DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,217,483

Khi những tác phẩm nhỏ được giải thưởng lớn - Trần Mạnh Hảo

Monday, September 12, 201112:00 AM(View: 7593)
Khi những tác phẩm nhỏ được giải thưởng lớn - Trần Mạnh Hảo

Khi những tác phẩm nhỏ được giải thưởng lớn


Chưa khi nào như lần nhà nước Việt Nam xét tặng giải thưởng được gọi là “ danh giá và cao quý” là giải thưởng Nhà Nước và giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật lại xảy ra nhiều điều tiếng không hay như năm 2011 này. Xin quý vị dùng công cụ truy tìm http://google.com, đánh từ khóa: “giải thưởng Nhà Nước và giải thường HCM về văn học nghệ thuật năm 2011” sẽ tìm ra hàng chục bài phê phán, bình luận, thắc mắc, kiện cáo... về sự bất cập và thiếu công bằng, thiếu chính danh của các giải thưởng này, trên cả báo lề phải lẫn báo lề trái. Theo tiêu chí của nhà nước, tác phẩm văn học được xét tặng giải thưởng Nhà Nước phải là tác phẩm xuất sắc, tác phẩm văn học được xét giải thưởng HCM phải là tác phẩm đỉnh cao, tức tác phẩm lớn.

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ bàn sơ qua về chất lượng nghệ thuật của các tác giả được đề cử tặng thưởng giải HCM về văn học dưới đây:

 

Tác phẩm đề cử Giải thưởng HCM

Lê Lựu: Tuyển tập Lê Lựu.

Đỗ Chu: Một loài chim trên sóng (tập truyện), Tản mạn trước đèn (tập tùy bút).

Hồ Phương: Ngàn dâu (tiểu thuyết), Biển gọi (tiểu thuyết), Yêu tinh (tiểu thuyết), Những cánh rừng lá đỏ (tiểu thuyết).

Ma Văn Kháng: Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng, Mưa mùa hạ (tiểu thuyết) Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết) Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết) Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (tiểu thuyết).

Hà Minh Đức: Cụm tác phẩm thơ văn báo chí Hà Minh Đức, Cụm tác phẩm văn hóa nghệ thuật.

Phạm Tiến Duật: Đường dài và những đốm lửa, Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca), Vừa làm vừa nghĩ (tập tiểu luận).

Hữu Thỉnh: Thương lượng với thời gian, Trường ca Biển.

Nguyên Ngọc: Đất nước đứng lên (tiểu thuyết), Rẻo cao (tiểu thuyết), Cát cháy (tiểu thuyết), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.

Lê Văn Thảo: Con đường xuyên rừng (tiểu thuyết), Một ngày và một đời (tiểu thuyết), Cơn giông (tiểu thuyết), Tuyển tập truyện ngắn.

Nguyễn Khoa Điềm: Cõi lặng (tập thơ)

Bùi Hiển: Đường lớn (ký sự), Hướng về đâu văn học (tiểu luận).


 

Trong 11 tác giả được đề cử giải thưởng lớn lần này (trừ nhà văn Nguyên Ngọc và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã xin rút ra khỏi giải), còn lại 9 nhà văn đều đã được tặng giải thưởng Nhà Nước từ những năm trước. Những tác phẩm sáng giá nhất đời họ đều đã được giải thưởng Nhà Nước (là giải thưởng nhỏ) trước rồi. Nay họ chỉ còn những tác phẩm trung bình, thậm chí yếu kém lại được đưa ra xét giải thưởng lớn thì quả là thậm phi lý. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ nêu lên những nhận định khái quát về các tác phẩm dự xét giải thưởng lớn (giải thưởng HCM) trên; sau này, chúng tôi sẽ lần lượt phê bình từng tác phẩm cụ thể khi giải thưởng lớn chính thức công bố.

Nhà thơ Hữu Thỉnh, đương kim chủ tịch liên hiệp các hội văn học nghệ thuật, chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, kiêm bí thư đảng đoàn hai cơ quan trên, trong đợt đầu xét giải thưởng văn học Nhà Nước cho thế hệ các nhà văn chống Mỹ, hai tập thơ khá nhất của đời ông là Đường tới thành phố (trường ca) và Thư mùa đông đã được trao giải thưởng Nhà Nước. Năm 2011 này, Hữu Thỉnh bèn đưa hai tập thơ dở nhất đời ông là: Trường ca biển và Thương lượng với thời gian ra xét giải thưởng văn học HCM thì có phải là ông muốn dùng phép “con sâu làm rầu nồi canh” để nhục mạ giải thưởng lớn này chăng? Xin quý bạn đọc hãy vào công cụ tìm kiếm http://google.com , gõ tên hai bài phê bình của chúng tôi (TMH) phê bình hai tập thơ dở này của Hữu Thỉnh đã in trên nhiều trang mạng: “Trường ca biển một tác phẩm làng nhàng, nhạt nhẽo của Hữu Thỉnh sắp được giải thưởng văn học HCM” và “ Trong hai tác phẩm dự giải thưởng HCM của ông Hữu Thỉnh: một dở và một trường ca phạm quy”.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã ẵm giải thưởng văn học Nhà Nước bằng tác phẩm khá nhất của đời ông, đó là tập thơ : Vầng trăng và quầng lửa. Những tác phẩm được đưa ra xét giải thưởng văn học lớn trên của ông đều là những tác phẩm trung bình kém, thậm chí rất dở và nhạt nhẽo.

Trong các nhà văn được đề cử xét giải thưởng HCM trên, duy chỉ mình nhà văn Lê Lựu là có tác phẩm lớn, tác phẩm đỉnh cao. Ấy là tiểu thuyết Thời xa vắng, tác phẩm để đời của ông. Nhưng rất tiếc, Thời xa vắng của ông đã lãnh giải thưởng nhỏ (giải thưởng Nhà Nước) trước rồi. Nay những cuốn sách trên của ông hầu như đều có chất lượng trung bình, hoặc kha khá, không đủ tiêu chí giành giải thưởng lớn. Trong phần giới thiệu tác phẩm Lê Lựu để xét giải thấy chỉ nêu một tập là tuyển tập Lê Lựu. Mà trong tuyển tập này nếu có Thời xa vắng là phạm quy, còn không có tác phẩm lừng danh này, còn lại đa phần là nhạt.

Khác với Lê Lựu, cuộc đời viết của Đỗ Chu có vẻ thông dòng bén giọt hơn nhưng ông không có tác phẩm lớn như Lê Lựu. Những tác phẩm khá của ông đã giành giải thưởng văn học Nhà Nước trước rồi. Mấy cuốn sách kể trên của ông không có gì xuất sắc, đọc tạm được mà thôi. Thời còn học trung học, Đỗ Chu mê “Bông hồng vàng“, “Lẵng quả thông” của Pautopxki (do Vũ Thư Hiên dịch đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước). Giọng văn đầy chất thơ, lãng mạn và tươi mát như suối nguồn, như ánh trăng của nhà văn Nga này mê hoặc Đỗ Chu và các nhà văn trẻ thời đó. Đỗ Chu đã viết các truyện đầu tay như “Phù sa”, “Hương cỏ mật”, “Thung lũng cò” ... khá hấp dẫn như một ông Pautopxki con con... Nay cái thời ấy xa rồi, thuở ban đầu ấy xa rồi, lối viết lãng mạn kiểu Pautopxki qua rồi, nhường hiện thực dữ dội cho những cây bút dữ dội .

Hai nhà văn Hồ Phương và Lê Văn Thảo với các tác phẩm kể trên được đề cử giải thưởng văn học HCM đều là những tác phẩm đuối tầm, không có gì xuất sắc, chất lượng nghệ thuật chưa bằng các tác phẩm được đề cử của Lê Lựu, Đỗ Chu.

Có lẽ những tác phẩm của Ma Văn Kháng được đề cử trên là khá hơn cả. Côi cút giữa cảnh đời, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không giấy giá thú của ông được người đọc của một thời hoan nghênh, khen tặng. Nhưng chúng không có đủ tầm vóc nghệ thuật bay qua các thời đại, nghĩa là không thể trở thành tác phẩm lớn kiểu như Thời xa vắng của Lê Lựu”.

Nhà văn Bùi Hiển là một tác giả tiền chiến nổi tiếng viết truyện ngắn hay, trong đó tập truyện Nằm Vạ của ông đã đưa ông lên hàng những nhà văn viết truyện ngắn hay vào bậc nhất thời trước năm 1945, sau tên tuổi của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Bằng... Chính ra ông phải được giải thưởng lớn từ trước chứ không phải giải thưởng Nhà Nước như đã nhận. Lần này Hội nhà văn đề cử những tác phẩm không tiêu biểu của ông vào giải thưởng lớn là một nghịch lý. Sở trường của Bùi Hiển là truyện ngắn mà sao Hội nhà văn lại đề cử tác phẩm ký sự và tiểu luận là sở đoản của ông?

GS. Hà Minh Đức được đề cử vào giải thưởng văn học HCM có lẽ là một sự nhầm lẫn của Hội đồng tuyển chọn Hội Nhà Văn chăng? Những cuốn giáo trình của GS. Hà Minh Đức dùng để dạy học, hầu như không có chất văn. Đâu phải các thầy cứ viết tiểu luận văn học làm giáo trình giảng dạy là có thể trở thành văn học. Viết đúng viết thật chưa thể thành tác phẩm văn học, nếu những trang viết kia không có chất văn, không hấp dẫn. Mới đạt CHÂN và THIỆN mà chưa có cái MỸ thì chưa phải văn học. Các bài báo của GS. Hà Minh Đức thì nên đăng ký dự ở giải báo chí, sao lại đăng ký vào giải thưởng văn học lớn này? Về thơ của GS. Hà Minh Đức mà đoạt giải thưởng văn học HCM thì khoảng hai nghìn nhà thơ trong nước đều có thể ẵm được giải thưởng lớn này.

Chúng tôi sẽ dành thời gian và công sức phê bình cụ thể từng tác phẩm được đề cử trên, sau khi giải thưởng văn học HCM chính thức công bố.

Chúng tôi mong hàng trăm nhà phê bình văn học quốc doanh, nhà phê bình văn học xu thời lên tiếng bảo vệ những giá trị được cho là thật kia, trong khi chúng tôi chỉ thấy là những giá trị ảo, để ta cùng tranh luận cho đen trắng, hay dở, đúng sai rõ ràng.

Nếu cứ đánh tráo dở thành hay, sai thành đúng, xấu thành tốt, ác thành thiện như thế này sẽ không thể còn nền văn học Việt Nam, thậm chí văn hóa Việt Nam rồi cũng sẽ biến mất cùng với nguy cơ dân tộc bị diệt vong đang có cơ xuất hiện...


TMH

Sài Gòn, 06-9-2011

B
ài đọc thêm của Trần Mạnh Hảo



“Chiếc ca-pốt rách của Đảng” thưa chuyện cùng “chiếc ca-pốt lành của Đảng”

Xin quý độc giả thứ lỗi, cái nhan đề có vẻ khiếm nhã trên không phải do Trần Mạnh Hảo nghĩ ra, mà là “phát minh” của nhà văn kiêm đạo diễn điện ảnh Đỗ Minh Tuấn, đăng trên talawas, mục “Văn học Việt Nam” ngày 5-5-2005, trong tham luận của tác giả tại Đại hội Nhà văn Việt Nam từ ngày 23-25 tháng 4-2005: “Vì sao văn học ta chưa ngang tầm thời đại?”, có đoạn viết như sau: “Năm 1998 tôi đã phải viết một thư ngỏ chuyền tay, gọi “Trần Mạnh Hảo là cái ca-pốt rách của Đảng”, giữ vệ sinh cho Đảng trong quá trình giao lưu văn hoá làm bạn với tất cả thế gian...

