DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,491,762

Trần Văn Sơn - Lui Binh Hành

Tuesday, April 11, 201710:50 PM(View: 5099)
Trần Văn Sơn - Lui Binh Hành
TRẦN VĂN SƠN

 

THƠ TƯỞNG NIỆM

BA MƯƠI THÁNG TƯ -  MỘT CHÍN BẢY MƯƠI LĂM

 

blank

 


TỰ TRUYỆN

 

Trăm nỗi buồn vui ba định nói với con

Lần lữa mãi xem ra chừng đã muộn

Tuổi trung niên hai con vẫn còn lựa chọn

Ba quá già để nghĩ chuyện tương lai

 

Chuyện ngày xưa ba mẹ mới cưới nhau

Mẹ công chức ba quanh năm đánh giặc

Đồng lương mẹ chắt chiu từng xu từng cắc

Đồng lương ba tiền lính tính liền

 

Con chào đời tháng tư bảy mươi lăm

Anh hai con chưa đầy hai tuổi rưỡi

Ba mẹ con bị ném lên vùng kinh tế mới

Ngôi nhà từ đường đảng xẻ thịt phanh thây

 

Ba vào tù trước ngày Dương văn Minh đầu hàng

Nên cùng sống trong chín tầng địa ngục

Dân tộc Việt Nam gục đầu ô nhục

Quê hương điêu tàn bởi bầy thú dữ rừng sâu

 

Mẹ gánh hai con mỗi đứa một đầu

Thất thểu đêm ngày trốn về thành phố

Chiếu đất màn trời đầu đường xó chợ

Mưa nắng che thân ống cống gầm cầu

 

Ba mẹ con bị bắt nhốt vào tù

Tội duy nhất đảng cướp nhà bịt miệng

Con khát sữa khóc la khản tiếng

Bầu vú khô mẹ vắt kiệt tia máu cuối cùng


Bạn tù thương pha nước lã muối đường

Đứa con lớn gậm khoai sùng ngộ độc

Mẹ thoi thóp ôm hai con khóc ngất

Cấp cứu rền vang tiếng vọng hư vô

 

Hai đại tang đỗ ập xuống bất ngờ

Ông ngoại mất tiếp theo ông nội

Mẹ lịm chết tưởng không sống nổi

Chít khăn tang trên hai mái đầu thơ


Dưới gốc cây mẹ lập bàn thờ

Và di ảnh trong trái tim hoá đá

Nhang khói lạnh tanh cảnh đời nghiệt ngã

Biết về đâu giữa sa mạc hoang vu

 

Mười tám năm một thoáng phù du

Người trong cuộc hàng thiên niên kỷ

Mẹ gánh hai con gánh cả thiên thu

Đôi thúng nặng tình yêu chung thủy

 

Ba ra tù tháng mười một tám mươi ba

Chín năm khổ sai ba miền Nam Trung Bắc

Gia đình ta sống tiếp đời khổ nhục

Hành khất trời hành khất đất Phương Nam

Hành khất dung thân ở cuối đường hầm

Tia nắng rọi nhắc ba mặt trời vẫn mọc…

 

blank

 


LUI BINH HÀNH

Tặng 2 vị Tiểu đoàn trưởng của tôi: Lê Phi Ô & Lê Hùng

 

Lui binh lui binh hề lui binh

tướng giỏi nghiến răng nén bất bình

chiến trận bao năm chưa chiến bại

một ngày buông súng quỉ thần kinh

 

Ghìm súng đêm đen đồi Bảo Đại

quân đi ngậm thẻ nuốt hờn căm

Hoài Đức pháo rơi như đậu vãi

về đâu quốc lộ 1 mù tăm

 

Băng rừng vượt chốt mở đường máu

tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi

bi đông cạn nước tay lựu đạn

máu trộn mồ hôi lẫn xác người

 

Sông núi rùng mình Biển Lạc khóc

ba lô nón sắt vững lòng dân

hình vợ thẻ bài đeo trước ngực

Lăng Quăng cầu gãy lính chồn chân

 

La Ngà, Gia Huynh địch vây khổn

Tánh Linh tràn ngập bầy kên kên

quan nghinh đầu súng lính đoạn hậu

sống chết trời cho súng nổ rền

 

Vợ trẻ chờ chồng con chờ cha

giặc ruồng thôn xóm nát tan nhà

Võ Xu, Chính Đức rồi Võ Đắt

về đâu La Gi xa thật xa

 

Người lính can trường vuốt mắt bạn

cắn nát môi nuốt lệ rưng rưng

hỡi ơi chiến trận anh hùng tận

vùi thây đánh dấu gốc bằng lăng

 

