DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,709,087

Trần Văn Sơn - Lui Binh Hành

11 Tháng Tư 201710:50 CH(Xem: 1507)
Trần Văn Sơn - Lui Binh Hành
TRẦN VĂN SƠN

 

THƠ TƯỞNG NIỆM

BA MƯƠI THÁNG TƯ -  MỘT CHÍN BẢY MƯƠI LĂM

 

blank

 


TỰ TRUYỆN

 

Trăm nỗi buồn vui ba định nói với con

Lần lữa mãi xem ra chừng đã muộn

Tuổi trung niên hai con vẫn còn lựa chọn

Ba quá già để nghĩ chuyện tương lai

 

Chuyện ngày xưa ba mẹ mới cưới nhau

Mẹ công chức ba quanh năm đánh giặc

Đồng lương mẹ chắt chiu từng xu từng cắc

Đồng lương ba tiền lính tính liền

 

Con chào đời tháng tư bảy mươi lăm

Anh hai con chưa đầy hai tuổi rưỡi

Ba mẹ con bị ném lên vùng kinh tế mới

Ngôi nhà từ đường đảng xẻ thịt phanh thây

 

Ba vào tù trước ngày Dương văn Minh đầu hàng

Nên cùng sống trong chín tầng địa ngục

Dân tộc Việt Nam gục đầu ô nhục

Quê hương điêu tàn bởi bầy thú dữ rừng sâu

 

Mẹ gánh hai con mỗi đứa một đầu

Thất thểu đêm ngày trốn về thành phố

Chiếu đất màn trời đầu đường xó chợ

Mưa nắng che thân ống cống gầm cầu

 

Ba mẹ con bị bắt nhốt vào tù

Tội duy nhất đảng cướp nhà bịt miệng

Con khát sữa khóc la khản tiếng

Bầu vú khô mẹ vắt kiệt tia máu cuối cùng


Bạn tù thương pha nước lã muối đường

Đứa con lớn gậm khoai sùng ngộ độc

Mẹ thoi thóp ôm hai con khóc ngất

Cấp cứu rền vang tiếng vọng hư vô

 

Hai đại tang đỗ ập xuống bất ngờ

Ông ngoại mất tiếp theo ông nội

Mẹ lịm chết tưởng không sống nổi

Chít khăn tang trên hai mái đầu thơ


Dưới gốc cây mẹ lập bàn thờ

Và di ảnh trong trái tim hoá đá

Nhang khói lạnh tanh cảnh đời nghiệt ngã

Biết về đâu giữa sa mạc hoang vu

 

Mười tám năm một thoáng phù du

Người trong cuộc hàng thiên niên kỷ

Mẹ gánh hai con gánh cả thiên thu

Đôi thúng nặng tình yêu chung thủy

 

Ba ra tù tháng mười một tám mươi ba

Chín năm khổ sai ba miền Nam Trung Bắc

Gia đình ta sống tiếp đời khổ nhục

Hành khất trời hành khất đất Phương Nam

Hành khất dung thân ở cuối đường hầm

Tia nắng rọi nhắc ba mặt trời vẫn mọc…

 

blank

 


LUI BINH HÀNH

Tặng 2 vị Tiểu đoàn trưởng của tôi: Lê Phi Ô & Lê Hùng

 

Lui binh lui binh hề lui binh

tướng giỏi nghiến răng nén bất bình

chiến trận bao năm chưa chiến bại

một ngày buông súng quỉ thần kinh

 

Ghìm súng đêm đen đồi Bảo Đại

quân đi ngậm thẻ nuốt hờn căm

Hoài Đức pháo rơi như đậu vãi

về đâu quốc lộ 1 mù tăm

 

Băng rừng vượt chốt mở đường máu

tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi

bi đông cạn nước tay lựu đạn

máu trộn mồ hôi lẫn xác người

 

Sông núi rùng mình Biển Lạc khóc

ba lô nón sắt vững lòng dân

hình vợ thẻ bài đeo trước ngực

Lăng Quăng cầu gãy lính chồn chân

 

La Ngà, Gia Huynh địch vây khổn

Tánh Linh tràn ngập bầy kên kên

quan nghinh đầu súng lính đoạn hậu

sống chết trời cho súng nổ rền

 

Vợ trẻ chờ chồng con chờ cha

giặc ruồng thôn xóm nát tan nhà

Võ Xu, Chính Đức rồi Võ Đắt

về đâu La Gi xa thật xa

 

Người lính can trường vuốt mắt bạn

cắn nát môi nuốt lệ rưng rưng

hỡi ơi chiến trận anh hùng tận

vùi thây đánh dấu gốc bằng lăng

 

Đêm sao Bắc Đẩu soi mắt thần

mỗi bước chân mìn bẫy giăng ngầm

Suối Kiết, Láng Gòn, Tân Long bến

hải đội đâu mà biển lặng câm

 

Tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi

mất tích thương vong lính tả tơi

tận nhân lực anh hùng mạt vận

xuôi đời theo vận nước nổi trôi

 

Lui binh lui binh hề lui binh

tướng giỏi nghiến răng nén bất bình

trăm trận ra quân trăm trận thắng

tháng tư bẻ súng đất trời kinh


 

blank

 


THÁNG TƯ VÀTRẦN HÒA BÌNH

 


Tháng tư con chào đời

Di tản thuyền thay nôi

Con nằm ôm vú mẹ

Biển động mưa đầy trời

 

Con mười lăm ngày tuổi

Sốt cao sẩy đầy người

Con nằm thoi thóp thở

Thuốc chữa bầu sữa tươi

 

Ấp yêu vòng tay mẹ

Lớn khôn ngàn trùng vây

Gầm cầu thương xó chợ

Chiếu rách thương vòm cây

 