Đoạn văn trên của Đỗ Minh Tuấn do ông chính thức đứng trên diễn đàn Hội trường Ba Đình phát ngôn vào chiều ngày 24-4-2005. Trước mặt ông Nguyễn Khoa Điềm, Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam kiêm Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương và nhiều chục cán bộ trung cao cấp khác của Đảng Cộng sản, cùng ngót 600 nhà văn đảng viên và nhà văn không đảng viên, Đỗ Minh Tuấn đã “tấn phong” cả Đảng và Trần Mạnh Hảo trong vai trò mới rất kinh dị của hành vi giao hợp vĩ mô, bằng chiếc-ca-pốt-người-Trần-Mạnh-Hảo? Có lẽ, trong lịch sử 75 năm của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ từng bị ai chửi thậm tệ đến như vậy, hạ nhục bằng lời lẽ thô bỉ vô văn hoá đến như vậy, lại bị chửi ngay ở giữa trái tim của Đảng là Hội trường Ba Đình; thế mà ông Nguyễn Khoa Điềm và mấy trăm đảng viên vẫn im lặng ngồi nghe, không phản ứng, đại hội kết thúc cả tháng vẫn không thấy Đảng đáp lại cú chửi lịch sử của Đỗ Minh Tuấn là sao? Có khi nào “Việt Minh làm thinh đồng ý”, ông Nguyễn Khoa Điềm im lặng không phản ứng hay sai hàng nghìn thuộc hạ phê phán trên hơn 600 tờ báo của Đảng mà ông Điềm thực chất là tổng biên tập (mượn ý của nhà văn Hoàng Quốc Hải), ngầm như một sự chấp nhận câu chửi Đảng vĩ đại của Đỗ Minh Tuấn kia là đúng sự thật?

Đỗ Minh Tuấn từ trên diễn đàn cao quý vào bậc nhất chế độ, đã công khai coi “quá trình giao lưu văn hoá” của Đảng Cộng sản “với tất cả thế gian” (thế gian: bao gồm cả loài người, trong đó có nhân dân Việt Nam) chỉ là quá trình của quý ông đi trác táng! Hãi thật! Trần Mạnh Hảo tôi không khỏi rùng mình, vì qua lời Đỗ Minh Tuấn, chợt mới biết thân phận mình đã bị Đảng biến thành bao cao su hành lạc một cách nhục nhã, ô trọc là dường nào! TMH xưa nay chỉ là một dân đen (không đảng viên, không biên chế nhà nước) tưởng đi theo Đảng là vinh quang lắm, thiêng liêng cao quý lắm, ai dè bị biến thành cái bao cao su từ lúc nào, để Đảng hành lạc cả dân tộc, cả đất nước mà sao mình vẫn không hay biết mới là cái thằng ngu thậm? Theo lô-gíc của Đỗ Minh Tuấn, Đảng Cộng sản hiện có hai triệu đảng viên, chả lẽ chỉ dùng một cái ca-pốt Trần Mạnh Hảo, lại là ca-pốt rách, thì làm sao mà xài đủ hàng triệu cuộc mây mưa lịch sử vĩ đại này? Chắc Đảng phải “thủ” nhiều triệu Trần Mạnh Hảo khác ngon lành hơn, cỡ như Đỗ Minh Tuấn trong túi quần, vứt cái ca-pốt rách Trần Mạnh Hảo vào sọt rác, mới có đủ cơ số ca-pốt mà ăn chơi vĩnh viễn như lời Đỗ Minh Tuấn trịnh trọng tuyên bố trên cái bục gỗ quốc gia - nơi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội bao năm thường đứng đọc diễn văn? Hoá ra, thân phận của một anh dân đen cỡ Trần Mạnh Hảo chỉ đáng là cái bao cao su rách để Đảng “chơi giao lưu văn hoá” như Đỗ Minh Tuấn tuyên bố.

Thực tình, nghe Đỗ Minh Tuấn tuyên bố như trên về vai trò cách mạng khoái lạc giữa Đảng (con C...) và Trần Mạnh Hảo (ca-pốt rách), chúng tôi nghĩ ông Tuấn đã nói bậy, làm gì có chuyện này? Nhưng suốt cả tháng trôi đi, Đảng mà cụ thể là ông Nguyễn Khoa Điềm vẫn làm thinh không cải chính, khiến Trần Mạnh Hảo bán tín bán nghi, biết đâu bản chất vấn đề lại nằm ở câu chửi rất kinh khủng kia của Đỗ Minh Tuấn? Nhưng làm sao Đỗ Minh Tuấn khám phá ra cái vụ giao hợp tày trời là Đảng đã bí mật dùng người dân Việt Nam làm bao cao su để hành lạc văn hoá?

Có lẽ điều này Đỗ Minh Tuấn đã biết, đã lén nhìn thấy ở nhà ông Lê Đức Thọ? Hay ông Tuấn đã được biến thành “công cụ giữ vệ sinh” cho Đảng khi cách đây gần 30 năm trước, ông và ông Vĩnh Quang Lê đi đâu cũng khoe là người của Lê Đức Thọ, đưa ảnh mình chụp chung với “cụ Thọ” ra như một thứ “căn cước vô song” làm khiếp vía bao người. Chính vì thế ông Tuấn mới biết rất rành rẽ việc Đảng đã biến một văn nghệ sĩ thành ra cái ca-pốt như thế nào. Đây, xin quý vị xem những dòng phê bình đấu tố, phê bình chỉ điểm, phê bình quy chụp chính trị của Đỗ Minh Tuấn từng in trên nhiều tờ báo, sau này tập hợp in trong tập Ngày văn học lên ngôi do nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 1996.

Đỗ Minh Tuấn không chỉ dùng một bài “Cõi chập chờn bất định và tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh” để phê phán nhà văn Bảo Ninh, mà lác đác trong các trang của tập tiểu luận Ngày văn học lên ngôi, ông Tuấn bảo hoàng hơn vua đã nhiều lần quy kết chính trị Bảo Ninh:

“Trong một số tác phẩm về chiến tranh chống Mỹ, tiêu biểu là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, đã xuất hiện sự thay máu anh hùng, tước đi những khát vọng cao cả, những cảm quan anh hùng có thực trong đời sống những người chiến sĩ của chúng ta trong chiến tranh để thay vào đó những cảm xúc, hành vi, khẩu khí và toan tính thời hậu chiến. Có ý thức hay không đó cũng là sự đánh tráo linh hồn, nhân danh một toà án tối cao của chủ nghĩa nhân văn để ép cung và xáo trộn hiện trường lịch sử, tạo ra những nhân chứng giả thay thế những nhân chứng thật đã xuất hiện trong các tác phẩm được viết theo thủ pháp nghệ thuật quen thuộc trước đây. Và, nhà văn, cố tình hay vô tình, khi ném thủ pháp nghệ thuật cũ đã làm vỡ luôn cái bình quý là hình ảnh người anh hùng có thật trong lịch sử.” (Ngày văn học lên ngôi, tr. 19).

Trang 76 trong cuốn sách này, Đỗ Minh Tuấn tiếp tục “đánh” Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh như sau:

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh chẳng có gì đáng làm ta kinh hãi, vì nếu nó cũ mòn và lạc hậu về tư tưởng thì nó cũng như trăm ngàn cuốn tiểu thuyết xoàng xĩnh quanh ta. Cái làm ta kinh hãi là việc người ta ngộ nhận về giá trị của nó, giao giải thưởng cho nó, tiếp tục đưa nó lên mây xanh để dễ bề khai thác nó. Một điều “chập chờn bất định” làm ta kinh hãi nữa là thật khó mà biết được những bản dịch cuốn truyện này đã xa nguyên tác đến đâu...”

Trang 29 trong cuốn sách này, Đỗ Minh Tuấn quy chụp chính trị Lại Nguyên Ân rất khiếp như sau:

“Một mâu thuẫn nữa trong lập luận của anh là, một mặt anh coi thường quần chúng như là một bầy đàn dễ bị thao túng ý thức, mặt khác lại coi thường thiểu số: “công việc này thực ra một vài người không làm nổi”. Vậy thì theo anh, phải bao nhiêu người, bao nhiêu đô la, bao nhiêu cuốn sách để áp đặt vào quần chúng hình ảnh của nước Việt Nam hiếu chiến, phí máu “ám sát hòa bình”? Và cái bức tường Berlin mà anh đã nói về sự sụp đổ của nó như là ví dụ về một “huyền thoại chết” có phải là do quần chúng phá đổ trong sự say mê huyền thoại về dân chủ hay không? Vậy thì ai đã thao túng tâm lý đám đông để nó cuồng nhiệt lao theo một nền dân chủ mà nã pháo vào quốc hội, như nền dân chủ của ông Enxin?”

Trong trang 33 của sách này, Đỗ Minh Tuấn tiếp tục đóng vai nhà mác-xít lên án Lại Nguyên Ân lệch lạc về tư tưởng để răn đe bọn cầm bút nào a dua với tư bản, đế quốc:

“Khi chúng ta đặt vấn đề phải cảnh giác với mưu đồ giải huyền thoại Việt Nam là chúng ta đứng trên lập trường khoa học của chủ nghĩa Marx để chống lại việc xuyên tạc lịch sử... Trong bài viết, hai lần Lại Nguyên Ân dùng chữ “đám đông” để gọi quần chúng. Thái độ trịch thượng này xa lạ với tinh thần coi trọng quần chúng như một lực lượng sáng tạo lịch sử trong tư tưởng của một người mác-xít... Không chỉ hiểu sai chủ nghĩa Marx, Lại Nguyên Ân còn ngộ nhận về bản chất của tôn giáo...”

Đỗ Minh Tuấn đã thực sự trở thành “cái ca-pốt lành của Đảng”, một thứ ca-pốt vĩnh cửu, đa hệ, trung thành, nó mới dẻo dai làm sao, dùng mãi không rách! Hãy nhìn Đỗ Minh Tuấn đánh lại đám nhà văn “đổi mới-đón gió-chống Đảng” một cách còn kiên cường hơn cả ông Nguyễn Khoa Điềm bội phần, lên án bọn nhà văn phản lại cách mạng và đe dọa trừng trị chúng ở trang 66, sách đã dẫn:

“Nếu nghệ sĩ có dấn thân vào cuộc đấu tranh cách mạng cùng nhân dân, dân tộc, thì đó là sự tự nguyện, sự hòa điệu giữa mục đích của anh ta với mục đích chung. Anh ta có quyền đứng ngoài, có quyền thờ ơ với sự nghiệp chung nhưng anh ta nên nhớ rằng quyền lựa chọn chỗ đứng trong lịch sử này không đồng nghĩa với quyền chỉ trích tự do sáng tạo của những nghệ sĩ hòa điệu cùng dân tộc và cách mạng, càng không phải quyền chống lại dân tộc và cách mạng.”

Đỗ Minh Tuấn cảnh cáo diễn biến hòa bình trong văn học, vạch trần bọn cầm bút tay sai cho các thế lực phản động từ bên ngoài, bọn muốn Đông Âu hoá Việt Nam, muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội tốt đẹp, như ở trang 67 cuốn sách trên:

“Không ít kẻ thực dụng, cơ hội nhân danh tự do sáng tạo để đòi xã hội phải thừa nhận, ủng hộ và bảo hiểm cho những hành vi chống đối phá hoại của mình, xếp hạng cho những tác phẩm nghệ thuật phục vụ những mục đích chính trị của kẻ chống lại dân tộc. Họ thường bôi nhọ những nghệ sĩ hòa điệu với dân tộc, với cách mạng là những người “cơ hội”, “phục vụ cấp trên”. Trong khi đó, chính họ, họ tìm cấp trên ở ngoài biên giới, vì họ cho rằng họ chỉ phục tùng cấp trên cỡ thế giới mà thôi! Và họ vô tình hay cố ý, trực tiếp hay gián tiếp đem tác phẩm của mình phục vụ những mục tiêu chính trị của siêu cấp trên này hoặc trở thành món hàng béo bở cho những con buôn. Họ tự đánh lừa mình họ có nhân cách, có tự do sáng tạo, nhưng họ đã bán mình cho quỷ mà không biết. Họ cũng tìm kiếm một bảo hiểm cho mình ở các áp lực của nước ngoài. Thậm chí họ trang điểm một ít son phấn chống đối để bảo hiểm cho tương lai, nếu chế độ này sụp đổ như Đông Âu thì họ dễ tìm thấy chỗ đứng trong chế độ mới...”

Nếu cứ trích những dòng “hồng vệ binh” của “ông-cai-văn-nghệ-đỏ-ca-pốt-lành-của-Đảng-Đỗ-Minh- Tuấn” đấu tố đồng nghiệp, vung roi chuyên chính vô sản quất anh em “đổi mới văn học” như trên, thì trích đến mai cũng không hết.

Thế mới biết Đảng ta vậy mà khôn lắm: vứt “cái-ca-pốt-rách-trần-mạnh-hảo” đi mà dùng “cái-ca-pốt-lành-đỗ-minh-tuấn” nó lợi bội phần. Còn hơn ông Trường Chinh dùng một “cái roi ngựa phê bình” xưa, không cần quất cho con ngựa văn học nghệ thuật lồng lên, mà quất cho nó quỵ xuống càng tốt mới là Đỗ Minh Tuấn đa hệ đa năng! Và, Đảng ta công bằng lắm, gái có công chồng chẳng phụ. Nhân dịp 50 năm kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ 1954-2004, lệnh của Bộ Chính trị cho Ban Tư tưởng Văn hoá + Cục Điện ảnh + Hội Điện ảnh Việt Nam phải tìm một đạo diễn “vừa hồng vừa chuyên”, tuyệt đối tốt về phẩm chất chính trị, có công bảo vệ Đảng nhiều năm, để trao cho một triệu đô-la mà làm phim ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ. Ngoài đạo diễn đỏ Đỗ Minh Tuấn ra, còn ai có thể vừa mắt Bộ Chính trị để cầm một triệu đô-la tiền đầu tư sáng tác vĩ đại nhất từ xưa tới nay như thế! Với số tiền cực lớn này, chỉ cần bỏ ra tí teo là báo chí cả nước đã tuyên truyền cho phim chính trị Ký ức Điện Biên, như thể nó sắp được giải Oscar! Thế rồi phim làm xong, đem ra chiếu, xem ngượng chết được, có ma nào xem đâu, bị báo chí cả nước chửi cho sao ném số tiền 14 tỷ đồng Việt Nam ra để làm thứ phim vứt sọt rác thế? Thậm chí, sáng nay, thứ sáu 20-5-2005, khi TMH ngồi viết bài này, thấy trang đầu báo Thanh Niên mới ra cùng ngày, vẫn còn phê bình kiểu làm phim để cất kho như kiểu phim “cúng cụ” của ông đạo diễn Đỗ Minh Tuấn. Đấy là bài báo của tác giả Nguyễn Thông với tiêu đề: “Làm phim để cất kho” kịch liệt phê phán phim Ký ức Điện Biên dở tệ, làm để cốt “cất kho, là phim làm bằng kinh phí nhà nước, mà nào có ít, mỗi phim tốn cả chục tỉ đồng...”

Vấn đề là năm ngoái Đỗ Minh Tuấn mới cầm một triệu đô-la tiền đầu tư sáng tác của Đảng ưu ái, chưa đầy một năm đã lên hội trường Ba Đình chửi Đảng dùng người dân làm bao cao su để hành lạc “giao lưu văn hoá với khắp thế gian”. Trò tráo trở này có thể làm ông Nguyễn Khoa Điềm ngồi nghe kinh ngạc mãi không mở nổi miệng!


TMH



Ông Trương Văn Sương đã chết sau khi bị bắt giam trở lại

Thanh Trúc

RFA


blank
Ảnh chụp anh Trương văn Sương bên di ảnh vợ ngày được tạm tha về sau hơn 33 năm tù. Tại ngôi nhà nghèo nàn người vợ mỏi ṃòn đợi chờ đă không c̣òn để đón anh. (tháng 7,2010)

Ông Trương Văn Sương, cựu sĩ quan miền Nam bị án tù chung thân v́ tội phản động, bị đưa trở lại nhà tù tháng trước sau một năm tạm tha để chữa bệnh, đă qua đời vào lúc 10:20 sáng nay, ngày 12 tháng Chín, hưởng thọ 68 tuổi.

Chỉ hai mươi lăm ngày sau

Từ Sóc Trăng, thứ nam của ông Trương Văn Sương là anh Trương Tấn Tài cho biết gia đ́nh nhận tin là lúc một giờ trưa nay:
Vào 1 giờ th́ ở trên trại điện cho cậu nói là báo cho anh Trương Văn Dũng biết ba đă mất rồi, 10:20 sáng ngày 12 tháng Chín. Th́ Tài mới điện lên trên trại th́ gặp một cán bộ, hỏi th́ cán bộ đó không dám nói là chết rồi, cán bộ đó nói bây giờ t́nh cảnh nguy kịch lắm ráng thu xếp lên liền đi. Ḿnh mới hỏi ba con thật sự mất chưa chú, ông nói các cháu cứ lên lẹ đi. Th́ anh Dũng mới điện lại cho cái ông thông báo đó th́ ông mới nói là mất rồi.
Trả lời đài Á Châu Tự Do về tin ông Trương Văn Sương mất, một cán bộ ở trại Nam Hà chỉ nói:
Cái đấy chúng tôi không có trách nhiệm chúng tôi không biết, tôi không rơ, nên liên lạc với lănh đạo của trại ...
Hiện trưởng nam của ông Trương Văn Sương là anh Trương Văn Dũng đang trên đường ra trại Nam Hà.
Ông Trương Văn Sương bị bắt năm 1984 , bị truy tố tội phản động, cấu kết với một Việt kiều Pháp là Trần Văn Bá để chống phá chính quyền cách mạng Việt Nam.
Sau đó ông Trấn Văn Bá bị án tử h́nh, ông Trương Văn Sương lănh án chung thân và bị giam tại trại Nam Hà miền Bắc. Ngày 12 tháng Bảy 2010, v́ đau ốm bệnh tật liên miên, ông được tạm cho về nhà một năm để chữa chạy.


Đến ngày 19 tháng Tám ông Trương Văn Sương bị áp tải trở ra trại giam Nam Hà để tiếp tục thi hành án và đă qua đời chỉ hai mươi lăm ngày sau khi trở lại ṿng lao lư.

BVN-TH



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, February 20, 20208:57 PM(View: 43)
Hoa có thể thiết yếu với phần lớn các nhà thơ, song người viết
Sunday, February 16, 20207:35 AM(View: 85)
Nhà văn có quyền lực gì trong xã hội? Giữa hàng trăm nghề, nghề cầm bút nằm ở đâu
Monday, February 10, 20208:14 PM(View: 118)
Sinh thời Lý Chánh Trung nổi tiếng là một nhân vật hoạt bát, năng nổ và khuynh tả.
Tuesday, February 4, 20203:50 PM(View: 81)
Cuối cùng bọn quyết tâm chiếm đất mặt người dạ thú đã giở đến trò độc ác nhất. Trong đêm mồng 8
Tuesday, January 28, 20208:15 AM(View: 127)
Những ngày giáp Tết Canh Tý, làng thơ lại xôn xao vì một vụ đạo thơ khó tin. Đó là cuộc