DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,729,318

Lâm Vĩnh Thế - Nhận Định Và Đánh Giá Về Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (tiếp theo và hết)

05 Tháng Năm 20172:37 CH(Xem: 1622)
Lâm Vĩnh Thế - Nhận Định Và Đánh Giá Về Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (tiếp theo và hết)
Nhận Định Và Đánh Giá Về
Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu 



blank
 
(tiếp bài trước)

Ông đến Sài Gòn với tinh thần lạc quan đó. Nhưng mọi việc đã diễn ra không phải như ông mong đợi. Hai phái đoàn Hoa Kỳ và VNCH bắt đầu họp từ ngày 19-10-1972. Việc đầu tiên Kissinger làm là trình cho Tổng Thống Thiệu lá thư riêng của Tổng Thống Nixon viết cho ông, với nội dung chính là khuyên Tổng Thống Thiệu chấp nhận bản thỏa hiệp, trong đó có câu sau đây: “I believe we have no reasonable alternative but to accept this agreement.” 54 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: Tôi tin rằng chúng ta không có giải pháp nào hợp lý hơn là chấp nhận bản thỏa hiệp này”).  Ông Thiệu đọc xong không bình luận gì cả và bắt đầu phiên họp ngay.
Phía Hoa Kỳ gồm có: Cố Vấn Kissinger, Đại sứ Bunker và phụ tá là ông Charles Whitehouse, ông William Sullivan của Bộ Ngoại Giao, ông Winston Lord của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và thông dịch viên David Engel.  Phía VNCH gồm có: Tổng Thống Thiệu, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Ngoại Trưởng Trần Văn Lắm, Phụ Tá Đặc Biệt Nguyễn Phú Đức, ông Trần Kim Phượng, Đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ, ông Phạm Đăng Lâm, Trưởng Phái Đoàn VNCH tại Hòa Đàm Paris, và ông Hoàng Đức Nhã với tư cách thông dịch viên.  Sau khi nghe ông Kissinger trình bày về thỏa hiệp, phía VNCH đã đặt một số câu hỏi. Cuối phiên họp Tổng Thống Thiệu bảo ông Kissinger là phía VN cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng bản thỏa hiệp. Sáng ngày 21-10-1972, phía VNCH yêu cầu phía Hoa Kỳ sửa lại bản thỏa hiệp tất cả 23 chổ trong văn bản. Một phiên họp tại Dinh Độc Lập để thảo luận về 23 điểm này được ấn định vào lúc 2 giờ chiều.  Sau đó phiên họp được phía VNCH dời lại đến 5 giờ chiều mà không cho biết lý do.  Đến 5 giờ cũng không thấy động tịnh gì về phía VNCH cả. Đại sứ Bunker gọi điện thoại vào Dinh Độc Lập thì được báo cho biết là Tổng Thống Thiệu đang bận họp Hội Đồng Nội Các.  Nửa tiếng đồng hồ sau, ông Hoàng Đức Nhã gọi điện thoại đến báo cho phái đoàn Mỹ biết buổi họp đã được dời lại 8 giờ sáng hôm sau và sau đó cúp máy, không một lời giải thích.  Ngày hôm sau, Chúa Nhựt, 22-10-1972, lúc 8 giờ sáng, trong phiên họp chỉ có 4 người, Tổng Thống Thiệu và ông Hoàng Đức Nhã một bên, và Kissinger và Đại sứ Bunker một bên, Tổng Thống Thiệu cho biết ông không đồng ý rất nhiều điểm trong thỏa hiệp, nhưng quan trọng nhứt là 2 chuyện sau đây: 1) Bắc Việt không rút quân; và 2) Thành phần và hoạt động của HĐHGDT.   Ông cũng cho biết ông cần tham khảo Quốc Hội và chờ đợi báo cáo của các cố vấn của ông về phản ứng của Hoa kỳ đối với 23 điểm mà phía VNCH đã đề nghị sửa lại.  Và hẹn gặp lại Kissinger vào 5 giờ chiều để trả lời dứt khoát về bản thỏa hiệp.  Tại buổi họp lúc 5 giờ chiều, với thành phần giống như vào buổi sáng, Tổng Thống Thiệu, nói bằng tiếng Việt và ông Hoàng Đức Nhã dịch sang tiếng Anh, dứt khoát từ chối không ký thỏa hiệp.  Trong hồi ký của mình, Kissinger ghi lại là trong lúc trình bày, cả hai ông Thiệu và ông Nhã có lúc bật khóc.55 Mặc dù thất bại hoàn toàn trong việc thuyết phục Tổng Thống Thiệu, Kissinger vẫn giữ dự định ra Hà Nội để ký tắt thỏa hiệp với Bắc Việt, nhưng Tổng Thống Nixon không đồng ý56 và ra lệnh cho ông phải quay về Mỹ ngay.  Kissinger trở về Hoa Kỳ ngày 23-10-1972. Trước khi rời Sài Gòn, Kissinger đã đến Dinh Độc Lập gặp Tổng Thống một lần chót vào buổi sáng.  Phiên họp này diễn ra nhẹ nhàng hơn rất nhiều, nhưng Tổng Thống Thiệu vẫn khẳng định 3 điều: 1) Bắc Việt phải rút quân; 2) Khu Phi Quân Sự phải được tôn trọng; và 3) Thành phần của HĐHGDT phải được quyết định dựa trên kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý.  Kissinger hứa sẽ cố gắng thương thuyết trở lại với Bắc Việt những điểm này.  Chiều hôm đó Tổng Thống Thiệu ra trước lưỡng viện Quốc Hội, đọc một bài diễn văn (có trực tiếp truyền hình cho cả nước), trình bày mọi việc và được Quốc Hội hoan hô và ủng hộ rất mạnh. Phụ Tá Đặc Biệt Nguyễn Phú Đức đề nghị và Tổng Thống Thiệu đồng ý thực hiện: cử các cố vấn của ông đi trình bày và giải thích quyết định của Chính phủ VNCH cho các nước bạn và đồng minh trong vùng để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của họ đối với lập trường của VNCH về vấn đề hòa đàm.  Phụ Tá Nguyễn Phú Đức đi các nước Cam Bốt, Lào, Thái Lan, và Indonêxia. Đại sứ Trần Kim Phượng đi các nước Singapore, Mã Lai Á, Úc, và Tân Tây Lan.  Đại sứ Phạm Đăng Lâm đi các nước Phi Luật Tân, Đại Hàn, và Nhật Bản.57 
Về phía Bắc Việt, tức giận vì Kissinger không ra Hà Nội để ký kết thỏa hiệp như hai bên đã thỏa thuận, vào ngày 25-10-1972, đã đơn phương công bố toàn bộ bản thỏa hiệp mà hai bên đã đồng ý trước khi Kissinger đến Sài Gòn, nhằm gây bối rối và mất mặt cho Hoa Kỳ.  Kissinger phải họp báo ngay ngày hôm sau, 26-10-1972, để trả lời cho Hà Nội là phía Hoa Kỳ vẫn tôn trọng bản thỏa hiệp đã ký kết, và trong dịp này, ông đã phát biểu cái câu nổi tiếng là “Peace is at hand.” (Hòa bình trong tầm tay).  Ông cũng đề nghị hai bên trở lại bàn hội nghị để thảo luận những đề nghị sửa đổi của VNCH.   Ngày 4-11-1972, 3 ngày trước ngày bầu cử tổng thống của Hoa Kỳ, Bắc Việt đồng ý sẽ trở lại bàn hội nghị vào ngày 14-11-1972. 
Ngày 7-11-1972, Tổng Thống Nixon đã tái đắc cử nhiệm kỳ 2 với một đa số rất lớn (theo ngữ vựng chính trị của Hoa Kỳ, đây là một landslide victory ; phiếu dân bầu (popular vote): Nixon được 47.168.710 phiếu (60.7%), McGovern được 29.173.222 (37.5%); phiếu cử tri đoàn (electoral vote): Nixon được 520 phiếu, McGovern chỉ được 17 phiếu, vì Nixon thắng tại tất cả 49 tiểu bang, McGovern chỉ thắng ở 1 tiểu bang duy nhứt là Massachusetts, thành trì của phe phản chiến chủ hòa, và tại District of Columbia--DC tức là thủ đô, nơi đa số là dân da đen 58), đánh bại một cách rõ ràng ứng cử viên George McGovern của Đảng Dân Chủ chủ trương hòa bình bằng mọi giá và chấm dứt viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH.  Kết quả bầu cử cho thấy Tổng Thống Nixon đã nhận định rất đúng là việc ký kết thỏa hiệp với Bắc Việt trước cuộc bầu cử là hoàn toàn không cần thiết như sự tin tưởng của Kissinger, và dân chúng Hoa Kỳ không đồng ý hòa bình bằng mọi giá và bỏ rơi VNCH.  Tuy nhiên, việc thắng cử vẻ vang của cá nhân ông Nixon vẫn không giúp Đảng Cộng Hòa chiếm được đa số tại Quốc Hội (Hạ Viện: Dân Chủ 242, Cộng Hòa 192; Thượng Viện: Dân Chủ 56, Cộng Hòa 42).  Chính vì đảng đối lập Dân Chủ vẫn còn nắm được đa số tại Quốc Hội, Tổng Thống Nixon nghĩ rằng cần phải ký thỏa hiệp với Bắc Việt càng sớm càng tốt.
Ngày hôm sau, 8-11-1972, Bắc Việt yêu cầu dời ngày họp lại đến ngày 20-11-1972 với lý do là Lê Đức Thọ bị bịnh.  Ngày hôm sau, 9-11-1972, Hoa Kỳ đồng ý, và việc hòa đàm tại Paris tiếp tục trở lại vào ngày 20-11-1972. 
Để chuẩn bị cho phiên họp ngày 20-11 này, Tướng Haig lại được cử sang Sài Gòn.  Ngày 10-11, mở đầu phiên họp ở Đinh Độc Lập, Tướng Haig trình Tổng Thống Thiệu một văn thư đề ngày 8-11 của Tổng Thống Nixon gửi cho ông. Bức thư dài 4 trang hứa hẹn sẽ điều chỉnh lại bản thỏa hiệp theo những đòi hỏi của VNCH nhằm thuyết phục Tổng Thống Thiệu chấp nhận bản thỏa hiệp, đồng thời cũng hàm ý đe dọa nếu Tổng Thống Thiệu tiếp tục chống đối.  Ở trang 3 của bức thư có đoạn ghi khá rõ như sau: “The other alternative would be for you to pursue what appears to be your present course.  In my view this would play into the hands of the enemy and would have extremely grave consequences for both our peoples and it would be disaster for yours.” 59 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Giải pháp kia sẽ là việc Ngài tiếp tục đường lối hiện nay của Ngài.  Theo cách nhận định của tôi làm như vậy là rơi vào bẫy của kẻ thù và sẽ mang lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho cả hai dân tộc chúng ta, và đó sẽ là tai họa cho dân tộc của Ngài”). Sau khi Tổng Thống Thiệu đọc xong văn thư này, Tướng Haig trình bày ngay thời khóa biểu của phái đoàn Hoa Kỳ tại hòa đàm như sau: 
Từ ngày 20 đến cuối tháng 11, hội đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ tại Paris
Ngày 1 và 2 tháng 12 Kissinger sẽ đến Sài Gòn để làm việc với Chính phủ VNCH
Ngày 3-12 Kissinger sẽ ra Hà Nội để ký tắt thỏa hiệp
Ngưng bắn sẽ có hiệu lực từ ngày 10-12
Thỏa hiệp sẽ được Ngoại Trưởng các nước chính thức ký kết tại Paris ngày 13-12 
Và nói thêm như sau: “If you go your separate way, we can manage the difficulty, but for you it will be fatal.” 60(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Nếu quý vị không đi cùng chúng tôi, chúng tôi sẽ có cách giải quyết chuyện khó khăn đó, nhưng đối với quý vị thì đó là con đường chết của quý vị”). 
Như vậy, tình hình hòa đàm vẫn y như cũ, đâu có khác gì nhiều lắm, so với tình hình đã xảy ra trong tháng 10 vừa qua. Hoa Kỳ đã quyết định sẽ ký kết thỏa hiệp rồi, ngay trước khi hòa đàm tiếp tục lại.  Những hứa hẹn sẽ tìm cách thay đổi bản dự thảo thỏa hiệp theo những yêu cầu của phía VNCH chỉ là những lời hứa mà chính Hoa Kỳ cũng không tin tưởng sẽ đạt được.  Hơn ai hết, Tổng Thống Thiệu đã thấy rõ việc này, nhưng ông nghĩ cứ còn nước còn tát, và vì hoàn toàn không còn có thể tin cậy được Kissinger nữa, ông quyết định cử Phụ Tá Đặc Biệt Nguyễn Phú Đức thay mặt ông điều đình trực tiếp với Tổng Thống Nixon. Đây là một bước đi có tính toán và tình cờ lại rất đúng lúc của Tổng Thống Thiệu. Đúng lúc vì vào lúc bấy giờ mối quan hệ mật thiết giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn Kissinger đã bắt đầu có sự rạn nứt. Trước đây Nixon gần như khoán trắng cho Kissinger trong vụ Hòa Đàm Paris, mặc dù có những vụ việc ông không đồng ý với Kissinger nhưng ông vẫn lờ đi, không nói ra, ví dụ như ông nhận định là không cần thiết phải ký kết thỏa hiệp với Bắc Việt trước ngày bầu cử (7-11) như Kissinger tin tưởng.  Nhưng rồi ông nhận thấy Kissinger bắt đầu đi quá đà khi Kissinger trả lời nữ phóng viên Ý Oriana Fallaci trong một cuộc phỏng vấn như sau: “Americans like the cowboy … who rides all alone into the town, the village, with his horse and nothing else … This amazing, romantic character suits me precisely because to be alone has always been part of my style or, if you like, my technique.” 61(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Người Mỹ thích chàng cao bồi … một mình cỡi ngựa vào thị trấn, vào làng, chỉ với con ngựa của mình mà thôi … Cái nhân vật lạ lùng, lãng mạn đó thích hợp với tôi chính vì hành động đơn độc bao giờ cũng là cách làm của tôi, hay nếu cô thích, là phương pháp của tôi”).  Kiểu nói này hàm ý Kissinger mới chính thật là nhân vật trung tâm của mọi việc chứ không phải Tổng Thống Nixon. Nixon cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. Ngày 19-11, khi Kissinger lên đường đi Paris để mật đàm với Lê Đức Thọ, Nixon không đưa tiễn mà chỉ gọi điện thoại từ văn phòng ông.  Khi Tổng Thống Thiệu ngỏ ý muốn cử Phụ Tá Nguyễn Phú Đức sang gặp ông, ông nhận lời ngay.  Ông Đức đến Paris trước để gặp phái đoàn VNCH cũng như phái đoàn Mỹ để nắm tình hình đàm phán. Trong thời gian ông đang ở Paris, Tổng Thống Thiệu cử Hoàng Đức Nhã đích thân mang một thư rất dài sang cho ông Đức với những chỉ thị mới.  Sau khi được dịch sang Anh ngữ, bức thư dài đến 24 trang.  Ngày 28-11-1972, ông Đức rời Paris lên đường đi Washington. Trong thời gian này, Kissinger đã có thêm 2 buổi họp với Lê Đức Thọ vào ngày 20-11 và 25-11 nhưng đều không có tiến triển vì Bắc Việt bác bỏ tất cả những đòi hỏi thay đổi quan trọng trong bản dự thảo thỏa hiệp của VNCH.  Nixon ra lệnh cho Kissinger trở về Mỹ. 
Ngày 29-11-1972, ông Đức cùng với Đại sứ Trần Kim Phượng được Tổng Thống Nixon tiếp kiến tại Tòa Bạch Ốc, trong Phòng Bầu Dục (Oval Office), có sự hiện diện của Kissinger và Tướng Haig.  Cố Vấn Đức trình lên Tổng Thống Nixon bức thư dài 24 trang của Tổng Thống Thiệu, và sau đó giải thích từng điểm trong bức thư, đặc biệt chú trọng vào 2 điểm chính: 1) Việc đòi hỏi Bắc Việt phải rút quân, và 2) Vấn đề HĐHGDT và thành phần cấu tạo của HĐ.  Tổng Thống Nixon có vẻ đồng tình và ông chỉ thị ngay cho Kissinger phải tìm mọi cách cải thiện bản dự thảo thỏa hiệp về 2 điểm đó. Sau đó, ông nói rõ quan điểm của ông về thỏa hiệp như sau: “The agreement is just a piece of paper.  What counts is our determination to support you.” 62 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thỏa hiệp chỉ là một mảnh giấy mà thôi.  Điều quan trọng là sự quyết tâm của chúng tôi trong việc hỗ trợ các ông”). Và ông nói rõ những cam kết của ông như sau: 
Viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH sau khi ký thỏa hiệp
Không Quân Hoa Kỳ đóng tại Thái Lan và trên các hàng không mẫu hạm sẽ oanh tạc trở lại nếu tình báo Hoa Kỳ phát hiện phe Cộng sản vi phạm thỏa hiệp
Giữ vững lập trường ủng hộ Tổng Thống Thiệu
Hoa Kỳ đã có những thỏa thuận với Liên Xô và Bắc Kinh về các giới hạn viện trợ cho Bắc Việt 
Ngày hôm sau, 30-11-1972, trong phiên họp với Cố Vấn Nguyễn Phú Đức, khi được ông Đức hỏi về vấn đề Bắc Việt rút quân thì Kissinger nói thẳng là không thể nào có được điều đó trong bản thỏa hiệp.63 Trước tình hình gần như bế tắc này, Phụ Tá Đức đã đề nghị với Kissinger là Hoa Kỳ có thể ký kết riêng rẽ với Bắc Việt để rút quân và mang tù binh về. VNCH cam kết sẽ thả 10.000 tù binh Cộng sản để đánh đổi cho việc Bắc Việt chịu thả tất cả tù binh Mỹ. Sau đó VNCH sẽ tiếp tục đàm phán với Bắc Việt và MTGPMN về những vấn đề chính trị của Miền Nam. Kissinger báo cáo lại đề nghị này của ông Đức và Tổng Thống Nixon lại có thêm một phiên họp nữa với Phụ Tá Đức trong cùng ngày. Sau khi nghe ông Đức trình bày về đề nghị này, Tổng Thống Nixon cho biết là ông đã tham khảo các Dân Biểu và Thượng Nghị Sĩ, thuộc phe diều hâu (tức là những người ủng hộ VNCH), thành viên của hai Ủy Ban Quân Vụ (Armed Forces Committee) của cả Thượng Viện và Hạ Viện, và tất cả đã đồng thanh chấp thuận bản thỏa hiệp rồi.  Nếu VNCH không cùng ký kết với Hoa Kỳ thì Quốc Hội sẽ chấm dứt mọi viện trợ. Ông nói rõ như sau: “I hope that we shall go forward together, then you will have economic and military assistance.  Please convey this to President Thieu, what counts is U.S. alliance.  I can make that commitment.” 64 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Tôi hy vọng chúng ta sẽ cùng đi với nhau, như vậy các ông sẽ có được viện trợ kinh tế và quân sự.  Xin ông trình lại với Tổng Thống Thiệu điều này: chuyện quan trọng là liên minh của Hoa Kỳ.  Tôi có thể cam kết điều đó”). Sau đó Tổng Thống Nixon yêu cầu Phụ Tá Đức cho Kissinger biết những điều ưu tiên mà VNCH muốn Hoa Kỳ thảo luận với Bắc Việt tại các buổi họp trong đợt hòa đàm kế tiếp.  Ông Đức cho biết ngoài vấn đề rút quân của Bắc Việt, VNCH chống lại việc xem như có hai chính phủ tại Miền Nam, và, do đó, không chấp nhận việc sử dụng danh xưng Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) thay cho Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc, và VNCH cũng chống lại việc HĐHGDT gồm có 3 thành phần ngang nhau.  Ngày hôm sau, 1-12-1972, ông Đức làm việc với Kissinger về những vấn đề chi tiết và cụ thể của thỏa hiệp, như vấn đề ngưng bắn tại chỗ, vấn đề Lào và Campuchia, vv. Ngày 2-12-1972, Phụ Tá Đức rời Washington về Sài Gòn. 
Ngày 3-12-1972, trong phiên họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (HĐANQG) tại Dinh Độc Lập dưới sự chủ tọa của Tồng Thống Thiệu, Phụ Tá Đức phúc trình lại mọi diễn tiến trong các phiên họp tại Washington của ông với Tổng Thống Nixon và Cố Vấn Kissinger.  Cuối phiên họp, khi được Tổng Thống Thiệu hỏi ý kiến cá nhân của ông, ông trả lời ngay là nếu ký thỏa hiệp, với các điều khoản ngay lúc đó, thì Miền Nam sẽ mất. Trong cuốn hồi ký, ông ghi như sau: “President Thieu asked me this basic question: Do you think that we should sign this Agreement?  I replied: In my judgment, if we sign the Agreement, as it is, South Vietnam will be lost.” 65 (Xin tam dịch sang Việt ngữ như sau: “Tổng Thống Thiệu hỏi tôi câu hỏi căn bản: Anh nghĩ chúng ta có nên ký Thỏa hiệp này hay không? Tôi trả lời: Theo nhận định của tôi, nếu chúng ta ký Thỏa hiệp này, như trong tình trạng hiện nay, Miền Nam sẽ mất”).Tổng Thống Thiệu và toàn thể HĐANQG cùng đồng ý với quan điểm này. 
Trong thời gian này Hoa Kỳ và Bắc Việt trở lại bàn hội nghị từ ngày 4-12-1972 nhưng hội nghị không có tiến triển gì cả vì Bắc Việt bác bỏ tất cả những đòi hỏi thay đổi bản thỏa hiệp của Kissinger dựa trên các yêu cầu của VNCH.  Ngày 17-12-1972, Tổng Thống Nixon ra lệnh tái phong tỏa hải cảng Hải Phòng và tái oanh tạc Bắc Việt, và, đặc biệt trong lần này, lần đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam, Hoa kỳ cho phi cơ B-52 trải thảm Hà Nội.  Chiến dịch này được đặt tên là Linebacker II, thực hiện trong thời gian từ 18 đến 29 tháng 12 năm 1972, thường được báo chí và sách vở Mỹ gọi là “The Christmas Bombing” (Chiến Dịch Oanh Tạc Mùa Giáng Sinh). 
Ngày 19-12-1972, Tổng Thống Nixon cử Tướng Haig sang Sài Gòn, mang theo một bức thư của ông đề ngày 17-12-1972 gửi Tổng Thống Thiệu với lời lẻ vô cùng cứng rắn, gần như là một tối-hậu-thư.  Trong hồi ký của ông, Tổng Thống Nixon ghi rõ như sau: “Haig arrived in Saigon on December 19, carring the strongest letter I had yet written to Thieu.  In it I stated: “General Haig’s mission now represents my final effort to point out to you the necessity for joint action and to convey my irrevocable intention to proceed, preferably with your cooperation but, if necessary, alone… I have asked General Haig to obtain your answer to this absolutely final offer on my part for us to work together in seeking a settlement along the lines I have approved or to go our separate ways.”” 66 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Haig đến Sài Gòn ngày 19-12, mang theo bức thư với lời lẽ mạnh mẽ nhứt mà tôi từng viết cho ông Thiệu.  Trong đó tôi nói rõ: “Sứ mệnh của Tướng Haig lần này thể hiện cố gắng cuối cùng của tôi để nói rõ với Ngài sự cần thiết phải hành động chung và thông báo cho Ngài cái ý định không thể đảo ngược của tôi là tôi sẽ tiến tới thỏa hiệp, tốt nhứt là với sự hợp tác của ngài, nhưng, nếu cần thiết, thì tôi sẽ tiến hành một mình.  Tôi đã chỉ thị cho Tướng Haig phải nhận được sự trả lời của Ngài về đề nghị tuyệt đối cuối cùng này của tôi nhắm tới hoặc là mình cùng cộng tác để mưu tìm một sự thỏa hiệp dựa trên những đường lối mà tôi đã chấp nhận hoặc là đường ai nấy đi”). Trước tình hình nghiêm trọng do bức “tối hậu thư” này tạo ra, Tổng Thống Thiệu triệu tập ngay một phiên họp của HĐANQG, lần này được mở rộng với sự tham gia của các vị đứng đầu của cả hai ngành Lập Pháp và Tư Pháp: đó là các ông Nguyễn Văn Huyền, Chủ Tịch Thượng Viên, ông Nguyễn Bá Cẩn, Chủ Tịch Hạ Viện, và Thẩm Phán Trần Văn Linh, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện.67 
Mặc dù văn thư của Tổng Thống Nixon mang tính cách gần như là một tối-hậu-thư, Tổng Thống Thiệu không tin là Nixon có thể tiến hành ký kết riêng rẽ với Bắc Việt nên, sau buổi họp của HĐANQG, ông vẫn yêu cầu Phụ Tá Đức soạn văn thư đề ngày 20-12-1972 trả lời thư ngày 17-12-1972 của Tổng Thống Nixon.  Văn thư này mở đầu bằng tóm lược lại 3 đòi hỏi căn bản của VNCH về: 1) Việc Bắc Việt phải rút quân, 2) Không công nhận cái gọi là CPCMLTCHMNVN, và 3) Thành phần và nhiệm vụ của HĐHGDT cho thấy HĐHGDT chỉ là một chính phủ liên hiệp trá hình.  Sau đó, văn thư đề nghị VNCH sẵn sàng chấp nhận bản thỏa hiệp của ngày 12-12-1972 nếu 2 yêu cầu sau đây được giải qujyết: 1) Không được xem CPCMLTCHMNVN như một chính quyền song song với Chính phủ VNCH tại Miền Nam, và 2) Bắc Việt phải rút hết quân về trong cùng thời gian với quân các nước đồng minh của VNCH.  Sau cùng, bức thư kết luận: “I must say the South Vietnamese Government and people absolutely cannot go beyond these new important concessions, because otherwise it would be tantamount to surrender.” 68 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Tôi phải nói rằng Chính phủ và nhân dân Miền Nam tuyệt đối không thể đi xa hơn những nhượng bộ mới và quan trọng này, vì làm khác đi thì coi như là đầu hàng”). 
Trong thời gian này, Chiến dịch Linebacker II, tuy có gây thiệt hại bất ngờ cho Hoa Kỳ là có tất cả 15 phi cơ B-52 bị bắn rơi, một điều chưa bao giờ xảy ra cho không lực Hoa Kỳ, đã gây tổn thất rất nghiêm trọng cho Bắc Việt, cả về phương diện cơ sở vật chất và về phương diện tinh thần đối với dân chúng thủ đô Hà Nội.  Trong một thời gian rất ngắn, chỉ có 11 ngày (trừ 1 ngày duy nhứt là ngày Lễ Giáng Sinh, 25-12-1972), Hoa Kỳ đã thực hiện 741 phi vụ B-52 và 1.274 phi vụ của các chiến đấu cơ thuộc Không Quân và Hải Quân để yểm trợ cho B-52 (kể cả phi cơ F-111 là loại tối tân nhứt tại thời điểm này), và đã ném một số lượng bom lên đến 20.237 tấn,69 gây kinh hoàng cho dân chúng thủ đô Hà Nội.  Về phía Bắc Việt, lực lượng phòng không đã bắn trên 1.000 hỏa tiễn SAM (Surface-to-Air Missiles = hỏa tiễn địa-không) nhờ vậy đã hạ được một số lượng đáng kể phi cơ B-52 vốn bay ở không độ rất cao (nhờ vậy trong bao nhiêu năm thực hiện các phi vụ oanh tạc chiến thuật ở Miền Nam –và gây kinh hoàng cho bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng-- chưa bao giờ có một B-52 nào bị bắn rơi cả). Ngày 28-12-1972, Bắc Việt đồng ý sẽ tiếp tục hòa đàm trở lại vào hai ngày 2-1 và 8-1-1973. Vào lúc 7 giờ tối ngày 29-12-1972, Chiến dịch Linebacker II chính thức chấm dứt. 
Ngày 2-1-1973, một ngày trước khi Quốc Hội Hoa Kỳ tái nhóm, các Dân Biểu thuộc khối Dân Chủ (Hạ Viện) biểu quyết với tỷ số 154/75 đồng ý sẽ cắt hết viện trợ quân sự cho Việt Nam ngay sau khi đạt được thỏa hiệp rút quân và mang tù binh Mỹ về.  Ngày 4-1-1973, một ngày sau khi Quốc Hội tái nhóm, Thượng Nghị SĨ Edward Kennedy đề nghị một nghị quyết tương tự cho khối Dân Chủ tại Thượng Viện và nghị quyết được thông qua với tỷ số 36/12.  Trước tình hình như vậy, cả Tổng Thống Nixon và Cố Vấn Kissinger đều thấy cần phải tiến hành ký kết thỏa hiệp với Bắc Việt ngay trước khi việc ủng hộ VNCH tại Quốc Hội tan thành mây khói.
Nhằm chuẩn bị cho việc tái nhóm của Hòa đàm Paris vào ngày 8-1-1973, ngày 5-1-1973, Nixon lại gửi thêm một thư nữa cho Tổng Thống Thiệu với lời hứa sẽ đặt lại vấn đề rút quân của Bắc Việt nhưng ông tin là Bắc Việt cũng sẽ lại bác bỏ nữa, và ông cũng hứa là, nếu VNCH đồng ý ký kết thỏa hiệp thì sau này nếu Bắc Việt vi phạm thỏa hiệp, ông sẽ trả đũa quyết liệt với tất cả sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ.  Nguyên văn Anh ngữ trong văn thư như sau: “With respect to the question of North Vietnamese troops, we will again present your views to the Communists as we have done vigorously at every other opportunity in the negotiations.  The result is certain to be once more the rejection of our position… Should you decide, as I trust you will, to go with us, you have my assurance of continued assistance in the post-settlement period and that we will respond with full force should the settlement be violated by North Vietnam.” 70 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Về vấn đề quân Bắc Việt, chúng tôi sẽ lại trình bày quan điểm của Ngài cho phe Cộng Sản như chúng tôi đã từng làm một cách mạnh mẽ mổi khi có cơ hội tại hòa đàm.  Kết quả chắc chắn là họ sẽ lại bác bỏ lập trường này của chúng ta nữa… Nếu như Ngài quyết định, như tôi tin là Ngài sẽ làm, đi cùng chúng tôi, Ngài sẽ có được sự bảo đảm của tôi về vấn đề tiiếp tục viện trợ sau khi ký kết, và, nếu Bắc Việt vi phạm ký kết này, chúng tôi sẽ trả đũa với tất cả sức mạnh”). Nhận được thư này, Tổng Thống Thiệu trả lời ngay bằng văn thư đề ngày 7-1-1973, giữ nguyên lập trường của mình trong văn thư ngày 20-12-1972, và nhấn mạnh rằng những điều kiện đó là những vấn đề sống chết của Miền Nam. 
Ngày 8-1-1973, Hòa đàm Paris tái nhóm. Ngày đầu tiên không có kết quả gì cả.  Ngày thứ nhì, 9-1-1973, hai bên đồng ý sử dụng bản dự thảo của ngày 23-12-1972 làm căn bản để thảo luận thêm một số chi tiết.  Vấn đề rút quân của Bắc Việt hoàn toàn bị loại bỏ, không được đề cập đến nữa.  Chỉ có 2 vấn đề chính sau đây được thảo luận và đi tới đồng thuận: 1) vấn đề Vùng Phi Quân Sự hai bên vĩ tuyến thứ 17 (VPQS, DMZ = Demilitarized Zone); và 2) vấn đề CPCMLTCHMNVN.  Về vấn đề VPQS, Bắc Việt đồng ý chấp nhận công thức mà Kissinger đã đề nghị vào tháng 12-1972: hai miền Nam Bắc tiếp tục tôn trọng VPQS nhưng sẽ tiến hành thương thuyết về việc cho phép những di chuyển dân sự xuyên qua VPQS.  Về vấn đề CPCMLTCHMNVN, để thỏa mãn đòi hỏi của VNCH, được giải quyết bằng hai cách: 1) Danh xưng CPCMLTCHMNVN chỉ được ghi trong phần mở đầu (preamble), hoàn toàn không có ghi trong phần chính của bản thỏa hiệp; 2) Trong phần chữ ký, phe Cộng sản, tức Bắc Việt và CPCMLTCHMNVN sẽ ký chung trong một trang, và phe Tự Do, tức Hoa Kỳ và VNCH, sẽ ký chung trong một trang khác.  Ngày 13-1-1973, hai bên hoàn toàn đồng ý với nhau về mọi điều khoản trong bản thỏa hiệp cũng như thủ tục ký kết bản thỏa hiệp. 
Ngày 14-1-1973, Tổng Thống Nixon gửi thêm một văn thư nữa cho Tổng Thống Thiệu và lần này cũng lại do chính Tướng Haig mang sang.  Trong thư, Nixon nói rõ ông đã quyết định sẽ ký bản thỏa hiệp vào ngày 27-1-1973, và, nếu cần, Hoa Kỳ sẽ ký một mình; trong trường hợp này ông sẽ công khai tuyên bố là Chính phủ VNCH đã cản trở hòa bình; và, để phía VNCH dễ dàng chấp nhận cùng ký vào bản thỏa hiệp, ông cũng lại hứa, sẽ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH, và, nếu, Bắc Việt vi phạm thỏa hiệp, ông sẽ trả đũa mạnh mẽ. Nguyên văn Anh ngữ trong văn thư như sau: “I have therefore irrevocably decided to proceed to initial the Agreement on January 23, 1973 and to sign it on January 27 in Paris.  I will do so, if necessary, alone.  In that case I shall have to explain publicly that your Government obstructs peace.”71 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Do đó tôi đã dứt khoát quyết định tiến hành ký tắt bản Thỏa Hiệp vào ngày 23 Tháng Giêng năm 1973 và ký chính thức vào ngày 27 Tháng Giêng tại Paris.  Nếu cần, tôi sẽ làm điều đó một mình. Trong trường hợp đó, tôi sẽ phải giải thích một cách công khai là Chính phủ của Ngài cản trở hòa bình”). Tổng Thống Thiệu vẫn không chịu nhượng bộ ngay; ông lại gửi thêm một văn thư nữa cho Tổng Thống Nixon đề ngày 17-1-1973, yêu cầu điều chỉnh lại các điều khoản về VPQS, về vấn đề quân Bắc Việt tại Miền Nam, và về vai trò của ủy hội kiểm soát đình chiến.  Lần này Tổng Thống Nixon không nhượng bộ nữa, ông trả lời ngay cùng ngày, nhắc lại tất cả các điểm trong văn thư ngày 14-1, và yêu cầu Tổng Thống Thiệu trả lời văn thư này chậm nhứt là vào sáng ngày 20-1-1973 (ngày ông sẽ tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2).  Tổng Thống Thiệu vẫn chưa chịu chấp nhận, lại gửi thêm một văn thư nữa đề ngày 20-1-1973 trong đó ông đề nghị một vài phương cách để giải quyết vấn đề quân Bắc Việt tại Miền Nam.  Ngày hôm sau, 21-1-1973, Tổng Thống Nixon gửi cho Tổng Thống Thiệu một công điện trong đó ông nói rõ là không còn thời gian để cứu xét bất cứ đề nghị nào của VNCH nữa hết, và yêu cầu Tổng Thống Thiệu, nếu đồng ý cùng ký kết với Hoa Kỳ, phải trả lời trước 12 giờ trưa, ngày 21-1-1973, giờ Washington, Hoa Kỳ, tức là vào sáng sớm ngày 22-1-1973, giờ Sài Gòn, Việt Nam.72  Lần này thì Tổng Thống Thiệu đã hiểu quá rõ là ông không còn có cách nào khác hơn là phải đồng ý ký vào Thỏa Hiệp Paris mà thôi, nghĩa là ông phải làm cái chuyện mà ông đã không muốn làm trước đây, khi ông nói với Tướng Haig vào ngày 19-12-1972 sau khi đọc xong thư của Tổng Thống Nixon đề ngày 17-12-1972 là các ông muốn tôi ký thỏa hiệp không phải vì hòa bình mà chỉ là để tiếp tục nhận được viện trợ của Hoa Kỳ.  Trong cuốn hồi ký của mình, Tổng Thống Nixon đã ghi lại rõ chuyện này như sau: “After Thieu had read the letter through twice, he looked up and said that it was obvious that he was not being asked to sign an agreement for peace but rather an agreement for continued American support.  Haig replied that as a soldier and as someone completely familiar with Communist treachery, he agreed with Thieu’s assessment.”73(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Sau khi đọc hết bức thư hai lần, ông Thiệu ngước lên và nói [với Tướng Haig] là rõ ràng ông ta được yêu cầu ký một bản thỏa hiệp không phải vì hòa bình mà đúng ra là một thỏa hiệp để tiếp tục được Hoa Kỳ viện trợ.  Haig trả lời rằng với tư cách một quân nhân và một người hoàn toàn quen thuộc với sự dối trá của Cộng sản ông đồng ý với đánh giá của ông Thiệu”). 
Kết luận cho mục Hòa đàm Paris: Tuy thất bại, không đạt được mục tiêu của Hòa Đàm là buộc Bắc Việt phải rút quân, nhưng Tổng Thống Thiệu đã cố gắng làm hết mọi cách trong bối cảnh cực kỳ khó khăn đó để bảo vệ quyền lợi của VNCH.  Điểm C
Trong Lãnh Vực Quân Sự 
Có thể nói QLVNCH đã trưởng thành vượt bậc trong thời gian của nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Khi được thành lập vào năm 1950, với quân số chỉ vào khoảng 60.000, lực lượng này mang tên là Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Trong thời gian Đệ Nhứt Cộng Hòa (1955-1963), lực lượng được cải danh thành Quân Đội VNCH.  Từ 1965 trở đi chính thức mang tên QLVNCH, và vào năm 1970, với sự trợ giúp rất tích cực của Hoa Kỳ, có một quân số lên đến trên 1 triệu người, với đầy đủ tất cả các quân binh chủng trang bị rất tối tân, gần như rập khuôn theo quân đội Mỹ, để có thể đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lăng do Bắc Việt phát động với viện trợ quân sự rất lớn lao của khối Cộng Sản mà quan trọng nhứt là từ Liên Xô và Trung Cộng.  QLVNCH trở thành một niềm tự hào của Miền Nam nhưng cũng trở thành một con dao hai lưỡi cho sự an nguy của Miền Nam.  Nó đã có thể giúp VNCH đương đầu một cách hiệu quả với những sư đoàn tinh nhuệ trang bị vũ khí hiện đại của phe Cộng sản từ Miền Bắc xâm nhập vào trong hai cuộc Tổng Tấn Công vào năm 1968 và 1972, nhưng cũng chính vì không còn nhận được đầy đủ quân viện để chi cho hoạt động của nó mà Miền Nam đã sụp đổ một cách thảm hại trong một thời gian ngắn kỷ lục, chỉ có 44 ngày.   
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là vị Tổng Thống hội đủ điều kiện nhứt để đảm nhận vai trò hiến-định Tổng Tư Lệnh tối cao của QLVNCH (Điều 60, Hiến Pháp 1967), với những lý do sau đây:
 Ông là một Tướng lãnh cao cấp của QLVNCH, mang cấp bậc Trung Tướng 3 sao
So với phần đông các tướng lãnh cùng thời, không những ông có thâm niên hơn họ (ngay cả đối với Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, thăng cấp Thiếu Tướng ngày 3-3-1964, trong khi ông Thiệu đã thăng cấp Thiếu Tướng từ ngày 2-11-1963), mà, trong một số trường hợp, ông còn từng là cấp chỉ huy trực tiếp của họ (như các vị Trung Tướng Đặng Văn Quang, Nguyễn Bảo Trị, và Vĩnh Lộc)
Ông đã từng chỉ huy các đơn vị quân đội ở nhiều cấp, kể cả Tư Lệnh Sư Đoàn và Tư Lệnh Quân Đoàn 
Người viết sẽ trình bày những nhận định và đánh giá Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về phương diện quân sự trong khía cạnh điều hành cuộc chiến tranh, đặc biệt chú trọng vào giai đoạn cuối 1974 và đầu 1975.               
Từ năm 1969 trở đi, Tổng Thống Thiệu, lấy tư cách Tổng Tư Lệnh tối cao của QLVNCH theo Hiến Pháp, nắm hết quyền hành về quân sự, ra lệnh trực tiếp cho các vị tư lệnh của các quân đoàn và các đại đơn vị, không thông qua Bộ Tổng Tham Mưu nữa.74 Do đó người viết nghĩ rằng ông phải chịu một phần rất lớn trách nhiệm về sự thất bại và sụp đổ về quân sự của VNCH vào năm 1975.
Trước hết, để có thể hiểu rõ động cơ của Tổng Thống Thiệu trong những quyết định quan trọng về mặt quân sự trong thời gian cuối 1974 và đầu 1975 đưa đến sự thất trận của Miền Nam, chúng ta phải tìm hiểu rõ bản chất của cuộc chiến, giới hạn của nó, và chiến lược mà VNCH sử dụng để đối phó với cuộc chiến.
Về bản chất, đối với VNCH, đây là một cuộc chiến tranh xâm lược mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH, tức Bắc Việt) là nước gây chiến. VNCH, tức Nam Việt Nam, là nạn nhân với lãnh thổ bị xâm phạm. Như vậy cuộc chiến tranh này, đối với VNCH, là một cuộc chiến tranh tự vệ.  Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh (Đại Hàn, Thái Lan, Phi Luật Tân, Úc, Tân Tây Lan) mang quân sang Việt Nam tham chiến là để bảo vệ VNCH chống lại việc xâm lược của VNDCCH.  Về giới hạn của cuộc chiến, để tránh mở rộng cuộc chiến và tạo ra cái cớ chính đáng cho Trung Cộng có thể mang quân vào Bắc Việt (như trong Chiến tranh Triều Tiên hồi đầu thập niên 1950), Hoa Kỳ đã không ủng hộ chủ trương Bắc Tiến của VNCH.  Do đó, về chiến lược, trong suốt thời gian gần 20 năm của cuộc chiến, VNCH luôn luôn ở vào thế thụ động với chiến lược tổng quát là phòng ngự. QLVNCH phải dàn trãi ra khắp nơi, từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, để bảo vệ lãnh thổ.  Toàn bộ lãnh thổ VNCH được chia thành 4 Quân Khu: 
Quân Khu I: gồm 5 tỉnh ở cực Bắc là Quảng Trị, Thừa Thiên (gồm cả Huế), Quảng Nam (gồm cả Đặc Khu Đà Nẵng), Quảng Tín, và Quảng Ngãi, do Quân Đoàn I phụ trách bảo vệ lãnh thổ với lực lượng chủ lực là 3 Sư Đoàn BB (Bộ Binh) là các Sư Đoàn 1, 2, 3, cùng một số đơn vị yểm trợ, tiếp vận, và các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân thuộc càc Tiểu Khu (mỗi tỉnh là một Tiểu Khu)
Quân Khu II: gồm 7 tỉnh cao nguyên là Kontum, Pleiku, Phú Bổn, Darlac, Quảng Đức, Lâm Đồng, Tuyên Đức, và 5 tỉnh duyên hải là Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, do Quân Đoàn II phụ trách bảo vệ lãnh thổ với lực lượng chủ lực là 2 Sư Đoàn BB 22 và 23, cùng một số đơn vị yểm trợ, tiếp vận, và các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân thuộc các Tiểu Khu
Quân Khu III: gồm 11 tỉnh của Miền Đông Nam Phần là Phước Long, Bình Long, Phước Tuy, Bình Tuy, Bình Dương, Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An, Long Khánh, Biên Hòa, Gia Định, và Đặc Khu Vũng Tàu, do Quân Đoàn III phụ trách bảo vệ lãnh thổ với 3 Sư Đoàn BB là 5, 18, 25, cùng một số đơn vị yểm trợ, tiếp vận, và các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân thuộc các Tiểu Khu
Quân Khu IV: gồm 16 tỉnh của Miền Tây Nam Phần là Gò Công, Kiến Tường, Định Tường, Kiến Hòa, Kiến Phong, Sa Đéc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Châu Đốc, An Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, Chương Thiện, Bạc Liêu, An Xuyên, do Quân Đoàn IV phụ trách bảo vệ lãnh thổ với 3 Sư Đoàn BB là 7, 9, 21, cùng một số đơn vị yểm trợ, tiếp vận,và các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân thuộc các Tiểu Khu 
Ngoài các đơn vị cố định chịu trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ kể trên, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH còn thành lập một số đơn vị cơ động gọi là Lực Lượng Tổng Trừ Bị có thể được điều động đi khắp nơi khi cần.  Đó là Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, 5 Liên Đoàn Biệt Động Quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. 
Ngoài quân chủng Lục Quân với các binh chủng và đơn vị kể trên, cùng với các binh chủng khác như Thiết Giáp, Pháo Binh, Truyền Tin, Công Binh, vv, QLVNCH còn có 2 quân chủng nữa là Không Quân và Hải Quân cũng đã phát triển rất nhanh và trở thành những lực lượng rất hiện đại với đầy đủ tất cả các loại phi cơ và tàu chiến.  Không Quân có tất cả 6 Sư Đoàn rải ra trên khắp lãnh thổ của VNCH như sau: 
Sư Đoàn 1: đóng tại Đà Nẵng
Sư Đoàn 2: đóng tại Nha Trang
Sư Đoàn 3: đóng tại Biên Hòa
Sư Đoàn 4: đóng tại Cần Thơ
Sư Đoàn 5: đóng tại Sài Gòn
Sư Đoàn 6: đóng tại Pleiku 
Hải Quân cũng có các hạm đội và giang đoàn khắp nơi và tại mỗi Quân Khu đều có một Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng đứng đầu là một vị Phó Đề Đốc (tướng một sao; tương đương với cấp Chuẩn Tướng bên Lục Quân và Không Quân).
VNCH hoàn toàn không có khả năng kinh tế để nuôi dưỡng và duy trì một quân lực hùng hậu và hiện đại như vậy nếu không có viện trợ của Hoa Kỳ. 
Vào đầu năm 1975, sau khi Thượng Viện Hoa Kỳ không phê chuẩn Hiệp Định Paris, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua War Powers Act vào ngày 7-11-1973 giới hạn tối đa quyền của Tổng Thống gửi quân ra nước ngoài, và Tổng Thống Nixon phải từ chức vào ngày 9-8-1974 vì vụ Watergate, và được thay thế bởi ông Gerald Ford, Tổng Thống đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ không hề được dân bầu vào chức vụ đó, Tổng Thống Thiệu chắc chắn phải suy nghĩ là ông không còn có thể trông đợivào viện trợ đầy đủ về quân sự của Hoa Kỳ cho cuộc chiến tranh với một Quốc Hội hoàn toàn do phe phản chiến và chống VNCH chiếm đa số, và vào việc Hoa Kỳ sẽ trả đũa trong trường hợp Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris với vị Tổng Thống mới hoàn toàn yếu thế đối với Quốc Hội vì không được nhân dân Hoa Kỳ bầu ra. Một số sự việc quan trọng sau đây đã khiến cho ông khẳng định là ông đã nghĩ đúng. Việc thứ nhứt là Quốc Hội Hoa Kỳ đã cắt giảm nghiêm trọng quân viện cho VNCH.  Năm 1973, con số này là 2,8 tỷ đô la; năm 1974 cắt xuống còn 1 tỷ, và 3 ngày sau khi Tổng Thống Nixon từ chức, vào ngày 11-8-1974, Quốc Hội cắt thêm 300 triệu nữa chỉ còn lại 700 triệu đô la mà thôi.75  Việc thứ nhì là Hoa Kỳ đã hoàn toàn không có phản ứng gì cả sau khi xảy ra vụ phe Cộng sản vi phạm nghiêm trọng Hiệp Định Paris trong vụ tấn công tỉnh Phước Long từ giữa tháng 12-1974 và chiếm được tỉnh này vào ngày 6-1-1975.  Việc thứ ba là: “Một ngày trước khi Tướng Phú tuyên bố Ban-Mê-Thuột mất, hạ viện Mỹ đã biểu quyết cắt hoàn toàn 300 triệu Mỹ kim quân viện bổ túc cho VNCH mà trước đây Tổng Thống Ford đã cố gắng đệ trình Quốc Hội.” 76 Và chính cái suy nghĩ đó đã thúc đẩy ông tin rằng VNCH không còn có đủ khả năng và phương tiện để bảo vệ toàn bộ lãnh thổ của mình nữa.  Ngày 11-3-1975, một ngày sau khi Ban Mê Thuột lọt vào tay quân Cộng sản, ông triệu tập một cuộc họp rất quan trọng tại Dinh Độc Lập.  Hiện diện tại cuộc họp này với Tổng Thống Thiệu là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng Chính phủ, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, và Trung Tướng Đặng Văn Quang, Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống.  Chính trong cuộc họp này, lần đầu tiên, Tổng Thống Thiệu trình bày ý tưởng của ông là QLVNCH chỉ còn có thể giữ được hai Vùng 3 và 4 mà thôi, có nghĩa là phải cắt bỏ 2 Vùng 1 và 2 ở phía Bắc của lãnh thổ VNCH cho phía Cộng sản.  Đây là một việc mà, theo đánh giá của người viết bài này, Tổng Thống Thiệu đã làm không đúng hoàn toàn.  Lẽ ra ông phải trình bày chuyện hết sức quan trọng này tại một phiên họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia thì mới đúng. Ba ngày sau, vào ngày 14-3-1975, cũng cùng với các vị tướng kể trên, Tổng Thống Thiệu lại có một cuộc họp quan trọng khác tại Cam Ranh, lần này là với Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Vùng 2.  Chính tại cuộc họp định mệnh này mà Tổng Thống Thiệu, với tư cách Tổng Thống và đương nhiên là Tổng Tư Lệnh tối cao của QLVNCH, đã biến suy nghĩ của ông thành hành động, trực tiếp ra lệnh cho Tướng Phú rút bỏ Pleiku-Kontum.  Dù cho ông, trong lúc tâm sự với Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng sau này, có biện minh rằng: “Tôi ra lệnh tái phối trí tức là rút quân khỏi Pleiku và Kontum để tái chiếm Ban Mê Thuột, chứ không phải rút lui hoàn toàn khỏi Quân đoàn II,” 77 và dù cho lời biện minh này có đúng đi nữa thì sự thật lịch sử vẫn là chính ông đã ra lệnh cho Tướng Phú triệt thoái khỏi Pleiku, nơi đặt Bộ Tư Lệnh của Quân đoàn II.  Ngoài ra, cũng trong lúc tâm sự với Tiến sĩ Hưng, ông còn nói thêm rằng: “Tôi ra hai chứ không phải một lệnh: đó là thứ nhất, rút quân khỏi Pleiku để tái chiếm Ban Mê Thuột; và thứ hai, Bộ Tổng Tham Mưu ‘theo dõi và giám sát’ (suivre et surveiller) cuộc triệt thoái này.” 78 Về cái lệnh thứ hai này thì Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng cho biết là không có. Cho dù là có thật đi nữa, Tướng Viên cũng sẽ không tích cực thi hành, vì, trên thực tế, ông đã không còn làm tròn nhiệm vụ Tổng Tham Mưu Trưởng của ông từ bao nhiêu năm trước đó rồi vì không đồng ý với cách làm việc của Tổng Thống Thiệu là luôn luôn ra lệnh trực tiếp cho các Tư Lệnh Quân Đoàn, không qua hệ thống của Bộ Tổng Tham Mưu.  Trên thực tế, ông đã nhiều lần xin từ chức nhưng không được Tổng Thống Thiệu chấp thuận. Phản ứng của ông là không tích cực làm tròn nhiệm vụ Tổng Tham Mưu Trưởng nữa. Trở lại vấn đề cái lệnh thứ hai này, chúng ta có cơ sở để tin là Tướng Viên đã không nói hết sự thật.  Trong cuốn hồi ký Đôi dòng ghi nhớ của ông, Đại Tá Phạm Bá Hoa (nguyên Chánh Văn Phòng của Tổng Tham Mưu Trưởng, 1965-1966), có thuật lại là vào buổi trưa ngày 15-3-1975, Đại Tướng Viên có điện thoại cho ông, lúc đó dang giữ chức Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận của Bộ Tổng Tham Mưu, và ra lệnh cho ông điều động tất cả các phi cơ vận tải C-130 có thể sử dụng được lên cho Quân đoàn II, nhưng không cho biết để dùng trong việc gì và cũng ra lệnh cho ông phải bảo mật chuyện đó.79  Qua chuyện này, chúng ta có thể tin rằng Tổng Thống Thiệu có ra cái lệnh thứ hai này, vì nếu không thì, với thái độ tiêu cực trong nhiệm vụ của ông từ bao năm trước đó, chắc chắn Tướng Viên đã không có điện thoại cho Đại Tá Hoa như vậy. Và Tướng Viên cũng chỉ có hành động như vậy thôi, hoàn toàn đúng với cách làm việc tiêu cực của ông.
Trở lại cái lệnh rút bỏ Pleiku-Kontum, người viết thấy có rất nhiều điều cần phải được phân tích để có thể hiểu rõ và đánh giá Tổng Thống Thiệu: bối cảnh và thời điểm lệnh được ban hành, tính chất của lệnh, nội dung của lệnh, tính khả thi của lệnh, cách thi hành lệnh, và hậu quả của lệnh.
Bối Cảnh và Thời Điểm Của Lệnh 
Về bối cảnh và thời điểm, Tổng Thống Thiệu trực tiếp ra lệnh này cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, tại cuộc họp ở Cam Ranh, vào ngày 14-3-1975.  Tại thời điểm này, VNCH đang ở vào giai đoạn khó khăn nhứt trong suốt cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 20 năm: mức quân viện từ Hoa Kỳ bị cắt giảm nặng nề, và có thể sẽ không còn nữa trong tài khóa 1976, đưa QLVNCH đến chỗ không còn khả năng tác chiến hiệu quả như trước nữa; không còn lực lượng tổng trừ bị để bổ sung cho các mặt trận cần đến vì đã được điều động đi khắp nơi hết rồi; hai tỉnh Phước Long và Ban Mê Thuột đã bị quân Cộng sản chiếm mà QLVNCH không có khả năng đánh chiếm lại được. Và trước tình hình như vậy, vị Tổng Tư Lệnh tối cao của QLVNCH, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đã có ý quyết định phải cắt bỏ 2 Quân Khu I và II, chỉ giữ lại 2 Quân Khu III và IV mà thôi.  Khi ra cái lệnh rút bỏ Pleiku-Kontum cho Tướng Phú, Tổng Thống Thiệu lần đầu tiên chính thức thực hiện cái quyết định cắt bỏ lãnh thổ đó. Tuy đã có họp với các tướng lãnh cao cấp vào ngày 11-3-1975, như chúng ta đã thấy trong phần trên, nhưng Tổng Thống Thiệu phải một mình chịu trách nhiệm về quyết định này vì đây là ý nghĩ của ông và 3 vị tướng kia hoàn toàn không có đóng góp gì cả trong cuộc họp; họ gần như chỉ đóng vai trò làm nhân chứng mà thôi.  Trong cuộc họp tại Cam Ranh ngày 14-3-1975 thì cũng vậy, không có một vị tướng nào có một lời phản biện nào cả.  Tướng Phú là người mang cấp bậc thấp nhứt tại cuộc họp nên lại càng không có ý kiến gì cả vì ông đã thấy rõ là Tổng Thống đã quyết định như vậy với sự đồng thuận của 3 vị tướng lãnh cao cấp kia. Thật là một điều hết sức đáng tiếc về cuộc họp này cho một quyết định vô cùng quan trọng về quân sự và chính trị của VNCH. 
TÍnh Chất Của Lệnh 
Về tính chất của lệnh thì đây là một lệnh tối mật, chỉ có các sĩ quan cao cấp tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II được biết mà thôi, ngay cả các sĩ quan cao cấp tại Bộ Tổng Tham Mưu cũng không được thông báo.  Trong cuốn hồi ký của ông, Đại Tá Hoa còn cho biết thêm là khi ông liên lạc với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, để thông báo về việc ông điều động phi cơ vận tải C-130 lên Pleiku cho Quân Đoàn II, thì Đại Tá Lý cũng không cho ông biết sử dụng các phi cơ đó trong việc gì.80 Các giới chức Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng hoàn toàn không được thông báo gì hết về lệnh này.  Tác giả Đỗ Sơn, trong tác phẩm Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất và sự thật cuộc triệt thoái Quân Đoàn II, đã có ghi lại cuộc phỏng vấn của ông với Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất về cuộc triệt thoái này.  Khi được hỏi về việc Tướng Phú đã truyền đạt lại lệnh của Tổng Thống Thiệu như thế nào tại cuộc họp của Quân Đòan II vào buổi chiều ngày 14-3-1975 thì Tướng Tất đã trả lời như sau: “Lệnh Tống Thống là giữ bí mật tuyệt đối, chỉ rút quân chủ lực, còn bỏ lại tất cả.  Có nghĩa là bỏ Tiểu Khu, bỏ Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, và dân chúng. Có người đã hỏi tại sao vậy? Tướng Phú trả lời: Tổng Thống đã có nói nếu họ muốn theo thì họ sẽ biết cách đi theo, các anh không phải lo.  Phải rút nhanh, gọn để bảo toàn sự bất ngờ.”81 Tính chất tối mật này không giữ được lâu vì trên thực tế không thể nào có thể giữ được bí mật việc di chuyển của cả một Quân Đoàn.  Cuốn hồi ký của Đại Tá Hoa cho biết khi phi cơ C-130, mà ông điều động lên Pleiku vào sáng ngày 16-3-1975, đến phi trường Cù Hanh (Pleiku) đã “không thể nào đáp xuống phi trường được, vì người ta đông không thể tưởng tượng nổi.”82
blank
 
Nội Dung Của Lệnh
Về mặt nội dung, lệnh của Tổng Thống Thiệu gồm 2 phần: 1) Bỏ Pleiku-Kontum, rút toàn bộ quân chủ lực của Quân Đoàn II về vùng duyên hải; và 2) Tổ chức lại lực lượng để phản công tái chiếm Ban Mê Thuột.  Quân Đoàn II chỉ thực hiện được phần 1 của lệnh này; phần 2 của lệnh này không bao giờ được thực hiện vì, trên thực tế, sau cuộc triệt thoái, Quân Đoàn II không còn hiện hữu nữa.  Lệnh của Tổng Thống Thiệu, như đã nói ở trên, là: “rút nhanh, gọn để bảo toàn sự bất ngờ,” nhưng hoàn toàn không có nói gì hết về khung thời gian, như vậy có thể được xem như giao toàn quyền cho Tướng Phú quyết định về khía cạnh này.  Và Tướng Phú, trong cuộc họp với các sĩ quan cao cấp tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II của ông vào đêm 14-3-1975, đã quyết định bắt đầu ngay cuộc triệt thoái vào sáng ngày 16-2-1975, nghĩa là chỉ sau có 1 ngày chuẩn bị (15-3-1975) mà thôi, nghĩa là, trên thực tế, có thể xem như là không có chuẩn bị gì cả, một điều gần như không có thể nào tưởng tượng được cho một cuộc hành quân ở cấp quân đoàn. Một điều cũng không bình thường là ngay cả lệnh hành quân trên giấy tờ mà lẽ ra Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn phải gửi cho các đơn vị trực thuộc Quân Đoàn cũng không có luôn.
Tính Khả Thi Của Lệnh
Về tính khả thi của lệnh này, được Tổng Thống Thiệu đưa ra trong một bối cảnh chính trị – quân sự hết sức nghiêm trọng, có rất nhiều vấn đề cần phải được xem xét và đánh giá một cách đầy đủ và khách quan.  Trước hết là cái cách thức ra lệnh của Tổng Thống Thiệu: khi ông cảm thấy không thuyết phục được Tướng Phú về chủ trương rút bỏ Vùng II của ông (vì Tướng Phú xin được cùng toàn quân ở lại tử thủ), ông đã sử dụng đến cả hạ sách là hăm dọa cách chức và bỏ tù Tướng Phú.83 Như người viết đã trình bày bên trên, lệnh triệt thoái này gồm 2 phần: 1) rút lực lượng chủ lực của Quân Đoàn II ra khỏi Pleiku-Kontum, và 2) tổ chức lại lực lượng để phản công tái chiếm Ban Mê Thuột.  Như vậy, phần 2 chính là mục tiêu để biện minh cho Phần 1 chỉ là phương tiện. Lý luận này hoàn toàn không có cơ sở vững chắc.  Ban Mê Thuột đã mất và Quân Đoàn II, với lực lượng sẵn có (và sẽ không có thêm bất cứ lực lượng Tổng Trừ Bị nào được tăng viện nữa cả), đã không thể phản công tái chiếm, thì làm thế nào, cũng với lực lượng đó (chắc chắn sẽ bị giảm thiểu rất nhiều sau cuộc triệt thoái) lại có thể phản công chiếm lại được Ban Mê Thuột.  Đó là mới chỉ xét sự việc thuần túy về mặt lực lượng mà thôi.  Còn về mặt tinh thần chiến đấu của binh sĩ thì sao ?  Chắc chắn sẽ bị sút giảm trầm trọng sau khi QLVNCH đã thua 2 trận lớn, đã mất luôn 2 tỉnh và cả một Quân Đoàn phải rút lui. Tổng Thống Thiệu có thể đã nghĩ rằng rút bỏ Pleiku-Kontum thì Quân Đoàn II sẽ không còn phải trải quân bảo vệ các vùng đó nữa, vậy có thể tập trung nhiều quân hơn để tấn công Ban Mê Thuột.  Nếu quả thật ông đã suy nghĩ như vậy thì ông đã quên là Bắc Việt cũng sẽ không cần các sư đoàn của họ bao vây Pleiku và Kontum nữa, mà sẽ tập trung chúng lại để bảo vệ Ban Mê Thuột.  Ngoài ra, về phương diện tinh thần binh sĩ, thì quân Bắc Việt chắc chắn sẽ cao hơn tinh thần của binh sĩ QLVNCH rất nhiều vì họ đang liên tiếp chiến thắng và đã khiến cho QLVNCH phải triệt thoái cả một Quân Đoàn, một điều chưa từng xảy ra trong suốt cuộc chiến tranh gần 20 năm.  Chuyện phản công tái chiếm Ban Mê Thuột, mục tiêu của lệnh triệt thoái này, rõ ràng là một chuyện không tưởng.  Câu hỏi cần có lời giải đáp là có thể nào Tổng Thống Thiệu là một vị tướng lãnh cao cấp, có nhiều kinh nghiệm, và là một người luôn luôn làm việc có tính toán cẩn thận, lại có thể suy nghĩ nông nổi như vậy hay không?  Câu trả lời của người viết bài này là: KHÔNG.  Tổng Thống Thiệu chỉ dùng nó làm cái cớ để thực hiện việc cắt bỏ Vùng II mà ông đã quyết định tại cuộc họp ngày 11-3-1975 tại Dinh Độc Lập với các Tướng Khiêm, Viên và Quang.   Suy nghĩ thêm một chút nữa chúng ta cũng thấy rằng ông không đề cập gì cả đến chuyện tái chiếm Pleiku- Kontum, nghĩa là nếu có phản công thì chỉ là để chiếm lại Ban Mê Thuột mà thôi, không phải để chiếm lại Vùng II.  Tóm lại mức độ khả thi của lệnh này là rất đáng nghi ngờ.
Cách Thi Hành Lệnh
Về cách thức thực hiện lệnh này thì có thể tóm tắt trong một câu: không được chuẩn bị chu đáo, nếu không muốn nói là không có chuẩn bị gì cả.  Đây là một lỗi lầm lớn, rất lớn của Tướng Phú. Dù cho lệnh của Tổng Thống Thiệu là phải thực hiện cho nhanh, ông cũng không thể và không nên thực hiện quá nhanh như vậy.  Chắc chắn ông phải biết rằng dân chúng trong Vùng II, đặc biệt là tại Pleiku, nơi đóng Bộ Tư Lệnh của Quân Đoàn II, sẽ biết về việc triệt thoái này, và họ sẽ đi theo.  Như vậy, ông không thể chỉ quan tâm đến khía cạnh quân lính và quân trang, quân dụng mà phải tính trước cả yếu tố dân chúng, mà là dân chúng bị hoảng hốt, kinh hoàng trước việc lui binh vĩ đại, vô tiền khoáng hậu này.  Ngoài ra, một số việc làm của Tướng Phú trong thời gian này cũng cần phải được đánh giá.  Việc thứ nhứt là việc ông đòi hỏi, gần như là một điều kiện để đánh đổi cho việc ông phải thi hành cái lệnh vô cùng khó khăn này, Tổng Thống Thiệu phải đồng ý thăng cấp Chuẩn Tướng cho Đại Tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Vùng II.  Tình hình quân sự lúc bấy giờ hoàn toàn không phù hợp cho việc thăng cấp trong quân đội; QLVNCH đang thua trận nặng nề chứ có phải đang chiến thắng oanh liệt gì đâu.  Thứ hai, chỉ thăng cấp cho 1 vị đại tá là ông Tất mà thôi (với lý do gì cũng không thấy nói rõ, nhưng chắc chắn không phải do hành động gì phi thường tại mặt trận lúc bấy giờ) làm sao không tạo ra sự dèm pha (ông Tất là bạn thân của ông Phú từ nhiều năm) và bất mãn của các vị đại tá khác trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, trong lúc đang cần sự đồng thuận và cộng tác tích cực giữa các sĩ quan cao cấp của Quân Đoàn trong cuộc hành quân hết sức quan trọng này.  Việc thứ ba là Tướng Phú gần như không có mặt trong cuộc triệt thoái này. Sáng ngày 15-3, ông và một số sĩ quan trong bộ tham mưu của ông bay về Nha Trang với lý do là để thiết lập bản doanh mới cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn.  Cũng trong ngày 15-3 này, Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm, Phụ Tá Hành Quân của Tướng Phú, bay về Tuy Hòa để chuẩn bị việc cơ sở cho việc tiếp đón đoàn quân triệt thoái. Việc chỉ huy tổng quát cuộc triệt thoái này được ông giao cho Tướng Tất.84 Đây có thể là động cơ chính của Tướng Phú trong việc hết sức cố gắng xin Tổng Thống Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng cho bằng được cho Đại Tá Tất.  Theo kế hoạch, chỉ có Sư Đoàn 6 Không Quân sẽ tự lo liệu để di chuyển toàn bộ lực lượng về căn cứ không quân Phan Rang, tất cả các lực lượng còn lại của Quân Đoàn II sẽ đi chung với nhau, mỗi ngày sẽ có một đoàn 200-250 xe sẽ rời Pleiku với binh sĩ và chiến cụ.  Toàn bộ các lực lượng chủ lực của Quân Đoàn II hiện diện trong vùng Pleiku-Kontum lúc đó gồm:
  • 1 tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 44, Sư Đoàn 23 Bộ Binh
  • 6 Liên Đoàn Biệt Động Quân: 4, 7, 21, 22, 24 và 25
  • Thiết Đoàn 21 Chiến Xa M.48 (thuộc Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh)
  • 2 tiểu đoàn pháo 155 ly Howitzer
  • 1 tiểu đoàn pháo 175 ly tầm xa
  • Liên Đoàn 20 Công Binh Chiến Đấu
  • Liên Đoàn 231 Yểm Trợ Tiếp Vận
Theo kế hoạch mà Tướng Phú đã đề nghị tại cuộc họp ở Cam Ranh ngày 14-3 và đã được Tổng Thống Thiệu và các tướng lãnh hiện diện đồng chấp thuận, Liên TỈnh Lộ 7B (LTL-7B), con đường (tách ra từ Quốc Lộ14 là quốc lộ nối liền Pleiku với Ban Mê Thuột) từ Ngả Ba Mỹ Thạch đi về hướng Đông Nam đến Tuy Hòa, đã được chọn để rút quân.  Lý do là vì cả 2 quốc lộ huyết mạch nối liền cao nguyên với duyên hải là Quốc Lộ 19 (nối liền Pleiku với Qui Nhơn) và Quốc Lộ 21 (nối liền Ban Mê Thuột với Ninh Hòa) đều đã bị các đơn vị quân Bắc Việt đóng chốt và cắt đứt.  LTL-7B là một con đường trải đá, dài 182 km, ít được sử dụng vì hư hại nhiều, gần như bỏ hoang, gồm 3 đoạn như sau:
  • từ ngã ba Mỹ Thạch đến Cheo Reo: 84 km, đường tốt
  • từ Cheo Reo đến Củng Sơn: 48 km, qua đèo Tuna (cách Cheo Reo khoảng 4 km về phía Nam, ngày nay gọi là đèo Tô Na), qua cầu Sông Ba (thời Pháp thuộc gọi là cầu Le Bac, sông Ba ở khúc này rất rộng nên cầu nầy dài đến 600 m nhưng đã bị sập từ lâu, và sau cùng phải qua cầu Cà Lúi (một sông nhánh của sông Ba) trước khi đến Củng Sơn
  • từ Củng Sơn đến Tuy Hòa: 50 km, đoạn đường này đã bị quân Đồng minh Đại Hàn gài rất nhiều mìn trước năm 1973.
Nói chung LTL-7B không phải là một trục lộ giao thông tốt cho cuộc rút quân, nhưng nó là con đường duy nhứt còn lại và có thể tạo ra yếu tố bất ngờ cần thiết cho cuộc rút quân.
Lịch trình rút quân được sắp xếp như sau:
  • Ngày 16-3: Liên Đoàn 20 Công Binh Chiến Đấu đi tiền tiêu, mở đường và sửa chửa cầu đường nếu cần; Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đi theo để yểm trợ cho Công Binh; cùng đi trong đợt đầu tiên này là một số đơn vị tiếp vận, quân cụ di chuyển trên khoảng 200 quân xa, cùng với một số đơn vị pháo binh, và một chi đoàn thiết giáp M-48 thuộc thiết đoàn 21 đi theo để bảo vệ đoàn xe
  • Ngày 17-3: các đơn vị còn lại của tiếp vận, pháo binh, và quân y, di chuyển trên khoảng 250 quân xa, với một chi đoàn thiết giáp M-48 đi theo để bảo vệ đoàn xe
  • Ngày 18-3: các đơn vị thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, một vài đơn vị thuộc Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, các đơn vị Quân Cảnh, Tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 44 của Sư Đoàn 23, và một đơn vị thiết giáp đi theo bảo vệ đoàn xe cũng gồm khoảng 250 quân xa
  • Ngày 19-3: các Liên Đoàn Biệt Động Quân còn lại và các đơn vị thiết giáp cuối cùng đi tập hậu để chận địch quân truy kích


blank
Bản đồ Liên TỈnh Lộ 7B

Ngày đầu tiên của cuộc rút quân diễn ra suông sẻ, tốt đẹp, đúng kế hoạch vì dân chúng cũng như các đơn vị quân Bắc Việt phe chưa hay biết về cuộc triệt thoái.  Nhưng vào cuối ngày thì dân chúng Pleiku đã biết chuyện và họ lũ lượt kéo nhau chạy theo đoàn quân di tản.  Cũng trong buổi chiều ngày hôm đó, Tướng Văn Tiến Dũng của Bắc Việt cũng đã biết tin về cuộc triệt thoái của Quân Đoàn II, và ông ra lệnh cho Tư Lệnh Sư Đoàn 320 phải cấp tốc truy kích đoàn quân đang triệt thoái trên LTL-7B. 
Ngày hôm sau, 17-3, dân chúng bắt đầu nhập vào đoàn quân triệt thoái bằng đủ tất cả những phương tiện di chuyển mà họ có, kể cả một số rất đông đi bộ, tất cả khiến cho đoàn quân không thể di chuyển nhanh được.   

blank
Một cảnh của đoàn quân triệt thoái trên LTL-7B

Ngày 18-3, đoàn quân đến được Cheo Reo và ngừng lại vì Công Binh chưa làm kịp cầu bắc qua sông Ba ở phía Nam Cheo Reo.Cũng trong ngày này, trước tình hình cuộc triệt thoái có vẻ thuận lợi với yếu tố bất ngờ, “tướng Phú thay đổi ý kiến. Ông ra lệnh ngưng cuộc lui binh và thay vào đó là lệnh lập tuyến phòng thủ tại Hậu-Bổn.”85 Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Đoàn II dưới sự chỉ huy của Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm đặt ngay tại một trường học trong thị trấn Hậu Bổn (Cheo Reo).  Nhưng ngay tối hôm đó, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 320 của Bắc Việt đã bắt kịp đoàn quân triệt thoái tại Cheo Reo và bắt đầu tấn công bằng tất cả hỏa lực mà họ có, gây thiệt hại rất nặng cho đoàn quân triệt thoái và dân chúng đi theo, rất nhiều quân xa bốc cháy, nhiều trọng pháo và thiết giáp bị phá hủy, xe cộ và xác người ngổn ngang trên tỉnh lộ và trong thị trấn.  Liên Đoàn 23 BĐQ được lệnh tiến chiếm đèo Ban Bleik ở phía tây Thị Trấn Cheo Reo để chặn đứng sức tấn công của quân Bắc Việt, kéo dài thời gian để giúp cho Công Binh có thể làm xong được cầu bắt qua sông Ba.
Ngày 19-3, trận kịch chiến vẫn tiếp tục tại Cheo Reo giữa các liên đoàn BĐQ và các đơn vị của Sư Đoàn 320 Bắc Việt đang truy kích. Trong ngày này, một số đơn vị Địa Phương Quân người Thượng đã nổi loạn, bỏ hàng ngũ, cướp phá, gây hỗn loạn trong đoàn quân dân triệt thoái. Trong lúc trận chiến đang diễn ra ác liệt, một phi tuần phản lực cơ A-37 của Không Quân VNCH lại oanh tạc lầm vào quân bạn, gây thiệt hại rất nặng cho một một tiểu đoàn của Liên Đoàn 7 BĐQ, và làm cho tình hình trong đoàn quân triệt thoái càng thêm hỗn loạn; mệnh lệnh và kỷ luật gần như không còn nữa.  Một số cấp chỉ huy của các thiết đoàn cũng như của các tiểu đoàn BĐQ có nhiệm vụ yểm trợ đoàn quân triệt thoái không còn chỉ huy được các đơn vị của họ nữa.  Trước tình hình rối loạn, không còn kiểm soát được nữa tại Hậu Bổn, Tướng Phú lại một lần nữa thay đổi ý kiến, ra lệnh bỏ tuyến phòng thủ ở Hậu Bổn, và tiếp tục lui quân về Tuy Hòa.  Ông “… cho trực thăng tới bốc Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Đoàn đưa về Tuy Hòa, riêng Tướng Cẩm là người ở lại sau cùng nên chính trực thăng của tôi [tôi = Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất) bốc ông.” 86 Kể từ lúc này trở đi, không còn một vị tướng lãnh nào trong đoàn quân triệt thoái nữa hết, việc chỉ huy thống nhứt hoàn toàn không còn nữa, đoàn quân như rắn mất đầu, binh sĩ cảm thấy bị bỏ rơi, các cấp chỉ huy và các đơn vị mạnh ai nấy lo. Trong thời gian đó, Không Quân VNCH được lệnh ném bom phá hủy tất cả các chiến cụ nặng, không để chúng lọt vào tay địch quân. Sáng ngày 20-3, đoàn quân triệt thoái cố gắng phá vòng vây của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 320 Bắc Việt, thoát ra khỏi Hậu Bổn để tiến về phía Củng Sơn, nhưng mới được khoảng nửa đường thì bị chận lại vì Phú Túc đã bị quân Cộng sản chiếm.  Liên Đoàn 7 BĐQ được lệnh tiến lên, tấn công dũng mãnh và chiến thắng, chiếm lại được Phú Túc trong cùng ngày. Ngày hôm sau, 21-3, đoàn quân tiếp tục tiến về Củng Sơn, mặc dù vẫn tiếp tục bị địch quân truy kích. Trên đường đi, sau khi ra khỏi Phú Túc, tình hình mất kỷ luật bên trong đoàn quân triệt thoái càng lúc càng tệ hơn, binh sĩ nhiều đơn vị tranh nhau, kể cả bắn nhau, để vượt lên trước.“… Súng bắt đầu nổ từ một phe, bạo lực lan nhanh như lửa cháy đồng, trong chốc lát nó bao trùm đoàn xe, súng nổ khắp nơi, người ta bắn để cướp đường giành đi trước…Bấy giờ súng không nổ phát một, ngưới ta bắn hàng tràng đại liên, không bắn chỉ thiên, mà bắn xả trên đầu…” 87 Đoàn xe sau cùng cũng đến được bờ sông Ba. Lúc đó Liên Đoàn 20 Công Binh Chiến Đấu vẫn làm chưa xong cầu.  Cầu phao đã được đưa từ Nha Trang lên Tuy Hòa nhưng sau đó không đưa được bằng đường bộ từ Tuy Hòa về Củng Sơn vì các chốt chận của quân Cộng sản.  Sau cùng Không Quân VNCH phải sử dụng đến các trực thăng khổng lồ Chinook CH-47 để đưa từng phần từ Tuy Hòa về Củng Sơn.88  Liên Đoàn 6 BĐQ, tại phòng tuyến phía Tây Củng Sơn, đã chiến đấu rất ác liệt để chận đứng các cuộc tấn công của Trung Đoàn 64 của Sư Đoàn 320 Bằc Việt, nhằm giúp cho Công Binh hoàn thành cầu phao bắt ngang qua Sông Ba. Ngày 22-3, cầu phao làm xong, đoàn xe bắt đầu vượt sông Ba.  Lúc bắt đầu vượt sông, vì tranh nhau qua cầu cho nhanh, một số xe tiến quá nhanh làm sập một đoạn cầu phao, gây thêm một số thương vong.  Công Binh đã nhanh chóng sửa chữa lại đoạn cầu bị sập và đoàn quân triệt thoái qua được sông Ba, sử dụng Tỉnh Lộ 436 để tiến về Tuy Hòa. Các Tiểu Đoàn 35 và 51, thuộc Liên Đoàn 6 BĐQ, tiếp tục bám giữ phòng tuyến tại Củng Sơn để bảo vệ phía sau của đoàn quân.  Tiểu Đoàn 34, thuộc Liên Đoàn 7 BĐQ, tiến về phía trước, nhổ từng chốt chận của Cộng quân để giúp đoàn dân quân triệt thoái tiến về Tuy Hòa. Ngày 27-3, vào lúc 9 giờ tối, những chiếc quân xa đầu tiên của đoàn quân triệt thoái về đến Tuy Hòa.
Hậu Quả Của Lệnh
Về mặt hậu quả, cuộc triệt thoái này là bước đầu của tiến trình sụp đổ nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng của VNCH: nếu tính từ ngày 16-3-1975, ngày khởi đầu của cuộc lui quân, cho đến ngày 30-4-1975, ngày Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống cuối cùng của VNCH đầu hàng quân Bắc Việt tại Dinh Độc Lập, thời gian chỉ có 44 ngày.  
Hậu quả đầu tiên và trực tiếp của cuộc triệt thoái vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của QLVNCH này là việc Quân Đoàn II đã bị xóa sổ, và điều này có nghĩa là VNCH đã mất đi ¼ lực lượng quân sự trong vòng chỉ có hơn 10 ngày.“Khoảng 60 ngàn quân chủ lực khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại khoảng 20 ngàn. Năm liên đoàn BĐQ với quân số khoảng 7 ngàn chỉ còn lại 900 người. Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh với hơn 100 thiết-xa các loại chỉ còn đúng 13 thiết-vận-xa M-113.”89 Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, tổng kết thiệt hại của Quân Đoàn II trong tác phẩm của ông viết bằng Anh ngữ, The Final collapse, như sau: “At least 75 percent of II Corps combat strength, to include the 23d Infantry Division as well as Ranger, armor, artillery, engineer, and signal units, had been tragically expended within ten days.” 90 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ít nhứt 75 phần trăm lực lượng chiến đấu của Quân Đoàn II, bao gồm các đơn vị của Sư Đoàn 23 Bộ Binh cũng như Biệt Động Quân, thiết giáp, pháo binh, công binh, và truyền tin, đã bị tiêu diệt một cách bi thảm trong vòng mười ngày”).  Về phương diện lãnh thổ, Quân Đoàn II đã mất gần hết các tỉnh thuộc vùng Cao Nguyên, đó là các tỉnh Pleiku, Kontum, Darlac, và Phú Bổn, với các tỉnh còn lại là Lâm Đồng, Tuyên Đức và toàn bộ các tỉnh ở vùng Duyên Hải đang bị đe dọa rất nặng nề.
Các hậu quả dây chuyền tiếp theo là việc QLVNCH phải rút lui khỏi tất cả những vùng lãnh thổ của Quân Đoàn I và II bị áp lực nặng nề của các sư đoàn quân Bắc Việt.  Trong thời gian này một số chỉ huy cao cấp của Quân Đoàn II như Chuần Tướng Trần Văn Cẩm, Tư Lệnh Tiền Phương, và Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng, đã bị địch quân bắt làm tù binh.  Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn I phải rút bỏ Huế và Đà Nẵng. Lần lượt tất cả lãnh thổ của hai quân khu này đều lọt vào tay địch.  Quân Đoàn III phải thiết lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương tại Phan Rang, nhưng chẳng bao lâu, phòng tuyến này cũng tan vỡ vào ngày 15-4-1975, và Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh, và Chuần Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân (từ Pleiku di chuyển về) cũng đã bị địch quân bắt làm tù binh.  Bắc Việt tập trung tất cả 5 sư đoàn tấn công Xuân Lộc nhưng bị Sư Đoàn 18 của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo chận đứng lại.  Phe Cộng sản quyết định bỏ Xuân Lộc tiến thẳng về Sài Gòn và VNCH đã đầu hàng vào trưa ngày 30-4-1975.
Kết luận cho mục Quân Sự: Tuy có đầy đủ điều kiện để có thể đảm nhận vai trò Tổng Tư Lệnh tối cao của QLVNCH, Tổng Thống Thiệu đã hoàn toàn sai lầm khi quyết định cắt bỏ Vùng II, đưa đến hậu quả vô cùng tai hại là sự sụp đổ quá nhanh chóng của VNCH vào ngày 30-4-1975.  Điểm F. 
Trong Lãnh Vực Kinh Tế – Xã Hội
Về phương diện kinh tế, trong khoảng thời gian 1965-1975,bề ngoài, VNCH có vẻ phát triển về mọi mặt.  Đời sống của dân chúng đô thị có nhiều tiện nghi hơn (máy giặt, máy truyền hình, vv,); ở nông thôn, phương thức canh tác có nhiều cải tiến (sử dụng cơ giới, phân bón, thuốc trừ sâu, lúa Thần Nông, vv); hệ thống giao thông vận tải được cải thiện và phát triển rất mạnh (số xa lộ và phi trường được xây dựng thêm rất nhiều);một số kỹ nghệ mới hình thành, và vào những năm cuối có thêm triển vọng khai thác dầu hỏa ở thềm lục địa; và khu vực tam đẳng (dịch vụ) cũng phát triển rất mạnh.
Sự thật thì nền kinh tế này hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ. Sau đây là mức viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ cho VNCH trong thời gian 1965-1975: 91
  • 1965:    290,3 triệu MK
  • 1966:    793,9   -      -
  • 1967:    666,6   -      -
  • 1968:    651,1   -      -
  • 1969:    560,5   -      -
  • 1970:    655,4   -      -
  • 1971:    778,0   -      -
  • 1972:    587,7   -      -
  • 1973:    531,2   -      -
  • 1974:    657,4   -      -
  • 1975:    240.9   -      -
VNCH không phải là quốc gia duy nhứt nhận viện trợ Mỹ nhưng là quốc gia duy nhứt nhận viện trợ Mỹ trong tình trạng chiến tranh, và phải nói là chiến tranh rất ác liệt với mức độ tàn phá rất lớn.  Mặc dù có tiềm lực kinh tế khá tốt, và với viện trợ Mỹ lớn lao, VNCH là quốc gia duy nhứt (trong nhóm 4 nước bị đe dọa quân sự từ bên ngoài nhận được viện trợ kinh tế lớn lao của Hoa Kỳ gồm Do Thái, Đại Hàn, Đài Loan, Việt Nam) đã phải đương đầu với quá nhiều khó khăn lớn lao do chiến tranh gây ra và vì vậy đã không thể thành công trong việc phát triển kinh tế.  Tuy nhiên, sự thất bại trong việc phát triển kinh tế tại VNCH không phải hoàn toàn chỉ do yếu tố khách quan là tình trạng chiến tranh, mà còn do một yếu tố chủ quan rất quan trọng nữa: đó là không có sự tha thiết và quyết tâm cao của cấp lãnh đạo của VNCH trong việc phát triển kinh tế.  Điều này có thể giải thích được: 1) Các nhà lãnh đạo của VNCH trong giai đoạn này đều là quân nhân, họ chú trọng nhiều hơn vào lãnh vực quân sự; 2) Họ lại hoàn toàn không có đủ kiến thức để có thể hiểu và nắm vững được vấn đề phát triển kinh tế.  Trong thời gian này, giới lãnh đạo của VNCH cũng đã từng áp dụng nhiều biện pháp kinh tế quan trọng (phá giá tiền Đồng của VN, tăng lương quân nhân công chức, tổ chức hệ thống phân phối lương thực và nhu yếu phẩm, luật Người Cày Có Ruộng, vv) nhưng nhìn chung tất cả chỉ là những biện pháp vá víu và VNCH hoàn toàn không có một kế hoạch phát triển kinh tế chủ đạo đúng nghĩa.  Một trong những chỉ số chính về phát triển kinh tế mà giới lãnh đạo VNCH hoàn toàn không quan tâm đến là: mức tiết kiệm trong nước. 

blank
Biểu đồ Tỷ lệ Tiết Kiệm Trên GNP của Việt Nam 
So với Do Thái, Đại Hàn và Đài Loan và Các Nước Châu Mỹ La Tinh 92