Mẹ mơ ngày đoàn tụ

Dưới mái nhà thân yêu

Bên chồng con cha mẹ

Bên bếp hồng cơm rau

 

Ba mơ ngày yên giặc

Đặt tên con HÒA BÌNH

Hòa bình đâu chẳng thấy

Thấy khổ sai nhục hình

 

Khoảnh khắc bốn mươi năm

Con thành công dân MỸ

Khốn khó bỏ sau lưng

Miền viễn tây hùng vỹ

 

Các con ngày mỗi lớn

Sống cuộc đời thảnh thơi

Nhớ tháng tư tang tóc

Di tản thuyền thay nôi

 

Ba mẹ ngày mỗi già

Theo nội ngoại không xa

Con còn một TỔ QUỐC

Bên kia giải ngân hà

 

Nhớ lời ba mẹ dặn

Sống phải biết cội nguồn

Con da vàng máu đỏ

Sữa mẹ nuôi lớn khôn

 

Nhớ lời ba mẹ dặn

Nhân loại một mái nhà

Gia tài con sẽ nhận

Sống TÂM ĐẠO mẹ cha

 

 

 blank

 


BẮT ĐẦU

Tặng niên trưởng Nguyễn Văn Xa*

 

Đến tận cùng mới thật sự bắt đầu

Khi bạn ta nằm im trong chòi xác

Ngực còn ấm hy vọng ngày họp mặt

Óc còn tươi mơ hạnh phúc gia đình

 

Bạn nằm im vĩnh biệt bạn bè thân

Bạn bè một thời nằm gai nếm mật

Bạn bè một thời chung lưng đấu cật

Nay chung tù, chung khổ nhục bên nhau

 

Đến tận cùng mới thật sự bắt đầu

Khi bạn ta nằm im trong bóng tối

Sự sống bắt đầu bằng bàn tay đồng đội

Bằng tình thương cứu sống Nguyễn Văn Xa

 

Bằng niềm tin thánh thiện bao la

Từ địa ngục bạn tìm về nguồn cội

Từ địa ngục bạn đến vùng đất mới

Và bắt đầu, thật sự của chúng ta

 

Đến tận cùng mới thật sự hiểu ra

Sự sống bắt đầu bằng hồi chuông báo tử

Sự sống bắt đầu trong buồng tim máu ứ

Vỡ tung thành đồi núi biển sông

 

Tim phổi còn tươi mặt đất ấm nồng

Bạn ta bắt đầu cõi về xa lạ

Đến tận cùng mới thật sự hiểu ra

Sự sống bắt đầu gọi tên Nguyễn Văn Xa

 

 

[*] Niên trưởng Nguyễn văn Xa chết hai lần tại Trại Tù Yên Bái miền Thượng du Bắc Việt, xác nằm trong chòi lá dưới chân đồi chờ sáng đem chôn. Bạn tù, một Bác Sĩ Quân Y/ QLVNCH, vô tình vào gặp rờ ngực thấy còn ấm làm hô hấp nhân tạo cứu sống ông . Lần thứ hai , xác ông cũng bị vứt trong chòi lá dưới chân đồi, đêm tỉnh lại ông bò lên đồi và được bạn tù khiêng vào trại cứu sống . Ông cùng gia đình qua Mỹ diện HO và hiện sống ở Nam California .

 

 

 blank

 

TIỄN BẠN

Tặng Vũ Uyên Giang

 

Đập vỡ ly tiễn bạn đêm nay

Rượu hòa máu hận thấm khăn tay

Bạn lên miền ngược nuôi mộng lớn

Ta cất lều tranh dưới tán cây

 

Bạn cười gằn thế sự đảo điên

Anh hùng mạt vận cố ngoi lên

Đập ly - ly vỡ đau lòng nước

Bỏ mặc trần gian một chiếc bàn

 

Bạn gửi ta bao cát biệt giam

Áo tù may ấm lạnh mười năm

Vợ con biết có còn lưu lạc

Cát bụi chung thân chọn chỗ nằm

 

Tặng bạn ba lô thời tử thủ

Băng rừng lội suối vượt trường sơn

Dường về ngắn nhất con đường cũ

Sông núi vùng lên lẽ sống còn

 

Ta bạn lính – tù chung số phận

Thịnh suy thành bại vẫn còn nhau

Nay xa mai gặp đâu là bến

Buồn nhớ sân ga trễ chuyến tàu

 

Mình ta ôm góc núi bơ vơ

Loay hoay vạch lá lối sương mờ

Đường về trăm nẻo mà ngăn cách

Có cách ngăn nào không ngẩn ngơ

 

Phát rẫy trồng rau nhổ sạch cỏ

Tóc râu tua tủa tựa người rừng

Chân tay mọc rễ vùng đất khổ

Khỉ vượn ôm con hú gọi đàn

 

Ta khắc lời thề trên thớ gỗ

Tháng tư ngày ấy bảy mươi lăm

Tháng tư hủy diệt đời trai trẻ

Huyệt mộ phơi sương trắng lăn trầm

 

Ngồi soi bóng suối đợi trăng lên

Sợ lâu ngày quên mất họ tên

Vọc nước mơ Vũ Môn cá vượt

Lều tranh đom đóm kết hoa đèn

 

Ta đốn rừng cây xây thành lũy

Dựng biên cương núi thẳm vực sâu

Mai kia thiên - địa - nhân tri kỷ

Ta bạn về đây ở tuyến đầu

 

Trần Văn Sơn
(tác giả gởi)



*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 57)
Năm 1979 là năm tệ hệ nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ. Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 213)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 315)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 129)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 220)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương