DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,217,528

Nhà thơ Thu Bồn

Thursday, September 8, 201112:00 AM(View: 27449)
Nhà thơ Thu Bồn

(BVN) - Dù đây là trang dành cho bạn bè xuất thân từ ngôi trường Trần Cao Vân - Nhưng nhìn vào cái chung, chúng ta còn có một quê hương lớn hơn là Tam Kỳ, Quảng Tín (Quảng Nam) - luôn luôn nối liền trong khúc ruột ngàn dặm của chúng ta. Nên BBT - BVN thấy cũng nên mở rộng cửa ngõ cho những bạn văn xuất thân từ đất Quảng thân yêu. Trân trọng. 


Thu Bồn


tb

Thu Bồn (1935-2003)


Nhà thơ Thu Bồn, tên thật là Hà Đức Trọng - sinh ngày 1 tháng 12 năm 1935 tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, mất ngày 17 tháng 6 năm 2003. Ngoài bút danh đặt theo tên dòng sông Thu Bồn quê hương, ông còn có các bút danh khác là Hà Đức Trọng, Bờ Lốc.


Các tác phẩm chính

  • Bài ca chim Chơ Rao (trường ca, 1962),
  • Tre xanh (thơ, 1965),
  • Mặt đất không quên (thơ, 1970),
  • Những đám mây mầu cánh vạc (tiểu thuyết 2 tập, 1975);
  • Oran 76 ngọn (trường ca, 1979),
  • Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985)
  • Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985)
  • Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992)...
  • Tôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999)
  • Trường ca tuyển tập (1999)
  • Gỡi lời con đến cùng cha.
  • Quê hương mặt trời vàng.



MẸ


tb1


Kính tặng hương hồn Mẹ

quê hương bỗng trở thành khoảng trống lặng im
đường không hoa không gió không chim
tất cả trở thành dĩ vãng
mẹ không còn nữa ở trên đời
mẹ không còn, buồm trắng dong khơi
không còn gì nữa hết
không còn cái chết
chẳng còn ai mỏi mắt đợi con về
con cò bay lạ lẫm cánh đồng quê
có phải nơi ngày xưa bàn tay mẹ cấy
nơi ngày xưa mẹ cho con nhìn thấy
một tình yêu chớm nở dưới trời xanh
con ngu si con không biết để dành
đem tiêu hết vào những ngày hư ảo
con đã giã trắng ngần hạt gạo
cho nước sông Tiền hòa với nước Mê Kông

con khôn lớn tự phía sông Hồng
nghe gió bấc nhớ manh mền manh chiếu
gió trở lạnh biết đời con sẽ thiếu
một tấm lòng che chở đến bao dung
gió nồm nam khe khẽ lá tơ rung
môi con hát mà giọng đầy nước mắt
thế kỷ chúng ta thế kỷ dài dằng dặc
niềm đau thương vì nỗi mẹ không còn.




Tạm biệt Huế



“Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn
Chống lại ngày ngày quên lãng
Mặt trời vàng và mắt em nâu

Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô

Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế mà đời không phải thế

Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

Nhịp cầu cong và con đường thẳng
Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu
Con sông dùng dằng con sông chảy ngược
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hoá đá phía bên kia”.

(Huế, 1980)

Con trở lại

con trở lại mảnh vườn xưa của mẹ
qua bao năm cỏ dại đã mọc đầy
chiếc hầm cũ xưa mặt trời thường đến ngủ
giờ đêm sâu thẳm tiếng côn trùng

xin chớ ngại lời đau rất vắn
đây trầu vàng quấn riết thân cau
mẹ nâng bát canh cua rau đắng
ngọt ngào xin gởi lại mai sau

bếp dã chiến chôn vùi bao ngọn khói
giờ tro than ta gởi lại những vùng đồi
tiếng vượn hú rất xa ngoài giấc ngủ
em thơ ơi! hãy thức dậy nhận quà

tiếng lá rụng màu thu rất khẽ
như niềm đau năm tháng sẽ đi qua.

(Quảng Nam 1987)

Những bài thơ mới cuối đời của Thu Bồn


Phan Đắc Lữ



“Nhịp cầu cong và con đường thẳng
Một đời anh đi mãi chẳng về đâu”

Hai câu thơ trên trong bài thơ “Tạm biệt Huế” được Thu Bồn sáng tác năm 1980, in trong tập “100 bài thơ tình nhớ em đặt tên” nghe có vẻ mâu thuẫn với cuộc đời và thơ anh – Cuộc đời và thơ của một người lính từng xông pha trong khói lửa chiến tranh. Nhưng nếu ai đã từng gần gũi, tâm sự với Thu Bồn và được đọc những bài thơ anh viết những năm sau cùng sẽ cảm nhận được hai câu thơ trên là một dự cảm linh nghiệm đầy hoài nghi và trăn trở của đời anh những năm cuối cùng.

Sau khi lên Tây Nguyên bị đột quỵ trở về, sức khỏe của anh không còn như trước nữa. Quanh quẩn một xó nhà, không còn được tung hoành đó đây làm cho anh phiền muộn. Thời gian này anh sáng tác ít, nhưng lúc nào anh cũng tâm niệm là phải làm một cái gì đó “để đời”. Một tác phẩm văn học vượt lên trên những cái đã có. Khác những cái đã có. Nhưng lực bất tòng tâm.

Những bài thơ anh viết trong ba năm trên giường bệnh, theo tôi đó là những bài thơ có thể “để đời” được trong lòng người đọc lâu dài. Những bài thơ do anh viết theo một phong cách khác trước; tứ thơ mới lạ, ý thơ dồi dào cảm xúc, lời thơ cô đọng, ít ngôn từ.

Khi nhận ra mình không thể chiến thắng với định mệnh; quỹ thời gian chẳng còn bao lâu nữa, trong bài thơ “Tự Bạch” anh thốt lên một cách buồn thương.

“Tôi đâu còn thời gian để giận hờn buồn tủi
trái tim này còn lại chút yêu thương”

Tâm hồn anh giằng co giữa quá khứ và hiện tại, giữa hư và thực: Anh “Đánh đu cùng Dâu Bể”. Những điều gì chưa hài lòng ở cuộc đời này anh lại đổ lỗi cho Thượng Đế.

“Thượng Đế của tôi ơi
Người khó tính nơi này
Người dễ chịu nơi kia”
(Tự Bạch)

Có thể đó là tính ẩn dụ trong thơ anh. Tính ẩn dụ trong thi ca cũng thuộc phạm trù của triết học. Tính triết học trong thi ca làm cho thi ca thêm sâu sắc, ấn tượng. Khi bước đến gần bờ hư vô, anh mới nhận ra những điều không thuận thảo trong quá khứ của đời anh.

“Đời là thơ
Thơ là đời
Nhưng có khóa
Bạn bè ơi hãy mở cánh tôi bay …”
(Tự Bạch)

Ít có nhà thơ nào làm cả 100 bài thơ tình tặng vợ và nhờ vợ đặt tên cho những bài thơ tình nồng nàn yêu thương đó. Và cũng hiếm có nhà thơ nào ở vào tuổi “cổ lai hy” làm thơ tình mượt mà, lãng mạn đến thế. Bài thơ “ Hát đi em” anh viết tặng Lý Bạch Huệ, khi chị đi biểu diễn dân ca bên Úc, đằm thắm mà nồng nàn:


“Căn phòng mình hồng lên
Khi em ngồi trang điểm
Ngoài kia sân khấu sáng bừng
Màn đã mở rồi em
Khúc đàn bầu réo rắt
Điệu dân ca em nhóm lửa phía chân trời“

Ý thơ rất mới lạ, tân kỳ, pha một chút siêu thực:

“Anh gói vần điệu câu thơ như gói bánh
Vo vầng trăng cho trong suốt những ngôn từ”

Trong bài thơ, anh cảm nhận về chiến tranh qua một lăng kính khác, một quan điểm khác có tính nhân văn hơn:

“Bên kia địa cầu em hát
Anh nghe đại dương sóng lặng
Làn điệu dân ca – sứ giả màu xanh
Hát nữa đi em xóa hết chiến tranh”

Ai cũng biết anh rất thiệt thòi về đường con cái: Hai đứa con trai với người vợ trước, sinh ra trong chiến tranh – một đứa đã mất, một đứa còn sống nhưng không đủ lớn khôn. Đó là điều bất hạnh nhất trong đời anh:

“Mười sáu trăng tròn lẻ
Có sớm quá không con
Chất độc da cam
Ba chôn sâu trong lòng đất
Kỷ niệm đau buồn cuộc chiến đấu của ba”

Vì thế, anh rất yêu trẻ. Tình thương yêu ấy anh đều dồn hết cho đứa cháu ngoại lên ba (con của con gái Lý Bạch Huệ). Hãy lắng nghe hai ông cháu thủ thỉ với nhau:

“Chiều nay bếp nhà mình không đỏ lửa
Nồi cơm không cười
Hoa cải lửa thôi bay
Ngoại nhớ lắm ngọn mồng tơi xanh mát
Rau cần rẽ trắng như râu ông già tuyết
Dền đỏ, dền xanh thơm phức bát rêu cua”

Bà ngoại đi vắng. Hai ông cháu ở nhà cùng chờ – ông chờ vợ, cháu chờ bà:

“Cuốc gọi bờ ao
sương mờ như khói
Cháu đứng chờ
bà ngoại chưa về đâu
Tội nghiệp cháu tôi
cứ khuỳnh chân tựa cửa
Để cây si trước nhà râu đỏ … lửa hoàng hôn”
(Chiều nay bếp nhà mình không đỏ lửa)

Là một nhà thơ, lúc về già ốm đau cảm thấy cô đơn; anh luôn luôn hướng tâm hồn mình quay về quá khứ với những hoài niệm về thời tuổi trẻ, về bạn bè, Trịnh Công Sơn mất anh thương tiếc khôn cùng:

“Trịnh Công Sơn ơi chiều nay tôi đến
Thiên kỷ đã giao thừa
Cuộc du ca đã đến hồi kết thúc
Ngày tiễn đưa Sơn có triệu bông hồng”

(Bông hồng lặng lẽ)


Nhà thơ có những phút xuất thần để viết nên những câu thơ tài hoa. Bài thơ “Ông Già và Biển” tứ thơ mới lạ, ý thơ độc đáo nhưng ngôn ngữ rất bình dị và trong sáng. Bài thơ như một ánh chớp lóa sáng lên trong đời thơ anh:

“Có một ông già ngồi múc nước Tiên Sa
Đổ vào thau chậu
Rồi sớm mai ông tắm
Sóng nước tự mình tạo ra
Lũ trẻ đi ngang qua hồn nhiên cười giỡn
Chúng có biết đâu núi Chúa ngắm Sơn Trà”

Hay:

“Xưa ông lái thuyền giờ ông lái sóng
Hai tay ghìm bờ cho bến bãi đừng trôi”
(Ông Già và Biển)

Còn một bài thơ nữa – Một bài thơ anh viết mà chưa kịp đặt tên, chỉ trước ngày anh mất độ mười hôm. Đó là khi anh biết chắc chắn rằng con đường trần ai của đời anh đã khép lại để bước sang cõi hư vô. Bài thơ như một lời trăn trối với vợ con, bạn bè nhân thế. Một lời giải bày đượm chất hiện sinh. Tôi không đủ lời để bình luận, chỉ xin chép nguyên văn ra đây để bạn đọc thưởng thức, chiêm nghiệm và cảm nhận rằng : hai câu thơ trong bài “Tạm biệt Huế” mà tôi đã nêu ở đầu bài nầy, làm cách nhau 23 năm, có phải là lời dự cảm buồn của một đời thơ tài hoa mà cũng nhiều trăn trở.

Bài thơ chưa đặt tên:

Về đi em chợ chiều sắp vãn
Nhớ mua cho anh một gói nhân tình
Non nước cách xa, bạn bè lận đận
Anh nằm đây trò chuyện với riêng mình
Giông bão đầy trời và chớp giật
Cứ vào đây soi sáng “cuộc trường chinh”
Em thân yêu thời gian còn đuổi kịp
Nếu không trọn đời cũng xin trọn kiếp
Làm sao mai thắp nến tiếp bình minh
(Viết ngày 1-6-2003)

Những bài thơ cuối đời của Thu Bồn có thể xem như một bước ngoặt trong đời thơ anh. Một di cảo thơ anh để lại cho mai sau. Ta có thể nói mà không sợ ngoa rằng: Thu Bồn là một trong những nhà thơ lớn của nền thi ca đương đại của Việt Nam.

Kỷ niệm 8 năm ngày mất của Nhà thơ Thu Bồn (17/6/2003 – 17/6/2011)


Phan Đắc Lữ



 

Reader's Comment
Thursday, October 6, 20117:00 AM
Guest
Whoa, whoa, get out the way with that good inforamiton.
Thursday, October 6, 20117:00 AM
Guest
One or two to reemmebr, that is.
Thursday, October 6, 20117:00 AM
Guest
Ho ho, who woudla thunk it, right?
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, February 24, 20207:33 AM(View: 20)
giọt mưa trinh nguyên. rơi xuống đôi vai gầy đạm bạc. bàn tay xa xưa. vuốt lưng trần người con gái thiết tha. có vạt nắng phôi pha. nói lời từ giã xuyên qua kẽ lá. biển đưa ta đi về bờ bến lạ (TA)
Saturday, February 22, 20206:39 PM(View: 57)
mơ nghiêng bóng núi trườn lên ngực. một thế kỷ dài ôm nỗi đau. thấy ra góc chật xanh xao đất. rừng rú vàng chút lá chia nhau. đêm nghe trăng khuyết chiêm bao cạn.
Friday, February 21, 20207:49 PM(View: 155)
Tự nghìn xưa...bao trăm năm ấy. Anh gặp em ở chốn vườn chim. Những con chim chào mào đưa đẩy. Hát vang lên tiếng gọi ơi mình. Tự nghìn xưa... cỏ hoa đua nở. Có mai, lan, cúc, trúc, khoe màu.
Thursday, February 20, 20203:47 PM(View: 100)
Cuối tháng giêng rồi phố vắng tanh. Đêm nghe gió động rít bên ngoài. Ngón tay truy cập tìm hơi ấm. Thế giới ảo buồn vọng cố nhân / Bạn báo trường xưa đã mất rồi. Một thời cả bọn học an vui. Nguyễn Du nơi chốn thân thương ấy. Chỉ còn đống gạch quá đau lòng.
Wednesday, February 19, 202012:34 PM(View: 82)
Em nhắn tôi về thăm Mỹ Tho. Bao năm chia cách góc trời xưa. Gót chân mòn mỏi đời phiêu bạt. Tính đến xuân nay biết mấy mùa. Nhớ hôm đưa tiễn chiều ly biệt.