà bịt miệng

Con khát sữa khóc la khản tiếng

Bầu vú khô mẹ vắt kiệt tia máu cuối cùng


Bạn tù thương pha nước lã muối đường

Đứa con lớn gậm khoai sùng ngộ độc

Mẹ thoi thóp ôm hai con khóc ngất

Cấp cứu rền vang tiếng vọng hư vô

 

Hai đại tang đỗ ập xuống bất ngờ

Ông ngoại mất tiếp theo ông nội

Mẹ lịm chết tưởng không sống nổi

Chít khăn tang trên hai mái đầu thơ


Dưới gốc cây mẹ lập bàn thờ

Và di ảnh trong trái tim hoá đá

Nhang khói lạnh tanh cảnh đời nghiệt ngã

Biết về đâu giữa sa mạc hoang vu

 

Mười tám năm một thoáng phù du

Người trong cuộc hàng thiên niên kỷ

Mẹ gánh hai con gánh cả thiên thu

Đôi thúng nặng tình yêu chung thủy

 

Ba ra tù tháng mười một tám mươi ba

Chín năm khổ sai ba miền Nam Trung Bắc

Gia đình ta sống tiếp đời khổ nhục

Hành khất trời hành khất đất Phương Nam

Hành khất dung thân ở cuối đường hầm

Tia nắng rọi nhắc ba mặt trời vẫn mọc…

 

blank

 


LUI BINH HÀNH

Tặng 2 vị Tiểu đoàn trưởng của tôi: Lê Phi Ô & Lê Hùng

 

Lui binh lui binh hề lui binh

tướng giỏi nghiến răng nén bất bình

chiến trận bao năm chưa chiến bại

một ngày buông súng quỉ thần kinh

 

Ghìm súng đêm đen đồi Bảo Đại

quân đi ngậm thẻ nuốt hờn căm

Hoài Đức pháo rơi như đậu vãi

về đâu quốc lộ 1 mù tăm

 

Băng rừng vượt chốt mở đường máu

tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi

bi đông cạn nước tay lựu đạn

máu trộn mồ hôi lẫn xác người

 

Sông núi rùng mình Biển Lạc khóc

ba lô nón sắt vững lòng dân

hình vợ thẻ bài đeo trước ngực

Lăng Quăng cầu gãy lính chồn chân

 

La Ngà, Gia Huynh địch vây khổn

Tánh Linh tràn ngập bầy kên kên

quan nghinh đầu súng lính đoạn hậu

sống chết trời cho súng nổ rền

 

Vợ trẻ chờ chồng con chờ cha

giặc ruồng thôn xóm nát tan nhà

Võ Xu, Chính Đức rồi Võ Đắt

về đâu La Gi xa thật xa

 

Người lính can trường vuốt mắt bạn

cắn nát môi nuốt lệ rưng rưng

hỡi ơi chiến trận anh hùng tận

vùi thây đánh dấu gốc bằng lăng

 

Đêm sao Bắc Đẩu soi mắt thần

mỗi bước chân mìn bẫy giăng ngầm

Suối Kiết, Láng Gòn, Tân Long bến

hải đội đâu mà biển lặng câm

 

Tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi

mất tích thương vong lính tả tơi

tận nhân lực anh hùng mạt vận

xuôi đời theo vận nước nổi trôi

 

Lui binh lui binh hề lui binh

tướng giỏi nghiến răng nén bất bình

trăm trận ra quân trăm trận thắng

tháng tư bẻ súng đất trời kinh


 

blank

 


THÁNG TƯ VÀTRẦN HÒA BÌNH

 


Tháng tư con chào đời

Di tản thuyền thay nôi

Con nằm ôm vú mẹ

Biển động mưa đầy trời

 

Con mười lăm ngày tuổi

Sốt cao sẩy đầy người

Con nằm thoi thóp thở

Thuốc chữa bầu sữa tươi

 

Ấp yêu vòng tay mẹ

Lớn khôn ngàn trùng vây

Gầm cầu thương xó chợ

Chiếu rách thương vòm cây

 

Mẹ mơ ngày đoàn tụ

Dưới mái nhà thân yêu

Bên chồng con cha mẹ

Bên bếp hồng cơm rau

 

Ba mơ ngày yên giặc

Đặt tên con HÒA BÌNH

Hòa bình đâu chẳng thấy

Thấy khổ sai nhục hình

 

Khoảnh khắc bốn mươi năm

Con thành công dân MỸ

Khốn khó bỏ sau lưng

Miền viễn tây hùng vỹ

 

Các con ngày mỗi lớn

Sống cuộc đời thảnh thơi

Nhớ tháng tư tang tóc

Di tản thuyền thay nôi

 

Ba mẹ ngày mỗi già

Theo nội ngoại không xa

Con còn một TỔ QUỐC

Bên kia giải ngân hà

 

Nhớ lời ba mẹ dặn

Sống phải biết cội nguồn

Con da vàng máu đỏ

Sữa mẹ nuôi lớn khôn

 

Nhớ lời ba mẹ dặn

Nhân loại một mái nhà

Gia tài con sẽ nhận

Sống TÂM ĐẠO mẹ cha

 

 

 blank

 


BẮT ĐẦU

Tặng niên trưởng Nguyễn Văn Xa*

 

Đến tận cùng mới thật sự bắt đầu

Khi bạn ta nằm im trong chòi xác

Ngực còn ấm hy vọng ngày họp mặt

Óc còn tươi mơ hạnh phúc gia đình

 

Bạn nằm im vĩnh biệt bạn bè thân

Bạn bè một thời nằm gai nếm mật

Bạn bè một thời chung lưng đấu cật

Nay chung tù, chung khổ nhục bên nhau

 

Đến tận cùng mới thật sự bắt đầu

Khi bạn ta nằm im trong bóng tối

Sự sống bắt đầu bằng bàn tay đồng đội

Bằng tình thương cứu sống Nguyễn Văn Xa

 

Bằng niềm tin thánh thiện bao la

Từ địa ngục bạn tìm về nguồn cội

Từ địa ngục bạn đến vùng đất mới

Và bắt đầu, thật sự của chúng ta

 

Đến tận cùng mới thật sự hiểu ra

Sự sống bắt đầu bằng hồi chuông báo tử

Sự sống bắt đầu trong buồng tim máu ứ

Vỡ tung thành đồi núi biển sông

 

Tim phổi còn tươi mặt đất ấm nồng

Bạn ta bắt đầu cõi về xa lạ

Đến tận cùng mới thật sự hiểu ra

Sự sống bắt đầu gọi tên Nguyễn Văn Xa

 

 

[*] Niên trưởng Nguyễn văn Xa chết hai lần tại Trại Tù Yên Bái miền Thượng du Bắc Việt, xác nằm trong chòi lá dưới chân đồi chờ sáng đem chôn. Bạn tù, một Bác Sĩ Quân Y/ QLVNCH, vô tình vào gặp rờ ngực thấy còn ấm làm hô hấp nhân tạo cứu sống ông . Lần thứ hai , xác ông cũng bị vứt trong chòi lá dưới chân đồi, đêm tỉnh lại ông bò lên đồi và được bạn tù khiêng vào trại cứu sống . Ông cùng gia đình qua Mỹ diện HO và hiện sống ở Nam California .

 

 

 blank

 

TIỄN BẠN

Tặng Vũ Uyên Giang

 

Đập vỡ ly tiễn bạn đêm nay

Rượu hòa máu hận thấm khăn tay

Bạn lên miền ngược nuôi mộng lớn

Ta cất lều tranh dưới tán cây

 

Bạn cười gằn thế sự đảo điên

Anh hùng mạt vận cố ngoi lên

Đập ly - ly vỡ đau lòng nước

Bỏ mặc trần gian một chiếc bàn

 

Bạn gửi ta bao cát biệt giam

Áo tù may ấm lạnh mười năm

Vợ con biết có còn lưu lạc

Cát bụi chung thân chọn chỗ nằm

 

Tặng bạn ba lô thời tử thủ

Băng rừng lội suối vượt trường sơn

Dường về ngắn nhất con đường cũ

Sông núi vùng lên lẽ sống còn

 

Ta bạn lính – tù chung số phận

Thịnh suy thành bại vẫn còn nhau

Nay xa mai gặp đâu là bến

Buồn nhớ sân ga trễ chuyến tàu

 

Mình ta ôm góc núi bơ vơ

Loay hoay vạch lá lối sương mờ

Đường về trăm nẻo mà ngăn cách

Có cách ngăn nào không ngẩn ngơ

 

Phát rẫy trồng rau nhổ sạch cỏ

Tóc râu tua tủa tựa người rừng

Chân tay mọc rễ vùng đất khổ

Khỉ vượn ôm con hú gọi đàn

 

Ta khắc lời thề trên thớ gỗ

Tháng tư ngày ấy bảy mươi lăm

Tháng tư hủy diệt đời trai trẻ

Huyệt mộ phơi sương trắng lăn trầm

 

Ngồi soi bóng suối đợi trăng lên

Sợ lâu ngày quên mất họ tên

Vọc nước mơ Vũ Môn cá vượt

Lều tranh đom đóm kết hoa đèn

 

Ta đốn rừng cây xây thành lũy

Dựng biên cương núi thẳm vực sâu

Mai kia thiên - địa - nhân tri kỷ

Ta bạn về đây ở tuyến đầu

 

Trần Văn Sơn
(tác giả gởi)



*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, November 10, 20197:19 AM(View: 96)
Ông Ngô Đình Diệm muốn Thiên Chúa Giáo của ông độc tôn, muốn anh của ông là Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục làm Hồng Y giáo chủ, nên ông kỳ thị đàn áp Phật Giáo. Ấp chiến lược chỗ thì rào chùa vào trong để hạn chế đi lại, chỗ thì rào chùa ra ngoài để tự do bắn phá. Khu trù mật thì bắt cán bộ cơ sở của Phật Giáo phá nhà bỏ của mà đi. Quân dịch thì bắt Tăng sĩ Phật Giáo làm những chức vụ nguy hiểm mà vô quyền, để tu sĩ Thiên Chúa ra mà nắm quyền chỉ huy ngay từ hạ tầng. Giải thưởng văn chương thì thưởng cho cuốn văn chương bình dân nội dung cốt chống Phật Giáo. Chương trình tú tài C thì đổi toàn lý thuyết thượng đế và nhân vị, lại thêm một bằng ban D với cổ ngữ La Tinh. Sát hại Phật tử thì có tập thể lên đến 36 người ở một nơi cùng một lúc, không còn lẻ tẻ nữa. Cả gan huy bỏ ngày Phật Đản trong danh sách ngày lễ được nghỉ của công tư chức, và danh sách này bao giờ Thiên Chúa Giáo cũng gấp đôi Phật Giáo cả ngày và giờ nghỉ. Dụ số 10 được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối
Saturday, November 9, 201912:58 PM(View: 157)
Vào giữa thập niên 1990 đã có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như một thứ cha già của dân tộc. Rồi cả những cuốn sách, bài viết công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng CSVN. Vào ngày 1-11-1963, khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ngô Đình Diệm – mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc Cách Mạng, thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa năm thứ nhất, chuẩn bị thi lên năm thứ hai của Đại học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa, khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa. Đại học Luật Khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng trường cũng phải đóng cửa
Friday, November 8, 20199:29 PM(View: 78)
Đây là một đoạn thơ Nguyễn Bắc Sơn đã từng làm xao xuyến dư luận khi xuất hiện trên báo giới Sài Gòn khoảng 1970, như trên tuần báo Khởi Hành của hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người đọc, nhất là giới thanh niên, ngạc nhiên và sảng khoái trước những lời thơ ngang tàng, bi tráng, ý thơ u uất, kiêu bạc, bất cần đời. Câu thơ phơi trải tâm trạng một lớp thanh niên Miền Nam, vào thời điểm quyết định của chiến tranh — và từ đó — làm chứng từ cho một khía cạnh của cuộc chiến kéo dài non hai mươi năm. Tâm trạng kia và chứng từ nọ đã được ghi lại trong tập thơ Chiến Tranh Việt Nam và Tôi xuất bản năm 1972 thời đó đã ít người được đọc trực tiếp nguyên tác; bây giờ dĩ nhiên là tuyệt bản. Năm nay nhiều cơ quan tổ chức kỷ niệm ba mươi năm chấm dứt chiến tranh, tưởng cũng nên đọc lại chứng từ Nguyễn Bắc Sơn. Thì may thay, các bạn ở nước ngoài đã sưu tầm và tái bản tập thơ để tặng biếu bạn bè. Đây là một việc làm cao đẹp, đi từ tình bằng hữu thủy chung và nồng
Thursday, November 7, 20197:10 AM(View: 182)
Nhưng càng ngày, anh em ông Diệm càng độc tài, độc tôn, độc quyền, kỳ thị tôn giáo, tàn ác… Trong số anh em nhà họ Ngô, người bị ghét hay thù ghét, trước nhứt là “Cậu”, “cậu” là ông Ngô Đình Cẩn, độc đoán, độc tài, tàn ác, tham nhũng, “lãnh chúa miền Trung”… Người bị dân Huế thù ghét thứ hai là ông Ngô Đình Thục, là “Đức Cha Ngô Đình Thục”. Ông Thục cũng là người tham lam, độc đoán, kỳ thị tôn giáo… Ông Ngô Đình Nhu, có tốt xấu như thế nào thì ông Nhu cũng là người ở xa. Việc ông Nhu làm, có ảnh hưởng tới Huế cũng chỉ là gián tiếp. Người dân Huế ghét bà Nhu hơn, nhất là khi bà ta ăn nói hổn láo, xúc phạm đến hàng tu sĩ cao cấp Phật Giáo. Bà là người “thần khẩu hại xác phàm”, nhìn cái miệng bà chu ra - có người gọi là mỏ chuột - người Huế đã thấy ghét lắm rồi. Có lẽ người Huế không có gì, biết hay thương, hay ghét ông Ngô Dình Luyện, người con út; thậm chí người Huế còn tưởng lầm “cậu” là con út, mới gọi là “Cố Trầu”, “Cậu Út Trầu”… mà quên hay không biết rằng, Ông Luyện mới là “cậu út
Monday, November 4, 20198:12 PM(View: 217)
Sau một hồi nói chuyện qua điện thoại, Dung báo cho tôi: “Bác biết chuyện gì xẩy ra cho ba cháu chưa?” “Chưa. Chuyện gì?“ “Ba cháu đã vào chùa, xuống tóc đi tu từ hơn nửa năm nay. Ba cháu hiện tu ở một chùa gần thành phố bác ở. Ba cháu không cho ai biết chuyện ông đi tu. Dấu, không cho biết tu ở chùa nào. Cháu mới tìm ra. Cháu định tháng tới qua thăm, và rủ bác cùng đi luôn. Gặp bác chắc Ba cháu mừng lắm.” “Bác cũng mong gặp ba cháu. Lâu rồi, ba cháu và bác chưa gặp lại nhau. À, tại sao ba cháu có quyết định đi tu? Sao lại phải dấu chuyện tu hành. Đi tu, chứ có phải đi tù đâu mà dấu diếm. Còn mẹ cháu thì sao?” Dung ậm ừ, như không muốn nói. Một lúc sau mới trả lời: “Mẹ cháu vẫn bình thường. Vẫn oai phong như cũ. Thật ra ba cháu không cho ai biết tu nơi nào, vì sợ mẹ cháu đến phá đám. Bốn tháng trước, ba cháu tu tại một chùa gần West Virginia, mẹ cháu đến làm ồn ào, bắt ba cháu trở về. La mắng cả sư cụ, xỉ vả ông ta đủ điều, còn phao vu lên rằng sư cụ đồng tính luyến ái với ba