Đêm sao Bắc Đẩu soi mắt thần

mỗi bước chân mìn bẫy giăng ngầm

Suối Kiết, Láng Gòn, Tân Long bến

hải đội đâu mà biển lặng câm

 

Tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi

mất tích thương vong lính tả tơi

tận nhân lực anh hùng mạt vận

xuôi đời theo vận nước nổi trôi

 

Lui binh lui binh hề lui binh

tướng giỏi nghiến răng nén bất bình

trăm trận ra quân trăm trận thắng

tháng tư bẻ súng đất trời kinh


 

blank

 


THÁNG TƯ VÀTRẦN HÒA BÌNH

 


Tháng tư con chào đời

Di tản thuyền thay nôi

Con nằm ôm vú mẹ

Biển động mưa đầy trời

 

Con mười lăm ngày tuổi

Sốt cao sẩy đầy người

Con nằm thoi thóp thở

Thuốc chữa bầu sữa tươi

 

Ấp yêu vòng tay mẹ

Lớn khôn ngàn trùng vây

Gầm cầu thương xó chợ

Chiếu rách thương vòm cây

 

Mẹ mơ ngày đoàn tụ

Dưới mái nhà thân yêu

Bên chồng con cha mẹ

Bên bếp hồng cơm rau

 

Ba mơ ngày yên giặc

Đặt tên con HÒA BÌNH

Hòa bình đâu chẳng thấy

Thấy khổ sai nhục hình

 

Khoảnh khắc bốn mươi năm

Con thành công dân MỸ

Khốn khó bỏ sau lưng

Miền viễn tây hùng vỹ

 

Các con ngày mỗi lớn

Sống cuộc đời thảnh thơi

Nhớ tháng tư tang tóc

Di tản thuyền thay nôi

 

Ba mẹ ngày mỗi già

Theo nội ngoại không xa

Con còn một TỔ QUỐC

Bên kia giải ngân hà

 

Nhớ lời ba mẹ dặn

Sống phải biết cội nguồn

Con da vàng máu đỏ

Sữa mẹ nuôi lớn khôn

 

Nhớ lời ba mẹ dặn

Nhân loại một mái nhà

Gia tài con sẽ nhận

Sống TÂM ĐẠO mẹ cha

 

 

 blank

 


BẮT ĐẦU

Tặng niên trưởng Nguyễn Văn Xa*

 

Đến tận cùng mới thật sự bắt đầu

Khi bạn ta nằm im trong chòi xác

Ngực còn ấm hy vọng ngày họp mặt

Óc còn tươi mơ hạnh phúc gia đình

 

Bạn nằm im vĩnh biệt bạn bè thân

Bạn bè một thời nằm gai nếm mật

Bạn bè một thời chung lưng đấu cật

Nay chung tù, chung khổ nhục bên nhau

 

Đến tận cùng mới thật sự bắt đầu

Khi bạn ta nằm im trong bóng tối

Sự sống bắt đầu bằng bàn tay đồng đội

Bằng tình thương cứu sống Nguyễn Văn Xa

 

Bằng niềm tin thánh thiện bao la

Từ địa ngục bạn tìm về nguồn cội

Từ địa ngục bạn đến vùng đất mới

Và bắt đầu, thật sự của chúng ta

 

Đến tận cùng mới thật sự hiểu ra

Sự sống bắt đầu bằng hồi chuông báo tử

Sự sống bắt đầu trong buồng tim máu ứ

Vỡ tung thành đồi núi biển sông

 

Tim phổi còn tươi mặt đất ấm nồng

Bạn ta bắt đầu cõi về xa lạ

Đến tận cùng mới thật sự hiểu ra

Sự sống bắt đầu gọi tên Nguyễn Văn Xa

 

 

[*] Niên trưởng Nguyễn văn Xa chết hai lần tại Trại Tù Yên Bái miền Thượng du Bắc Việt, xác nằm trong chòi lá dưới chân đồi chờ sáng đem chôn. Bạn tù, một Bác Sĩ Quân Y/ QLVNCH, vô tình vào gặp rờ ngực thấy còn ấm làm hô hấp nhân tạo cứu sống ông . Lần thứ hai , xác ông cũng bị vứt trong chòi lá dưới chân đồi, đêm tỉnh lại ông bò lên đồi và được bạn tù khiêng vào trại cứu sống . Ông cùng gia đình qua Mỹ diện HO và hiện sống ở Nam California .

 

 

 blank

 

TIỄN BẠN

Tặng Vũ Uyên Giang

 

Đập vỡ ly tiễn bạn đêm nay

Rượu hòa máu hận thấm khăn tay

Bạn lên miền ngược nuôi mộng lớn

Ta cất lều tranh dưới tán cây

 

Bạn cười gằn thế sự đảo điên

Anh hùng mạt vận cố ngoi lên

Đập ly - ly vỡ đau lòng nước

Bỏ mặc trần gian một chiếc bàn

 

Bạn gửi ta bao cát biệt giam

Áo tù may ấm lạnh mười năm

Vợ con biết có còn lưu lạc

Cát bụi chung thân chọn chỗ nằm

 

Tặng bạn ba lô thời tử thủ

Băng rừng lội suối vượt trường sơn

Dường về ngắn nhất con đường cũ

Sông núi vùng lên lẽ sống còn

 

Ta bạn lính – tù chung số phận

Thịnh suy thành bại vẫn còn nhau

Nay xa mai gặp đâu là bến

Buồn nhớ sân ga trễ chuyến tàu

 

Mình ta ôm góc núi bơ vơ

Loay hoay vạch lá lối sương mờ

Đường về trăm nẻo mà ngăn cách

Có cách ngăn nào không ngẩn ngơ

 

Phát rẫy trồng rau nhổ sạch cỏ

Tóc râu tua tủa tựa người rừng

Chân tay mọc rễ vùng đất khổ

Khỉ vượn ôm con hú gọi đàn

 

Ta khắc lời thề trên thớ gỗ

Tháng tư ngày ấy bảy mươi lăm

Tháng tư hủy diệt đời trai trẻ

Huyệt mộ phơi sương trắng lăn trầm

 

Ngồi soi bóng suối đợi trăng lên

Sợ lâu ngày quên mất họ tên

Vọc nước mơ Vũ Môn cá vượt

Lều tranh đom đóm kết hoa đèn

 

Ta đốn rừng cây xây thành lũy

Dựng biên cương núi thẳm vực sâu

Mai kia thiên - địa - nhân tri kỷ

Ta bạn về đây ở tuyến đầu

 

Trần Văn Sơn
(tác giả gởi)



*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 49)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 147)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con
Sunday, April 25, 20218:02 AM(View: 258)
Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước
Tuesday, April 20, 202112:01 PM(View: 281)
Không một quan hệ thân xác nào chỉ hoàn toàn là thân xác. Trong khi bạn giao tiếp tình dục với người khác, sờ mó, hôn, làm tình, không chỉ hai cơ thể có dịp cọ xát với nhau mà còn có những tiếp xúc đụng chạm khác nữa: xúc cảm, sự đau đớn, sự hòa tan, hạnh phúc, sự tưởng tượng, những mối quan hệ trở nên bền chặt hơn hoặc trở nên rạn vỡ hơn. Truyền thống của người Việt Nam, cũng như của nhiều tôn giáo, đối lập đời sống nhục cảm và đời sống tinh thần, một bên thấp hèn, một bên cao quý. Trẻ em từ khi sinh ra đến trước tuổi trưởng thành rất dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với tình dục, chẳng thế mà Nguyễn Viện đã ghi rõ dưới nhan đề bài thơ của anh “không dành cho trẻ em dưới 18 tuổi”. Các nhà nghiên cứu nhân chủng học không ngớt ngạc nhiên phát hiện rằng đời sống của nhân loại đầy rẫy các yếu tố dục tính, tổ tiên chúng ta không hề ngượng ngùng khi đề cập đến sex trong văn hóa và nghệ thuật. Rõ ràng có một mối liên hệ mật thiết giữa tình dục và các huyền thoại và tôn giáo và những phẩm chất
Friday, April 16, 20217:34 AM(View: 405)
“Em và chị Như bị hiếp ba bốn chục lần, chúng đã ném chị Như xuống biển, vừa định bắt em theo thì có tàu hàng hải tiến gần nên tụi nó bỏ đi. Lên đảo em xin đi Na Uy chứ không đi Mỹ với anh Tuấn fiancé của em nữa.” Những dòng trên là lời của Phượng nói với Ngà ở trại ti nạn, được ghi lại nơi trang 87 trong tác phẩm Lênh Đênh, khi Phượng kể về chiếc ghe vượt biên gặp hải tặc. Và nơi trang 88, tác giả Lưu Na kể về thân phận người phụ nữ Việt: “Ngà biết từ đây cho đến chết Ngà sẽ không bao giờ trả lời câu hỏi mà tất cả những ai đi vượt biên đều hoặc hỏi thầm hoặc thốt thành câu: có “bị” hải tặc. Nói có là dối mà nói không có tội, tội với Phượng, tội với tất cả những người phụ nữ không may. Tự bao giờ cái may mắn của một vài cá nhân trở nên tội với những người thọ nạn? Người con gái Việt Nam da vàng, tất cả những người phụ nữ vượt biên — vết chàm đã khắc, màu chàm đã nhuộm, và anh Tuấn, tất cả những Tuấn chàng trai nước Việt, có còn cách nào khác hơn là chúng ta phải xa nhau, để ở