Biểu đồ này cho thấy rõ là trong khoảng thời gian 1965-1973, tỷ lệ Mức Tiết Kiệm Trong Nước (Domestic Saving Ratio) trên Tổng Sản Lượng Quốc Gia (GNP = Gross National Product) của VNCH phần lớn là điểm âm, trong khi các nước kia, nhất là hai nước Đại Hàn và Đài Loan đều tăng rất nhanh:
  • Đại Hàn: từ dưới 10% của GNP (1965) tăng lên trên 20% của GNP (1973)
  • Đài Loan: từ 20% của GNP (1965) tăng lên trên 30% của GNP (1973)
Có thể có 2 lý do chính cho mức tiết kiệm âm này.  Thứ nhứt là vì cấp lãnh đạo của VNCH, như vừa nói bên trên, đã không quan tâm đúng mức đến chuyện này, và vì vậy đã không có một chính sách nhằm khuyến khích việc tiết kiệm.  Thứ hai, vì vật giá gia tăng cùng với nạn lạm phát phi mã, đồng lương không đủ sống, chuyện tiết kiệm của dân chúng, dù cho nếu có sự khuyến khích của chính phủ, chắc cũng khó có thể thực hiện được.  
Cho đến đầu năm 1965, mức lạm phát tại VNCH là vào khoảng 4% một năm. Hoa Kỳ chính thức đưa quân bộ chiến vào Miền Nam vào ngày 8-3-1965 với 2 Tiểu đoàn TQLC đổ bộ vào Đà Nẵng.  Sáu tháng sau đó vật giá đã gia tăng 20% tại Miền Nam và tiếp tục gia tăng không ngừng.  Ngoài ra VNCH còn ở trong tình trạng thiếu hụt trầm trọng trong cán cân ngoại thương: trị giá nhập cảng gấp 10 lần trị giá xuất cảng.  Tháng 7-1966, Chính phủ VNCH bắt buộc phải phá giá tiền Đồng VN (ĐVN), từ 1 MK = 72 ĐVN xuống mức 1MK = 118 ĐVN.  Việc phá giá tiền ĐVN này hoàn toàn không ngăn chận được vật giá tiếp tục leo thang.  Sau đây là mức gia tăng khủng khiếp của chỉ số về giá cả đối với nhân dân lao động (working-class price index) trong khoảng thời gian 1965-1974 (so với chỉ số gốc là 100 của năm 1962):93
  • 1965: 128.4
  • 1966:    208.6
  • 1967:    299.4
  • 1968:    380.0
  • 1969:    463.1
  • 1970:    633.5
  • 1971:    749.3
  • 1972:    938.3
  • 1973: 1.355.5
  • 1974: 2.004.5
Do mức lạm phát này, giá chợ đen của đồng đô la Mỹ (USD) luôn luôn cao hơn giá chính thức rất nhiều.  Từ năm 1972 trở đi, chính phủ VNCH đành phải chấp nhận “thả nổi” giá chính thức luôn.  Sau đây là bảng liệt kê giá chính thức và giá chợ đen tiền USD tại VNCH trong thời gian 1967-1974: 94
Giá chính thức Giá chợ đen
  • 1967: 118 164
  • 1968: 118 189
  • 1969: 118 229
  • 1970: 118 393
  • 1971: 118 388
  • 1972: 356 439
  • 1973: 494 531
  • 1974: 633 641
Sau khi Hoa Kỳ đưa quân bộ chiến vào Miền Nam, cường độ chiến tranh gia tăng ác liệt, sản xuất nông nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng, và lần đầu tiên trong lịch sử, từ năm 1965, VNCH phải nhập cảng gạo để cung ứng cho nhu cầu của dân chúng. Năm 1967, số gạo nhập cảng, phần lớn là từ Hoa Kỳ, lên đến 770.000 tấn.95  Việc nhập cảng gạo này vẫn tiếp tục mãi cho đến cuối cuộc chiến.
Sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào ngày 27-1-1973, tiên liệu viện trợ Mỹ sẽ giảm đi, chính phủ VNCH đã đưa ra một kế hoạch phát triển 4 năm nhằm tiến tới độc lập về kinh tế.  Kế hoạch này gồm 4 chương trình chính yếu: 1) Tái thiết hạ tầng kinh tế và xã hội; 2) Tái lập sản xuất nông nghiệp; 3) Khuyến khích đầu tư; và 4) Cải thiện xuất cảng.96 Kế hoạch phát triển kinh tế này rất đúng hướng và đáng khen nhưng đã quá chậm vì VNCH không còn thời gian nữa.  Các chương trình này đều chỉ mới thực hiện được có một năm (1974) và còn đang dở dang thì VNCH đã thất trận vào cuối tháng 4 sau cuộc Tổng Tấn Công Mùa Xuân năm 1975 của phe Cộng sản.
Về phương diện xã hội, VNCH cũng đối diện với nhiều thay đổi, xáo trộn lớn lao.  Với cường độ gia tăng ác liệt của cuộc chiến, càng ngày càng có thêm nhiều người rời bỏ nông thôn ra thành thị sinh sống.  Ngoài ra, trong thời gian xảy ra các cuộc tổng tấn công của phe Cộng sản, như các năm Mậu Thân 1968, hay Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, con số người tỵ nạn đổ về các thành phố có thể lên đến hàng trăm ngàn trong một thời gian rất ngắn.  Sự hiện diện của mấy trăm ngàn quân Mỹ và các nước Đồng Minh vừa gây ra chuyện vật giá gia tăng và nạn lạm phát phi mã, đồng thời cũng tạo ra nhiều vấn đề xã hội trầm trọng.  Các tệ nạn xã hội như mãi dâm, xì ke, ma túy tăng lên rất nhiều, một phần lớn tập trung chung quanh các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ. Đời sống của những người làm công ăn lương, có lợi tức thấp và cố định như các giới quân nhân, công nhân, viên chức chính phủ trở nên vô cùng khó khăn.  Ngược lại những người làm việc trong các cơ quan, công ty của Mỹ, hay cung cấp dịch vụ cho quân đội Mỹ thì có lương cao hơn rất nhiều và làm giàu rất nhanh chóng. Thứ tự xếp hạng các tầng lớp trong xã hội truyền thống của Việt Nam đã bị đảo lộn hoàn toàn.
Trong điều kiện kinh tế – xã hội nhiều khó khăn như vừa kể trên, chính phủ VNCH đã có những cố gắng áp dụng một số biện pháp để đối phó, thí dụ như tăng lương cho quân nhân công chức, kiểm soát giá cả, cải thiện hệ thống tiếp tế lương thực cho các đô thị, đặc biệt là sau cuộc Tổng Tấn Công năm Mậu Thân (1968) của phe Cộng sản.  Kế Hoạch Phát Triển Kinh Tế Hậu Chiến, hoàn thành do sự hợp tác của hai chính phủ Việt-Mỹ, dưới sự chỉ đạo của hai Giáo sư David E. Lilienthal và Vũ Quốc Thúc, thực hiện trong năm 1967, được chính phủ VNCH duyệt và chấp thuận ngay trong những tháng đầu tiên của nhiệm kỳ I (1967-1971) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.  Một số khuyến cáo trong kế hoạch đã được mang ra áp dụng trong năm 1970 để chuẩn bị cho chương trình hậu chiến (nhưng đáng tiếc, chương trình phát triển kinh tế hậu chiến này đã không bao giờ xảy ra như chúng ta đã biết).97 Ngoài ra cũng phải kể đến một cố gắng đáng kể của Tổng Thống Thiệu trong việc cải thiện số phận của người nông dân: đó là Luật Người Cày Có Ruộng (NCCR).  Đạo luật NCCR được Quốc Hội chung quyết thông qua ngày 16-3-1970 và được Tổng Thống Thiệu ký ban hành tại Cần Thơ ngày 26-3-1970.98  Luật NCCR “có những quy định chính như sau:
  • Hủy bỏ quy chế tá điền;
  • Phân chia công điền, công thổ;
  • Giới hạn mỗi điền chủ chỉ được canh tác một diện tích không quá 15 mẫu; trên số đó là phải bán cho chính phủ để tái phát cho nông dân;
  • Ưu tiên dành cho người trực tiếp canh tác đất đai truất hữu;
  • Đền bù cho chủ đất thật nhanh và phải chăng: 20% bằng tiền mặt; 80% bằng công khố phiếu với 10% lãi suất trong 8 năm (có thể dùng để chuyển nhượng, thế chấp vay ngân hàng, cầm cố).” 99
Đến cuối năm 1973, chương trình NCCR đã cấp 1.193.376 mẫu đất cho 953.370 gia đình nông dân.100 Nếu tính theo con số trung bình là 4 người cho mỗi gia đình, chương trình NCCR đã hữu sản hóa cho khoảng gần 4 triệu người trên tổng số dân gần 20 triệu (19.954.000dân vào năm 1973 101), tức là 1/5 hay 20% dân số VNCH.  Đây là một thành quả rất đáng kể trong một quốc gia đang gặp những nặng nề do chiến tranh gây ra.
Một thành quả nữa về phương diện xã hội cần được nêu ra đây là sự phát triển rất đáng kể của hệ thống giáo dục, như chúng ta có thể thấy trong bảng thống kê sau đây: 
blank
Thống Kê Giáo Dục VNCH 1960-1970


Từ 1970 trở đi, hệ thống giáo dục của VNCH vẫn tiếp tục phát triển rất mạnh và đến năm học 1973-1974, số lượng người đi học đã tăng lên như sau:102
  • Tiểu học:      3.101.560   học sinh
  • Trung học:    1.091.779   học sinh
  • Đại học:           101.454   sinh viên
Đến năm 1975, tổng số sinh viên các trường cao đẳng và đại học đã lên đến 150.000 với tổng số viện đại học là 14 gồm:
  • Công lập:     4 (Sài Gòn, Thủ Đức, Cần Thơ, và Huế)
  • Cộng đồng:  3 (Tiền Giang, Duyên Hải, và Quảng-Đà)
  • Tư lập:          7 (Vạn Hạnh, Phương Nam, Đà Lạt, Minh Đức, Cao Đài,
  • Hòa Hảo, và Cửu Long)      
Điều đáng buồn là từ sau 1965, khi bắt đầu có sự hiện diện của các quân đội đồng minh trên lãnh thổ VNCH, nạn lạm phát tiền tệ và vật giá gia tăng cùng với những tệ nạn xã hội tràn lan, các tầng lớp và giá trị xã hội cổ truyền bị đảo lộn, đời sống của giới giáo chức, đặc biệt là giáo viên tiểu học, bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến mức báo động.  Trong cuốn sách “Các vấn đề giáo dục,” do nhà xuất bản Trẻ xuất bản tại Sài Gòn năm 1971, ở mục “Hiện trạng nền tiểu học Việt Nam,“ có ghi như sau: “So với những công chức khác cùng ngạch trật, giáo chức [tiểu học] là người nghèo nhứt vì phải chi phí nhiều cho nghề nghiệp, không có phương tiện để gây thêm tài chánh, và vì sĩ diện nên đành sống kham khổ để khỏi hỗ với lương tâm… Nhiều người không đủ can đảm theo đuổi nghiệp giáo nên đã bỏ nghề.  Nhiều người phải tìm việc làm khác ngoài nghề dạy học mới có thể nuôi sống gia đình.  Bi đát hơn, có nhiều giáo chức làm nghề ‘lái xe ôm’ ở đô thành và ở tỉnh… Trong hoàn cảnh hiện tại, giá trị tinh thần nói chung, uy thế của giáo chức nói riêng đã sút giảm nhiều; thiện chí cùng lương tâm của giáo chức cũng phai dần với thời gian…”  103
Kết luận cho mục Kinh Tế – Xã Hội: Nền kinh tế của VNCH, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ.  Mặc dù chính phủ VNCH dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thi hành một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình kinh tế – xã hội, đời sống của nhân dân Miền Nam trong thời gian 1965-1975 đã rất khó khăn do vật giá gia tăng và nạn lạm phát phi mã, bên cạnh những tệ nạn xã hội rất trầm trọng.  Điểm C
Đánh Giá Chung:
Nhìn lại tất cả những lãnh vực đã đánh giá thì rõ ràng tất cả đều quan trọng nhưng tầm quan trọng có khác nhau. Để có thể thực sự công bằng, người viết nhận thấy cần một hệ thống hệ số áp dụng cho việc cho điểm để làm nổi bật được tầm quan trọng của từng lãnh vực.  Hệ thống hệ số đó như sau:
  • Xây Dựng Chế Độ: hệ số 3
  • Quân Sự: hệ số 3
  • Quan Hệ Việt Mỹ: hệ số 2
  • Hòa Đàm Paris: hệ số 2
  • Nắm Quyền: hệ số 1
  • Kinh Tế – Xã hội: hệ số 1
Tổng kết tất cả các điểm:
  • Xây Dựng Chế Độ: F(0)  x 3 = 0
  • Quân Sự: F(0)  x  3  = 0
  • Quan Hệ Việt  Mỹ: C(2)  x  2  = 4
  • Hòa Đàm Paris: C(2)  x  2  = 4
  • Nắm Quyền: A(4)  x  1  = 4
  • Kinh Tế- Xã Hội: C(2)  x  1  = 2
  • Tỏng cộng: 14
Điểm trung bình: 14 / 6 =2,3 (C) Khá
Thay Lời Kết
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, với vai trò Chủ Tịch UBLĐQG (1965-1967) và Tổng Thống (1967-1975), là người đã lãnh đạo VNCH trong suốt gần 10 năm.  Trong trọn thời gian này, VNCH là một quốc gia đang gặp quá nhiều khó khăn về mọi mặt gây ra bởi một cuộc chiến tranh rất phức tạp, vừa là ngoại xâm vừa là nội chiến, lại mang cả màu sắc ý thức hệ giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản.  VNCH không có khả năng về kinh tế và quân sự để yểm trợ cho một cuộc chiến như vậy nên phải cần đến viện trợ lớn lao của Hoa Kỳ, và vì thế không thể nào hoàn toàn không lệ thuộc vào Hoa Kỳ trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự.  Trong hoàn cảnh như vậy, Tổng Thống Thiệu không những phải đương đầu với kẻ thù Cộng sản xâm lược, ông còn phải luôn luôn đối phó với người bạn đồng minh Hoa Kỳ, nhứt là từ năm 1968 trở đi, khi họ không còn ảo tưởng về chiến thắng nữa mà chỉ còn muốn rút lui trong danh dự.  Bên cạnh những khó khăn về chính trị và quân sự đó, ông còn phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế –xã hội do cuộc chiến đem lại mà chính phủ của ông không có đủ khả năng để giải quyết. Do đó, việc đánh giá công việc làm của ông cần phải được đặt trong bối cảnh đầy khó khăn đó.  Trong bối cảnh đó, và với khả năng giới hạn của ông, người viết bài này nghĩ rằng ông đã có phạm một số sai lầm nghiêm trọng nhưng ông cũng đã có cố gắng hết sức của mình để làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo của ông.  Việc quyết định rút bỏ Vùng II vào tháng 3-1975 của ông, trực tiếp đưa đến sự thất trận và đầu hàng của VNCH vào ngày 30-4-1975, là một lỗi lầm quân sự rất lớn của ông nhưng rõ ràng cũng cần phải được hiểu rõ trong bối cảnh “phủi tay” của Chính phủ Mỹ vào đầu năm 1975 đó. Xét như một cá nhân, ông là một người có tác phong làm việc nghiêm chỉnh, có tính toán cẩn thận, có khả năng và bản lãnh chính trị khá tốt, có kiên nhẩn và có quyết tâm cao. Xét chung trên tất cả các lãnh vực chính trị, quân sự, và kinh tế – xã hội như một nhà lãnh đạo của VNCH, ông chỉ là một vị Tổng Thống khá, không giỏi nhưng cũng không phải là quá tệ.  Xét riêng trên 2 lãnh vực thực thi Hiến Pháp 1967 và bảo vệ đất nước chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng sản, Tổng Thống Thiệu đã thất bại hoàn toàn với hậu quả bi thảm là đưa VNCH đến chổ bị xóa tên trên bản đồ thế giới.  Lịch sử sẽ phán xét công và tội của ông sau này.

Lâm Vĩnh Thế
(từ: DĐTK)


Chú thích :
54. Nixon, sđd, tr. 696.
55. Kissinger, sđd, tr. 1385.
56. Nixon, sđd, tr. 698-699.
57. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 332-333.
58. United States presidential election, 1972, tài liệu trực tuyến trên Internet, tại địa chỉ sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_presidential_election,_1972
59.Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh tháo chạy.  San Jose, Calif.: Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, 2005.  Tr. 529-532.
60. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 341.
61. Kissinger, sđd, tr. 1410.
62. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 353.
63. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 354-355.  Tác giả ghi như sau: “I asked him whether he had come up with something new on the withdrawal of the NVA, as President Nixon, the day before, did not foreclose the issue, Kissinger said that it would be impossible to have the NVA withdrawal in the agreement.”  Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Tôi hỏi ông ta đã nghĩ ra được điều gì mới về vấn đề rất quân của Bắc Việt, vì như Tổng Thống Nixon, ngày hôm trước, đã không có gạt bỏ vấn đề đó, Kissinger trả lởi là không thể nào có được điều khoản rút quân của Bắc Việt trong bản thỏa hiệp được”).
64. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 356.
65. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 361.
66. Nixon, sđd, tr. 737.
67. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 365.
68. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 367.
69. Operation Linrbacker II: The Christmas bombing, tài liệu trực tuyến tại địa chỉ Internet sau đây: http://thevietnamwar.info/operation-linebacker-ii-christmas-bombing/, ở tr. 2.
70. Nguyễn Tiến Hưng, tr. 547-548.
71. Kissinger, sđd, tr. 1469.
72. Nguyễn Phú Đức, sđd, tr. 373.
73. Nixon, sđd, tr. 737.
74. Tiểu sử Đại Tướng Cao Văn Viên, tài liệu trực tuyến tại địa chỉ Internet sau đây: http://nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/Tuong/TS-TuongCaoVanVien.htm.
75. Congress cuts military aid to South Vietnam, tài liệu trực tuyến tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.history.com/this-day-in-history/congress-cuts-military-aid-to-south-vietnam
76. Nguyễn Đức Phương, Chiến tranh Việt Nam toàn tập: từ trận đầu (Ấp Bắc – 1963) đến trận cuối (Sài Gòn – 1975).  Toronto: Làng Văn, 2001.  Tr. 732.
77. Nguyễn Tiến Hưng, Tâm tư Tổng Thống Thiệu.  San Jose, Calif.: Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, 2010.  Tr. 52.
78. Nguyễn Tiến Hưng, Tâm tư Tổng Thống Thiệu, sđd, tr. 57.
79. Phạm Bá Hoa, Đôi dòng ghi nhớ: hồi ký chính trị, 1963-1975.  Ấn bản lần 4.  Houston, Tex.: Ngày Nay, 2007.  Tr. 271.
80. Phạm Bá Hoa, sđd, tr. 273-274.
81. Đỗ Sơn, Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất và sự thật cuộc triệt thoái Quân Đoàn II.  Burke, Va.: Nhà xuất bản THAO UYEN PHAM, 2013.  Tr. 111.
82. Phạm Bá Hoa, sđd, tr. 275.

Chú thích :
83. Đỗ Sơn, sđd, tr. 98 và 122.
84. Vấn đề ai là người được Tướng Phú giao cho nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ cuộc triêt thoái của Quân Đoàn II cho đến nay vẫn còn được tranh cãi, lý do chánh là vì hoàn toàn không có lệnh hành quân trên giấy tờ.  Tuy nhiên, trừ trường hợp cuốn sách của tác giả Đỗ Sơn, tất cả các tài liệu, đặc biệt là 2 tác phẩm viết bằng Anh ngữ do Trung Tâm Quân Sử của Lục Quân Hoa Kỳ (U.S. Army Center of Military History) xuất bản, The Final collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên (năm 1983), và Vietnam: from cease-fire to capitulation của Đại Tá Hoa Kỳ William E. Le Gro (năm 1981), đều ghi rằng Tướng Phú đã chỉ định Tướng Tất chỉ huy tất cả các lực lượng trong cuộc triệt thoái này.  Hai cuốn sách Anh ngữ này có mức độ khả tín cao.
85. Nguyễn Đức Phương, sđd, tr. 735.
86. Đỗ Sơn, sđd, tr. 132.
87. Hoàng Khởi Phong, Ngày N+…. Sách điện tử trực tuyến tại địa chỉ Internet như sau: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=1663&rb=08, Phần 1, Pleiku-Tuy Hòa, Đoạn Ngày N+2, 12 giờ trưa.
88. Cao Văn Viên, The Final collapse.  Washington, D.C.: U.S. Army Center of Military History, 1985.  Tr. 92.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “A pontoon bridge had been brought to Tuy Hoa from Nha Trang, but it was impossible to move the bridge to Cung Son by road because of several enemy blocking positions.  Finally, the bridge was carried to Cung Son piece by piece by CH-47 helicopters.”
89. Nguyễn Đức Phương, sđd, tr. 738.
90. Cao Văn Viên, sđd, tr. 95.
91. Dacy, Douglas C.  Foreign aid, war, and economic development: South Vietnam, 1955-1975.  Cambridge, U.K.: Cambridge University Press, 1986, Trích từ bảng Table 10.2, tr. 200.
92. Dacy, Douglas C., sđd,tr. 259.
93. Dacy, sđd, trích từ bảng Table 7.1, tr. 134-135.
94. Dacy, sđd, trích từ bảng Table 9.5, tr. 190.
95. Dacy, sđd, tr. 82.
96. Nguyễn Anh Tuấn.  South Vietnam: trial and experience: a challenge for development.  Athens, Ohio: Ohio University Center for International Studies, Center for Southeast Asian Studies, 1987.  Tr. 184.
97. The Post-war development of the Republic of Vietnam: policies and programs / Joint Development Group (Saigon), Development and Resources Corporation (New York); foreword by David E. Lilenthal.  New York: Praeger, 1970.   Tr. xiii-xiv.
98. Luật Người Cày Có Ruộng của ai ban hành? ý nghĩa?,tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20090515073832AAxABlS
99. Nguyễn Tiến Hưng, Tâm tư Tổng Thống Thiệu, tr. 475-476.
100. Nguyễn Tiến Hưng, Tâm tư Tổng Thống Thiệu, sđd, tr. 477.
101. Dacy, sđd, trích từ bảng Table A4.1, tr. 99.
102. Trần Văn Chánh, Giáo dục Miền Nam Việt Nam (1954-1975): trên con đường xây dựng và phát triển, in trong Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 7-8 (114-115), 2014, tr. 41, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://www.vjol.info/index.php/ncpt-hue/article/viewFile/18251/16519.
103. Trần Văn Chánh, sđd, tr. 27




*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.
- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.
Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:
Marvin Trần

(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình
Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


scan_pic0296-content





Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S


Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín
Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại
Gọi ngay:

Hoàng Anh


(714) 724-5699

scan_pic0035-content

hoang_anh_1_0-content







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Sáu 20185:37 CH(Xem: 90)
Nghệ thuật Nguyễn Đình Thuần có chủ ý tiếp lực khả năng gợi cảm của hội họa hầu biểu hiện những cảm xúc, cảm quan, cảm thức nằm ngoài đường biên của ý thức hằng ngày. Ở chừng mực nào đó, Nguyễn Đình Thuần là họa sĩ nhưng tâm hồn ông lại là một thi sĩ. Ông làm thơ không bằng hai mươi mấy con chữ mà bằng vô lượng màu sắc, đường nét, ánh sáng, và một lược đồ bố cục của riêng ông. Ông không miêu tả sự vật, sự vật được ông thổi bùa phép tiếp nạp cảm xúc, một cảm xúc trữ tình và hình như đều được biểu đạt bằng trực quan, bằng cái nhìn có tính vô ngôn, như một công án Thiền, khó có thể sử dụng văn tự để giải thích hay bình phẩm. Hình thái ngôn ngữ hội họa của Nguyễn Đình Thuần là một hệ thống tín hiệu được hình thành từ thực tại, cách điệu hóa và cùng lúc trừu tượng hóa để trở nên khái quát, nhờ thế nó không còn là “cái cụ thể” nữa và có khả năng chuyển tải một nội dung hàm súc lớn hơn, cô đúc hơn. Trong khi hiện thực có những giới hạn không thể tránh, trừu tượng giúp nghệ sĩ “nhìn thấy”
14 Tháng Sáu 20189:06 CH(Xem: 142)
Báo chí miệt thị ông Trump như thế, có vẻ hơi quá, nhưng không phải vô cớ. Một tháng trước cuộc bầu cử tổng thống, “Access Hollywood” công bố bản ghi âm lời đối thoại của ông Trump với Billy Bush, ông đã dùng những lời lẽ thô tục đến nỗi, sau hơn hai trăm năm long trọng ghi nhận quyền tự do ngôn luận vào hiến pháp, loại ngôn từ này vẫn bị tự kiểm duyệt trên mặt báo, như “Tôi đã cố đ. nàng. Nàng có chồng. Tôi tự động bị lôi cuốn bởi sắc đẹp - Tôi cứ hôn họ. Nó giống như nam châm. Hôn liền. Tôi không muốn đợi. Và khi bạn là một ngôi sao, họ để bạn làm thế. Bạn có thể làm mọi thứ… Chộp thẳng vào l.. họ. Bạn có thể làm mọi sự” * (Biết người ta có chồng mà vẫn cố tình xâm phạm. Rồi đặt tay trên hai cuốn Thánh Kinh trong tay vợ để tuyên thệ nhận chức tổng thống. Tổng thống gì vậy?)
09 Tháng Sáu 20188:43 CH(Xem: 182)
Vườn chuối này là của lão Tuyên bố thằng Truyền bạn từ thuở còn để chỏm của Ngoi, mấy năm trước Truyền vào nam tìm kế sinh nhai, nghe đâu vớ được con gái nhà đại gia an cư lập nghiệp luôn trong đó, vườn chuối của lão Tuyên chiếm hơn mẫu, là nơi cung cấp khẩu phần cho các gia đình nuôi lợn trong thôn. “ngoan nào, thế, cứ thế, anh mới thương được chứ” “đồ nỡm ạ, thú tính vừa vừa thôi, anh mà còn thế này khéo có ngày con vợ anh nó cắt mẹ của nợ đi đấy” “quan trọng gì chứ, chỉ cần đêm nay anh làm em lên chín tầng mây là được rồi” Những lời lẽ dâm tục khiến Ngoi chờn chợn, hắn cảm thấy mình vô duyên, người ta đang tằng tịu liên quan gì đến mình mà xía mặt đến, Ngoi quay bước tiếp tục công việc của mình, xa xa thấp thoáng ánh đèn măng xông, dưới ánh trăng Ngoi nhận ra hai bóng người đang quanh quẩn trên đồng, đó là những kẻ đi săn ếch như Ngoi.
03 Tháng Sáu 20186:47 SA(Xem: 207)
TKN: Hội Nghị đã rất thành công khi mời được đại diện của 12 nước tham dự, mặc dù giờ phút chót, một vị đại diện của Nam Hàn kẹt công việc không đến được. Chỉ trong vòng hai ngày hội nghị ngắn ngủi và ngày thứ ba cùng nhau đi thăm quan thắng cảnh, nhưng hội nghị đã tạo ra sự liên kết, lý tưởng chung và sự tin tưởng giữa các nhà hoạt động đấu tranh của các nước. Theo Kiều Ngọc, đó là bước thành công đầu tiên quá tốt để cùng nhau thực hiện những dự án lâu dài. Riêng về phía chúng ta, thì Kiều Ngọc vui mừng khôn tả và tin rằng, hội nghị này đã cho mình thêm hy vọng vào con đường mới đó là qua việc liên kết với các “nước nạn nhân” Trung Cộng, chúng ta có thêm đồng minh để gây áp lực trước quốc tế về cách hành xử của Trung Cộng đối với Việt Nam. Đối với Kiều Ngọc, ngày nào còn Cộng Sản và CSVN còn làm tay sai cho Trung Cộng thì ngày đó người dân Việt Nam sẽ không bao giờ được làm chủ thật sự trên đất nước mình.
28 Tháng Năm 20187:28 CH(Xem: 230)
”Cái lon nhôm sữa bột guigoz được gọi vắn tắt là cái Gô, là bạn bạn đồng hành thân thiết của tù. Người tù nào cũng kè kè bên mình một cái vừa đựng nước uống ra bãi, vừa dùng để nấu canh tại bãi lao động. Những loại rau cỏ dại ăn được tìm thấy ngay tại hiện trường, lén nhổ bỏ vào gô rồi nhờ nhà bếp nấu. Nấu chín xong để bụi cát lắng xuống phần dưới, ăn phần rau cũng đỡ cái bao tử rỗng một lúc. Hôm nào bắt được con cóc, con nhái thì “canh có người lái”, tù gọi là Protein; con gì cũng qui vào chất thịt, chất protein bổ dưỡng. Tù có câu: ”con gì nhúc nhích là ăn được; rau gì không chết thì ăn”. Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu . Cơm mới bỏ vào miệng chưa kịp nhai cái lưỡi đã đưa cơm vào cổ” Đến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng