DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,213,535

Hoàng Nga

Tuesday, September 20, 201112:00 AM(View: 24239)
Hoàng Nga
Hoàng Nga



hnga_2-content




Tên thật Hoàng Nga. Sinh ngày 28 tháng 3 năm 1959 tại Quảng Nam. Sang Úc năm 1988. Hiện định cư tại Đức, từ 1993

Tác phẩm đã xuất bản:
  • Tháng Giêng, Tháng Bảy Buồn Như Nhau (truyện, Làng Văn 1997)
  • Như Một Vết Chim Bay (truyện, Làng Văn 1999)
  • Bay Đi Cánh Chim Biển (Văn Mới)

Nhân vật và ngôn ngữ trong


"Tháng Giêng Tháng Bảy Buồn Như Nhau"



Mai Kim Ngọc


"Hoàng Nga viết hay lắm!" anh Võ Phiến nói với tôi qua điện thoại. Trước đấy một tuần, Nguyễn Mộng Giác cũng nói với tôi một câu tương tự.

Nhưng 'Hoàng Nga viết hay' do anh Võ Phiến phát biểu có một quá trình đặc biệt. Sự việc là tôi vẫn hay chia sẻ với anh cảm nghĩ về những tác phẩm văn học mới xuất bản hay tái bản, và thường thường chúng tôi đồng ý với nhau. Nhưng cái thú vị là không phải bao giờ chúng tôi cũng đồng ý, những lần sai biệt thỉnh thoảng cũng có xảy ra. Thí dụ như anh rất thích Nguyễn Tuân, còn tôi tuy kính trọng và ngưỡng mộ tiền nhân, nhưng thật tâm không thể liên hệ được với nhà tùy bút huyền thoại của văn học Việt Nam mà ba tôi và anh cả tôi thủa sinh thời vẫn tấm tắc khen... Mỗi lần khác biệt như vậy, với cái tính khoa học thực nghiệm mang sang từ nghề y, tôi hăng say chứng minh quan điểm của tôi, hay gặng hỏi cho ra cơ sở quan điểm của anh. Còn anh, ít khi anh phát biểu bằng ngôn ngữ, nhưng qua cái yên lặng lịch sự đặc biệt nơi anh, tôi đọc được ý kiến anh.

Tháng Giêng Tháng Bảy Buồn Như Nhau của Hoàng Nga thoạt tiên rơi vào trường hợp tương tự. Khi đọc xong cuốn truyện Hoàng Nga gửi tặng qua Nguyễn Mộng Giác, tôi gọi anh Võ Phiến, tấm tắc khen haỵ Anh yên lặng nghe tôi nói. Năm phút, mười phút trôi qua, anh không phát biểu gì, để mặc tôi độc thoại. Gần hai chục năm quen anh, tôi đã quen nghe anh nói, nghe được dấu chấm, dấu phẩy, thậm chí cả dấu chấm than hay chấm hỏi của anh trên đường dây viễn liên. Hôm nào anh se mình, tôi nghe được cả cơn suyễn nhẹ của anh sắp trở lại để căn dặn anh uống thuốc. Và hôm nói chuyện về Hoàng Nga, tôi nghĩ anh đã không chia sẻ với tôi sự hân hoan về tác phẩm đầu tay của nhà văn nữ. Thành thử ít hôm sau khi anh gọi lại khẳng định phát biểu 'Hoàng Nga viết hay lắm', tôi mới vỡ lẽ là tôi không tinh tế khi nghe điện thoại như tôi nghĩ, và sự yên lặng hôm trước của anh chẳng qua là cẩn trọng, anh chưa muốn phát biểu về một cuốn sách chưa tới tay anh.

Tôi nghĩ Hoàng Nga viết hay vì nhiều lý do. Thứ nhất, bút pháp bà cao, cái thiên phú còn kèm theo cả cái công phu nghiên cứu trau dồi. Bà viết kỹ, lưu tâm đến âm hưởng, nhịp điệu từng câu từng đoạn. Tác phẩm lại hài hòa cân xứng khi nhìn vào tổng thể. Bà không chọn những đề tài thời sự thời thượng để lợi dụng sự lưu tâm sẵn có của quần chúng độc giả. Bà cũng không viết về những câu chuyện những cảnh sống ngang tàng hay kiêu bạc để khai thác cái gây cấn ly kỳ của cốt truyện. Cả nét 'hiện sinh' cũng không có nơi bà, suốt bấy nhiêu truyện ngắn, không có nút áo nào bị gỡ hay dải yếm nào bị cởi. Không, bà viết văn học thuần túy mà kiêng dùng tiểu xảo dễ dãi nhất thời. Bà lấy những cảnh đời rất bình thường làm cốt truyện. Tay không, bà bước vào cõi nhân tâm tìm được trong cái tầm thường những tác phẩm văn học haỵ

Quả thật, Hoàng Nga viết về những người nữ thuộc giới trung lưu, không có gì đặc biệt về nhan sắc hay địa vị. Họ sinh hoạt trong những cảnh sống khác nhau, hoặc tại quốc nội, hoặc tại một nước tây phương sau khi di tản khỏi cố quốc. Và người đàn bà gặp một người đàn ông, giao tình mỗi ngày một thân thiết, câu chuyện lứa đôi như ngấp nghé cuối đường. Nhưng đoạn kết có hậu và hạnh phúc không bao giờ xảy ra. Vì lẽ này lẽ nọ, cặp tình nhân chia taỵ Nàng trở lại đời sống bình thường và tầm thường có sẵn trước cuộc tình, bề ngoài có lẽ vẫn bình thường vẫn tầm thường, nhưng nội tâm đã mang thêm một vết đau mới...

Lý do của sự đổ vỡ cũng rất tầm thường và bình thường. Chàng yếu đuối nên chao đảo, đang gắn bó với cô chị lại xoay sang mê cô em... Có khi chàng can đảm vượt qua một số câu nệ, còn trai tân mà mong xây dựng tương lai với người đàn bà đã có một đời chồng và đứa con riêng, để rồi lại vấp váp vì một vài câu nệ còn sót lại mà cũng bỏ ra đi biệt tăm... Có khi chàng yêu nàng thắm thiết, nhưng chỉ vì cái nhìn của đứa con thơ của nàng, cái nhìn đầy lo lắng và ghen tuông thường tình của nó, chàng cũng dứt tình biến vào hư vô.. Lại có khi chỉ là sự phá rầy của một cô em chồng quá quắt hay một bà mẹ chồng khắc nghiệt nhỏ mọn...

Hoàng Nga công bình, không luôn luôn đổ lỗi cho nam giới, và những người nữ của bà cũng có khi phạm vào những hoàn cảnh hay hành động 'không phải đạó. Hiện thực, bà không ngần ngại ghi lại những 'sai tráí của những nhân vật nữ mà bà tâm đắc. Truyện của bà có người đàn bà xốn xang thao thức khi nghe tin cố nhân tái xuất hiện tại một quận lỵ ven đô. Nàng vất vả dối chồng giấu con, thu xếp đi thăm chàng bằng cái vé xe đò trả bằng cả tuần lương vay trước, trong khi nhà không đủ gạo ăn trong cái Tết nghèo sắp tới... Đâu đấy trong tuyển tập có nụ tầm xuân, có cám dỗ ngoại tình, có giật người yêu của chị, có tất cả những thường tình có thể xẩy ra nơi người nữ, dù những thường tình ấy phù hợp hay không phù hợp với đạo lý quy ước.

Chỉ có điều trong những hoàn cảnh ngoài khuôn khổ, dù sa ngã hay cư xử cho phải đạo, hành động của họ vẫn có khả năng thuyết phục, vì họ chiến thắng hay quy hàng tội lỗi một cách không dễ dàng, với những dằn vặt, giằng co, trăn trở. Độc giả vừa cảm động vừa thích thú được khám phá cõi nhân tâm của những người đàn bà đi qua cuộc sống với hành trang nặng nề và vô lý nhất, trong đó những món kỵ nhau lại được gói chung với nhau. Nửa này là nữ tính, là lãng mạn đến thiết tha, nửa kia là lòng mơ ước một cung cách sống đạo lý đến khe khắt.

Cái buồn trong truyện Hoàng Nga mới đọc nghe nhẹ như tuổi thơ tỉnh nhỏ thanh bình. Tôi lật ngắm trang cuối tập truyện để tìm xuất xứ, thấy ghi tác giả sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng, nơi tôi đã có dịp ở nhiều năm. Tôi hơi ngạc nhiên, vì Đà Nẵng tôi biết bấy giờ còn là đô thị mang cái tên Tourane rất tây của thời Pháp tạm chiếm, Đốc lý còn là một sĩ quan lục quân Pháp, và cả thị xã chỉ có một truờng tiểu học dậy chương trình Việt. Học sinh sau tiểu học phải ra Huế, lên Đà Lạt, hay vào Sài Gòn học tiếp. Tôi còn nhớ phố chợ rất dễ thương với tiệm Tân Mỹ Photo trưng ảnh mấy mỹ nhân tỉnh lẻ, mấy thanh niên sơ mi cổ trần ngắn tay, lẫn lộn bên cạnh ảnh mấy sĩ quan Pháp hay Việt Binh Đoàn. Chân dung nào dù nam hay nữ, tây hay ta, cũng đều đặn lại hao hao giống nhau vì thợ ảnh hồi ấy có thói quen khi rửa phim dùng bút chì than điều chỉnh những nét gồ ghề của khách hàng. Lại có tiệm Chà bán vải đầy ắp những xấp gabardine hay sharkskin hợp thời trang, tiệm Alimentation Générale của chú Xồi thơm phức mùi cà-phê mới xay, mùi bánh mì mới ra lò, mùi nho khô, mùi phó-mát gruyère ai ải.Một trong những sinh hoạt lớn của tỉnh là Kéc-mét (kermesse, hội chợ) hàng năm vào dịp Cát-Tó Duy Dê (Quatorze Juillet) ăn mừng ngày phá ngục Bastille, do các nữ tu Thiên Chúa Giáo cộng tác với quân đội viễn chinh Pháp tổ chức. Cái đinh của hội chợ là đoàn xe tải nhà binh ngụy trang thành đoàn xe lửa đủ đầu tầu ống khói, hông xe dán băng vải kẻ hàng chữ lớn Tour De France, mỗi toa một chú Lê-Dương cao lớn lêu khêu giữ trật tự, khởi hành từ cổng nhà thờ chạy vòng quanh đô thị... Cả tỉnh không có lấy một tiệm sách Việt. Ấn phẩm Việt ngữ độc nhất là tờ nhật báo Thần Chung từ Sài Gòn gửi về.

Thật là bất ngờ khi Đà Nẵng sản xuất được một nhà văn nữ như Hoàng Nga, tác giả của một cuốn truyện không những hay mà còn nhuần nhuyễn Việt tính, từ tâm lý nhân vật cho đến bút pháp. Rồi tôi tự cười mình đã gần nửa thế kỷ qua, tôi đã không có dịp cập nhật kiến thức cũng như cảm nghĩ của mình với đô thị nàỵ

Nghĩ vậy, tôi gắng tìm nét Đà Nẵng như tôi biết ngày xưa trong tác phẩm Hoàng Nga, và tôi không phải tìm lâu. Cái buồn nhè nhẹ của tác phẩm Hoàng Nga bây giờ sao giống tiếng phi-lao hiu hắt của bãi biển Thanh Bình cuối hè khi cả Đà Nẵng sắp trở lại cái u hoài vô duyên cớ lẫn với cái uể oải thường lệ của một thị xã duyên hải. Còn nữa, cuốn sách làm tôi chợt nhớ lại một sự việc cỏn con quên bẵng đã lâu, vô tình mà liên hệ đến tác phẩm vừa đọc đang nằm trên bàn viết. Sự việc đó là một trò chơi nhi đồng tôi có dịp chứng kiến tại Cầu Chùa, một cây cầu gỗ có mái ngói tại Hội An, nhân một hôm Tết ghé về nhà anh bạn chơi.

Tôi muốn nói đến trò chơi 'giành cột' các em bé từ những phố xung quanh rủ nhau ra chơi hôm ấy trên cầụ Mỗi em dựa một cột, trừ một em không có cột đứng chơ vơ ở giữa. Một hiệu lệnh hô lên, và tất cả các em bỏ cột đang dựa để đổi lấy cột khác. Đó là dịp cho em đứng chơ vơ nãy giờ có cơ hội kiếm được cột dựa. Thoạt tiên tôi chỉ thấy chức năng giáo dục của trò chơi, chơi mà học đúng như các cụ vẫn nói. Trò giành cột tập luyện cho các em nhanh chân lẹ mắt, ước đoán được dự tính của người khác, và nhậy ứng để bắt lấy cơ hội khi cơ hội tới... Còn nữa, đó là trò chơi đầy lạc quan, lần này mất cột thì lần tới vẫn còn cơ hội kiếm được cột mới. Tái sắp xếp của tương lai luôn luôn còn đấy, và không có thất bại nào là thất bại vĩnh viễn...

Nhưng tôi chóng vánh thấy ngay cả tuổi thơ cũng có những cái buồn của nó. Một em bé gái cỡ mười một mười hai, tóc xõa ngang vành tai, xúng xính trong bộ cánh Tết như một cô Chiêu của truyện cổ tích. Em xinh đẹp, thông minh, nhưng trong cuộc chơi hôm ấy, em bị thủ vai không có cột dựa liên tiếp nhiều lần. Em bé gái không thiếu nhanh nhẹn, em chỉ thiếu một chút quả quyết, một chút 'nhẫn tâm', nếu nhẫn tâm có nơi tuổi thơ, để chen lấn xô đẩy hay thậm chí giằng áo bạn mà chiếm đoạt cái cột của mình. Gương mặt tiu nghỉu của em khi bơ vơ giữa Cầu Chùa làm tôi bỗng thấy cuộc chơi trẻ con không hẳn vô thưởng vô phạt. Tôi liên tưởng đến bói toán, đến tính tình và số phận con người thường phát hiện từ tuổi thơ, và tôi miên man nghĩ em bé gái sẽ lớn lên thành một người đàn bà thua thiệt, không hẳn vì kém nhan sắc hay tài năng, mà vì tâm địa hiền lành. Nhưng cảnh xuân hôm ấy đẹp và nhẹ nhàng, và tôi tự mỉm cười là mình tiểu thuyết hóa cái buồn con nít thành những bi ai không đâụ.. Hôm nay đọc Tháng Giêng Tháng Bẩy Buồn Như Nhau, chợt nhớ lại em gái nhỏ đất Hội An năm xưa, tôi chạnh nghĩ biết đâu em bé gái không quen Tết năm đó đã lớn lên để trở thành một nhân vật nữ của Hoàng Nga.

Giống như em bé thua cuộc trong trò chơi giành cột, những nhân vật nữ của Hoàng Nga là những ngưòi đàn bà thất bại trong oan uổng. Họ không làm chuyện gì bất công, không thô lỗ vụng về, mà trái lại dịu dàng và đầy nữ tính... Không chậm chạp hay ngu si, họ tế nhị, hiểu người, hiểu đời... Nhưng cũng như em bé chơi trò giành cột năm xưa, họ hơi thừa tự ái, tự trọng, và hơi thiếu một chút 'nhẫn tâm'. Chỉ cần chai sạn một chút, lì lợm một chút, rẻ tiền một chút là họ đã nắm được cái mà mọi người gọi là chiến thắng trong tình yêu. Nhưng họ đã không chai sạn nổi, không lì lợm nổi, không rẻ tiền nổi, vì họ không được huấn luyện, hay không có sẵn xu hướng tranh giành từ trong bản tính. Trong thực tế thường éo le và khó khăn của đời sống di tản hay ngay tại quốc nội, những đức tính ấy cồng kềnh quá và đã cản trở không cho họ nhanh tay chụp lấy 'hạnh phúc' khi 'hạnh phúc' lảng vảng xung quanh. Tựa hồ như họ sợ rằng nếu giật lấy thành công bằng mọi giá, họ không còn là họ, và hạnh phúc không còn là hạnh phúc sau chút thủ đoạn họ dùng để bắt được người đàn ông. Nhưng quân tử Tầu (chữ của Hoàng Nga), họ lại tiếc rẻ là đã không chai sạn, không lì lợm, không rẻ tiền để cố đấm ăn xôi. Tiếc rẻ để mà tiếc rẻ, vì nếu cơ hội trở lại, thì người đàn bà ấy sẽ cư xử in hệt như đã cư xử, và vẫn trắng tay...

Thật ra truyện của Hoàng Nga buồn hơn cái buồn của trò chơi giành cột. Hai cái buồn chỉ giống nhau ở chỗ hàm oan, giống nhau ở chỗ thất bại vì tâm địa không chịu bon chen xô lấn. Nhưng cái đau của người đàn bà thua thiệt trong cuộc sống khác hẳn cái buồn man mác của em bé không chiếm được cột dựa trong trò chơi nhi đồng. Những phũ phàng cay đắng mà nhân vật nữ của Hoàng Nga trải qua không phải là cái đau mọc răng sữạ Nó là cái đau đoạn trường, nếu được phép mượn chữ của cụ Nguyễn Du.

Cái đau mới trông đã tưởng như nhẹ nhàng chẳng qua là vì Hoàng Nga ngụy trang nó bằng một văn phong không bi ai, không cường điệu, không van xin, không nguyền rủa, mà cũng không rên xiết. Trong những cảnh quyết liệt của ly dị hay bội bạc, phản ứng của nhân vật nữ của Hoàng Nga vẫn gần như nhẹ nhàng. Họ gượng một câu bông đùa, họ gượng một nụ cườị Vậy mà câu bông đùa nghe kỹ có nghẹn ngào, và nụ cười nhìn kỹ có ngấn nước mắt. "Sad clown's smile" tôi nghĩ đến một hình tượng đọc đâu đấy trong văn học nước ngoài để so sánh với nụ cười của nhân vật nữ trong truyện của Hoàng Nga. Chú hề ruột gan rối mù vì tang thương bản thân, vẫn ráng nụ cười rộng đến mang tai để làm vui khán giả. Chú lừa được khán giả nhẹ dạ, nhưng trên khuôn mặt vẽ đậm nụ cười giả, đôi mắt chú là đôi mắt của một sinh vật trúng thương, mở cửa cho thấy một tâm hồn tan tác bầm dập.

Chú hề mua vui cho khán giả, còn nhân vật của Hoàng Nga mua vui cho người yêu vừa phụ mình. Thật ra người đàn bà không chủ tâm mua vui, mà vận dụng chút sinh lực cuối cùng để trấn an kẻ tình phụ mà nàng vẫn còn yêụ Không giữ được người đàn ông, nhân vật nữ của Hoàng Nga vì tự ái, hay vì độ lượng, hay vì từ bi, đã nấu bữa cơm ly biệt bằng những món gừng cay mắm mặn thích khẩu của chàng. Với nụ cười gượng và câu bông đùa, người đàn bà như nói, 'Em trúng thương rồi, nhưng em biết anh không có cách khác. Anh yên tâm, em không đau lắm, em không sao đâu, anh yên lòng mà đi...'

Chính bông đùa ấy, nụ cười ấy đã làm nhân vật nữ của Hoàng Nga đẹp vô vàn. Nhưng phân tích lại thì tôi ghi nhận một sự ngạc nhiên. Hoàng Nga tạo ra những nhân vật nữ xinh đẹp mà không cho họ một chân dung. Bà không dành bao nhiêu chữ, gần như không dành chữ nào cho khóe hạnh nét ngài, hay mái tóc huyền làn da trắng, hay đường môi quả tim của họ. Bà cho họ một nội tâm sáng láng, và cái nội tâm này có khả năng làm rạng rỡ mọi dung nhan. Cái tốt đẹp bỗng có mắt, có môi, có da, có thịt, và những nhân vật nữ trở thành sống động trong trí tưởng tượng của độc giả, hiển hiện với chân dung mượn từ kinh nghiệm sống riêng hay hư cấu của mỗi người.

Tôi đọc lại lần thứ hai tập truyện của Hoàng Nga để tìm một số trích đoạn, thông lệ trong vụ điểm sách. Và tôi khám phá rằng trích đoạn truyện của Hoàng Nga không hẳn là dễ. Hoàng Nga không gửi gấm tâm sự bà trong những những câu nẩy lửa hay triết lý ồn àọ Tuyệt nhiên tôi không tìm được những câu đại loại như 'thân phận đàn bà thời loạn' , hay 'tư cách của đàn ông không khác gì cái chung thủy của họ', hay 'ôi cao quý thay, trăn trở thay cái tình mẫu tử thiêng liêng' để tiêu biểu cho văn phong hay nhân sinh quan, vũ trụ quan của bà.

Tất nhiên là văn của Hoàng Nga, nhất là văn đối thoại, có những câu cường điệu, hay nhí nhảnh, hay dí dỏm, hay ngộ nghĩnh, hay có khi ủy mị nữạ Những câu như vậy bà dùng để xây dựng sự thật tâm lý của nhân vật và đã thành công. Lẩy những câu ấy ra khỏi văn cảnh là lẫn lộn quan điểm của nhân vật bà với quan điểm của chính bà.

Có lẽ tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để bàn đôi lời về đối thoại trong tiểu thuyết hay ngoài đời. Lỗi lầm thông thường của tiểu thuyết dở là không để cho nhân vật phản ánh cái nhìn của nhân vật, mà lại nói lên cái nhìn của tác giả, hay nguy hại hơn nữa cái phán xét của tác giả về chuyện phải trái ở đời. Thành thử nhiều khi một đám nhân vật khác nhau mà phát biểu hoàn toàn giống nhau, vì họ cùng nhất quán nói giùm cái nhìn của tác giả, hay phát huy những chân lý mà tác giả cho là tuyệt đối. Truyện như vậy đọc chán lắm. Còn nữa, ngôn ngữ của đối thoại không phải để hiểu theo nghĩa đen của từ. Sự phát biểu của nhân vật không phải để truyền thông sự việc một cách máy móc. Tôi xin lấy thí dụ, khi nhân vật người vợ hỏi chồng vừa đi làm trễ về 'Mấy giờ rồi anh?', bà ta hỏi không phải vì không có đồng hồ, mà dụng ý là muốn ghi nhận là chồng đi làm về quá trễ và trông đợi hay đòi hỏi một giải thích thỏa đáng. Nếu câu trả lời của người chồng là 'Bây giờ là tám giờ hai phút, sáu giây, em ạ' , cuộc đối thoại sẽ hoàn toàn ngô nghê, và sự ngô nghê sẽ vô cùng nhàm chán nếu không còn dụng ý gì khác. Thật ra, đối thoại của nhân loại trong hay ngoài tiểu thuyết phần lớn là những câu nói xéo, phản ánh quá trình liên hệ giữa người nói và người nghe. Cái xéo của ngôn ngữ có thể ác hay hiền, có thể đằm thắm dịu dàng, hay cay đắng oán trách, tùy theo quá trình liên hệ. Hay rộng hơn, nó còn phản ánh cái tâm của hai người đối thoạị Giả dối hay cường điệu, ích kỷ hay vị tha, duyên dáng hay thô bạo, cái xéo của đối thoại sẽ đem lại xương thịt, thậm chí linh hồn cho nhân vật. Tôi nghĩ Hoàng Nga đã thành công trong việc xử dụng cái xéo của ngôn ngữ để xây dựng những nhân vật nữ đầy sinh khí, điều kiện cần và đủ của những tác phẩm thành công. Câu bông đùa hay nụ cười gượng trong nước mắt của người đàn bà bị tình phụ chính là cái xéo của ngôn ngữ bằng lời hay khôn lời được Hoàng Nga xử dụng đến chỗ tinh vi.

Ngôn ngữ như vậy tất không thể lẩy riêng ra từng phần để trích diễn. Trong những truyện thật thành công của bà, cái hay rành rành ra đấy nhưng lại không dẫn chứng được bằng một đoạn, một câu, hay một từ. Từng từ, từng câu, từng đoạn, phần trước hổ tương chặt chẽ với phần sau, trong sự cấu trúc hài hòa toàn bộ của tác phẩm. Trích ra khỏi văn cảnh, cái hay hư hao đị Tựa như dù có xòe ra nắm lông công mới nhổ cho bạn coi, người thợ săn không thể nào kể lại được hết cái đẹp vô vàn khi con công còn sống đang múa trên rừng.

Điểm sách, thông lệ là phải cả khen lẫn chê, dù chữ chê có ngụy trang bằng những mỹ tự như phê bình xây dựng, như trao đổi, như nêu lên câu hỏi để khai triển điểm này điểm nọ với tác giả. Vậy thì tôi chê Hoàng Nga gì đâỵ

Có lẽ tôi đề nghị xây dựng là có truyện hơi nhiều nhân vật quá, như truyện Chị Em, làm người đọc rối mắt. Một thí dụ khác là truyện Một Đời Khôn Cùng. Người đàn ông ôm giỏ nhựa giấu xác con trong chuyến xe đò chật chội là một nhân vật phụ quá bất thường, quá đặc biệt, và cái chết dấm dúi của em bé quá quan trọng để ngoan ngoãn đóng vai một sự kiện phụ. Để người phụ việc phụ quan trọng như thế làm hư hao tư thế nhân vật chính của người đàn bà trốn chồng con đi tìm gặp cố nhân, nội tâm giằng co giữa tiếng gọi con tim và lòng tiết hạnh.

Sau cùng, có lẽ đại diện độc giả phái nam tôi cũng nên than phiền là những nhân vật đàn ông trong truyện Hoàng Nga tuy hợp lý nhưng sao hơi thiếu chất muối. Họ có thể gọi là nhạt. Họ còn như thiếu chất vôi và cột sống họ xem ra thiếu cứng cáp. Tốt thì cũng tốt một cách xoàng xoàng, mà xấu thì cũng xấu một cách xoàng xoàng. Không có ai sắc sảo. Tôi không tin cuộc sống chỉ toàn những người đàn ông 'giẻ rách' không có gì đáng nói. Kinh nghiệm sống của một người viết điêu luyện tất phải súc tích, và trong kho chất liệu tích lũy của tác giả hẳn không thiếu gì chân dung tâm lý của những con người đặc biệt. Bao giờ Hoàng Nga cho họ xuất hiện trong tác phẩm của bà?

Tổng hợp lại những khen chê, tôi xin nhắc lại ý anh Võ Phiến là "Hoàng Nga viết rất hay" Và tôi nói thêm đôi lời. Tôi mong được thấy thêm những truyện có giá trị như vậy, viết bằng một tấm lòng như vậy và một bút pháp tinh vi mà giản dị như vậỵ Những tác phẩm như Tháng Giêng Tháng Bảy Buồn Như Nhau vẫn còn là những nhu yếu phẩm văn học khan hiếm trên văn đàn Việt ngữ, quốc nội cũng như hải ngoại

MKN

Thàng giêng tháng bảy buồn như nhau

 

thanggiengthangbaybuonnhunhau-content


Hoàng Nga


Tôi với Phú là bà con bắn một trăm quả đại bác không tới. Sở dĩ còn biết tên nhau là vì mẹ Phú buôn bán chung với ba mẹ tôi. Lúc nhỏ, tôi hay nghe chị Thu, mẹ Phú, than thở về ông con trai duy nhất không chịu học hành tử tế, chỉ ham nhảy đầm, tụm năm tụm bảy với một đám bạn rặt khuôn. Tôi không biết mặt Phú dù nhiều lần đến nhà chị Thu.

Năm tôi lên đệ tam mà ba mẹ tôi vẫn bắt anh Chuân đón đưa đi về học. Anh Chuân rầu rĩ vì giờ giấc bắt buộc mà tôi cũng quê với bạn bè. Tôi "xuống đường" liên miên nhưng vẫn không thay đổi được ý của ông bà cụ.

Một hôm, anh Chuân đến đón tôi, kèm theo một ông lính Không quân cao lớn đẹp trai. Anh giới thiệu:

- Phú, con chị Thu. Còn đây là dì Oanh. Trưa nay tao kẹt công chuyện, Phú đưa mày về.

Tôi ngỡ ngàng nhìn Phú. Bởi Phú trong trí tôi hoàn toàn khác. Phú phải như đám con trai yé yé trong trường, tóc dài chấm vai, áo sơ-mi phanh ngực, chứ đâu phải là một ông lính, lại là lính Không quân, lớn hơn tôi gần chục tuổi, phong cách chững chạc, lịch sự vượt mức tưởng tượng của tôi.

Anh Chuân sau khi để lại lời cám ơn tên bắn là vọt đi mất như sợ Phú đổi ý. Phú nhìn tôi cười:

- Mời dì.

Tôi cũng bật cười, ngập ngừng leo lên ngồi phía sau xe. Phú chạy chiếc vespa màu lam nhạt. Khi ga vừa rú lên là đám bạn tôi ồ xào phía sau lưng như mưa rào. Có đứa còn gào lên "Ai vậy Oanh ơi" om sòm.

Phú chạy xuống con đường dọc bờ sông. Ngang qua dãy quán nước dừa lộ thiên, Phú đưa mắt nhìn những cặp tình nhân ngồi bên nhau rồi cười cười hỏi tôi:

- Dì có bồ chưa?

Tôi đáp vội:

- Chưa. Còn nhỏ mà.

Phú tỉnh bơ:

- Cỡ tuổi dì nhiều cô có bồ rồi. Dì đẹp, sức mấy mà chưa.

Tôi đỏ mặt la lên:

- Ba trợn, chưa có. Nếu có đâu để anh Chuân đưa đi học.

- Ông bà bắt chứ bộ dì tình nguyện để cậu Chuân chở đi sao!

Tôi bặm môi:

- Ông Chuân cũng có bồ. Ông bắt thì bắt nhưng nếu tui có, tui điều đình với ông Chuân không được sao.

Phú bật cười, giọng cười dòn như nắng vỡ:

- Có lý. Tin dì một nửa. Nửa kia để kiểm tra lại. Dì có bồ, chở dì đi kiểu này có ngày bị ăn gậy.

Tôi bĩu môi:

- Tui có bồ thì bồ tui cũng hiền queo. Chứ ai như Phú, còn đi học mà bày đặt mang dao vào lớp để bị đuổi.

- Ý a! Sao dì rành quá vậy?

Tôi phì cười:

- Chị Thu kể.

Phú cười theo. Không hiểu sao tôi thấy Phú rất gần gũi, như đã biết từ lâu rồi vậy. ễ Phú có cái gì đó, không khô khan như anh Chuân, không ghê gớm như lời chị Thu kể lể về ông quí tử của mình.

Trưa đó Phú ở lại nhà tôi ăn cơm, chiều đưa tôi đi học thêm lần nữa. Đám bạn tôi chặn ngay trước cổng bắt tôi khai về Phú. Nói Phú là cháu, chẳng đứa nào tin. Đoan chọc tôi:

- Vậy thì mày cho phép tao gọi mày là dì nhé!

Tôi cười. Gần hai tháng sau, tôi mới có dịp gặp lại Phú để kể cho Phú nghe chuyện mấy nhỏ bạn xí xọn nghi Phú là bồ tôi, ngày nào cũng réo tên Phú ra chọc. Phú bảo anh Chuân để Phú đến đón tôi buổi chiều đó.

Tôi dắt đám bạn ra trình diện Phú. Tôi hỏi:

- Hôm nọ đứa nào đòi làm cháu tao đâu?

Cả lũ im re, cứ dúi vào lưng nhau cười khúc khích. Lâu sau, Huy Đông huých Đoan một cái:

- Hôm nọ con nhỏ này hùng hổ lắm mà...

Đoan đỏ mặt la ơi ới, và đấm vào vai Đông túi bụi. Phú cười cười quan sát Đoan, Huy Đông và cả bọn rồi rủ chúng tôi qua đường ăn kem. Đám bạn tôi lao nhao thân thiện với cháu Phú của tôi ngay. Tụi nó gọi Phú bằng anh, xưng tên. Phú gọi lại các cô, xưng tôi như gọi tôi là dì Oanh, xưng tôi vậy. Lúc đưa tôi về, Phú khen đám bạn tôi dễ thương. Phú ở Sài gòn lâu, về thấy con gái miền Trung đi học mặc áo dài trắng, quần trắng thì thích lắm.

Phú hỏi tôi:

- Dì là cái gì Oanh?

Tôi đáp "Thôi Oanh Oanh", Phú cười. Lát sau Phú hỏi:

- Dì cũng đọc truyện Tàu nữa hả?

- Không. Ông Chuân đọc, đọc theo thôi.

- Dì đứng nhất luôn không?

- Nhất hoài... Còn Phú chắc chót hoài phải không?

Phú cười:

- Không. Còn một thằng nữa. Giờ nó cũng đi pilot.

Tôi khúc khích:

- Sao ngành này nhiều người đội sổ quá vậy?

Phú không biết trả lời sao, chỉ cười. Chúng tôi cứ nói chuyện không đâu nhưng thật vui. Thỉnh thoảng Phú từ phi trường chạy ra chỗ anh Chuân uống cà phê rồi đến đón tôi về học. Nhiều hôm Phú còn mặc đồ bay. Lúc này đám bạn tôi đã thân với Phú lắm rồi. Lần nào thấy mặt Phú, tụi nó cũng bắt Phú dẫn đi ăn chè. Huy Đông hỏi đùa tôi:

- Mày hỏi xem thử đứa nào trong tụi tao được lọt vào cặp mắt nâu của ông cháu mày nhé!

Tôi nói lại với Phú. Phú cười cười. Tuần sau Phú ra bằng xe jeep, đưa cả bọn đi uống cà phê ở một quán sang nhất thị xã, có cái tên rất ư là Tây: quán Danube. Phú hỏi chuyện mấy đứa lung tung, khéo léo bắt các cô khai ra có mấy anh theo tán tỉnh, trồng cây si. Lũ bạn tôi u mê khai thật hết. Sau đó Phú chở từng đứa về nhà. Lúc còn lại mình tôi, Phú hỏi:

- Dì đoán xem cô nào lọt vào mắt cháu dì?

Tôi ư ư trong cổ họng, nhớ lại từng cử chỉ, từng lời nói Phú đối với từng đứa. Thục thì Phú khen hiền. Đoan nhạy cảm. Đông nhí nhảnh dễ thương. Trúc Quỳnh dịu dàng. Và tùy theo tính tình mỗi đứa, Phú có cách ứng xử khác nhau. Phú khôn quá. Tôi nói. Phú cười, quay nhìn tôi giây lâu rồi tiếp tục lái xe. Tôi đặt hai tay lên cặp, níu lấy sợi giây khoá. Trời nắng hanh, và dù đang ngồi vững vàng trên ghế xe jeep mà tự dưng người tôi cũng run bắn lên. Cái ánh mắt lấp lánh vui và long lanh hạnh phúc của Phú làm tôi không dám nói thêm với Phú lời nào. Lần đầu tiên tôi cảm thấy hết sức bối rối, cái lém lỉnh cố hữu tự dưng tan biến mất. Tôi thật sự mất bình tĩnh trước Phú.

Phú đưa tôi về đến cửa nhà. Vẫn không hẹn bao giờ sẽ gặp lại, nhưng tự dưng Phú bảo tuần sau Phú phải bay. Tôi sựng lại rất lâu trước khi chúc Phú may mắn. Phú đáp cám ơn dì và lặng lẽ quay đi.

Tôi xuống xe, bước chân gấp gáp lên thềm. Có cái gì chùng xuống thật sâu trong tôi. Tuần sau Phú bay. Có nghĩa là tuần sau Phú sẽ tham dự một trận đánh nào đó. Có nghĩa là tôi sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại Phú nếu bất trắc xảy ra. Có nghĩa là thần chết đang rình mò đâu đó trên đường bay, trên nhịp thở của Phú. Tim tôi đập nhanh và tôi hoảng hốt quay lại nhìn. Nhưng trên đường đã không còn bóng xe của Phú. Cũng chẳng còn hạt bụi nào rơi rớt lại để tôi có cớ đổ cho những hạt nước mắt vừa long lanh.

Tôi sống trong tình trạng như vậy đến suốt mấy tuần sau đó. Lần nào thấy bóng chị Thu, tôi cũng cuống quít, hồi hộp quan sát. Chỉ sợ chị khóc lóc thảm thiết báo tin bất thường. Nhưng không. Chị Thu tươi tỉnh lắm. Khoảng hai tuần sau khi Phú hành quân về, chị lại nhà tôi ăn cơm trưa. Chị khoe:

- Kỳ này con bắt thằng Phú đi hỏi vợ. Hôm nọ nó ra trận, con lo gần chết, mất ăn mất ngủ cả tuần. Gia tài con vỏn vẹn mình nó nên không yên cậu ơi. Con mới dẫn nó đi coi mắt con ông dược sĩ Khanh. Cô cậu đẹp đôi lắm. Con bé còn một năm nữa là ra trường...

Tôi ù tai. Miếng cơm trong cổ nghẹn cứng không chịu trôi xuống. Phú đi hỏi vợ. Thảo nào Phú về bình yên mà không cho tôi hay. Thảo nào mà đám bạn tôi không đứa nào lọt vào mắt Phú! Lòng tôi rưng rưng. Phải gắng lắm tôi mới ăn xong bữa. Có chị Thu, tôi không phải giúp mẹ rửa chén, nên tôi vội vã chạy lên lầu nằm vật ra khóc. Vậy đó mà tôi đã lo lắng, sợ hãi cho Phú bao nhiêu ngày. Vậy đó mà tôi đã ròng rã mất ăn mất ngủ mấy tuần nay. Phú đi hỏi vợ, không kèn không trống, không một lời báo tin cho tôi hay...

Tôi nằm mãi đến năm giờ chiều. Hai mắt tôi sưng lên và đầu nặng trĩu. Sau cùng, khi nghe tiếng chân mẹ tôi ra khỏi nhà, tôi mới len lén xuống bếp rửa mặt. Nhưng xui cho tôi, tôi đụng ngay anh Chuân ở cửa bếp. Anh hoảng hốt, ngạc nhiên nhìn tôi hỏi chuyện gì. Tôi không biết trả lời anh ra sao, nhưng nghe anh hỏi giọng lo lắng, dưng không tôi tủi thân quá và lại oà lên khóc. Tôi làm anh Chuân lo sốt vó. Mãi về sau tôi mới sực nhớ ra tôi vừa bị sụt hạng tháng này nên sụt sùi bịa đặt kể lể với anh Chuân. Anh hoàn hồn, vỗ vai tôi an ủi:

- Mày ít khi bị hạng nhì nên thất vọng nhiều vậy, chứ người ta chỉ cầu được vậy thôi.

Rồi bỗng dưng anh cười:

- Cỡ thằng Phú ngày xưa thì được hạng ba mươi cũng mừng chết rồi.

Lại Phú. Tôi cười mếu. Phú học dốt. Phú cà chớn. Phú ba trợn. Phú là nguyên nhân của những giọt nước mắt "thất vọng" này của tôi. Phú vậy đó mà tôi đã để lòng lo lắng cho Phú. Phú vậy đó mà ngang nhiên phá sự bình yên của tôi trong nhiều ngày nay. Cả buổi chiều, tôi cứ cố dối lòng, tự cho mình bị tổn thương tự ái vì tôi biết cái tin Phú sắp lấy vợ qua chị Thu mà không phải do Phú nói...

Tôi lau nước mắt. Phú lấy vợ. Thế là chấm hết. Chấm hết những hôm Phú đón đưa về học. Hết những buổi ngồi đấu láo chuyện nọ chuyện kia. Hết những lo lắng, sầu não, bồn chồn. Hết cả những tiếng thở dài sâu nặng không hiểu vì sao. Tôi ngước mắt nhìn anh Chuân, bảo với anh, tôi đi học bài và sẽ trở về vị trí hạng nhất cố hữu của mình vào tháng tới, như tự hứa với chính lòng mình.

Tôi lên lầu học một mạch bài vạn vật ba trang giấy không sót một dấu chấm dấu phảy. Nhưng khi không còn gì để học nữa, tôi mới thấy lòng quạnh quẽ, trống trải. Phú cứ ẩn hiện đâu đó, với nụ cười tươi tắn, với ánh mắt nâu tinh nghịch như cố tình làm tôi sầu não, héo hon.

Tiếp những ngày sau đó tôi đi học trong tâm trạng hết sức bối rối, bần thần. Tôi chẳng hề để ý bạn tôi đã có đứa nghỉ học không có lý do. Tôi với nỗi buồn riêng mang nên không hề biết cuộc chiến đã bắt đầu thay đổi. Thị xã tôi ở và miền Trung nói chung vào những ngày đầu tháng ba đã xuất hiện những sinh hoạt không bình thường. Người ta đã lục tục di tản vào phía nam. Nhiều nơi trong thành phố treo bảng bán nhà và nhiều hàng quán lớn đã đột ngột đóng cửa. Tình hình mỗi ngày một xấu hơn, nhưng tôi cứ ủ rũ buồn bã, cứ mong ngóng một cái tin nào đó của Phú, dù vui hay buồn. Tôi chỉ lặng lẽ theo dõi chị Thu chạy lên chạy xuống rỉ tai bàn tán với ba mẹ tôi mà cứ tưởng tượng chị đang lo bề gia thất cho Phú.

Tôi hoàn toàn không hề biết lính bị cấm trại và hành quân liên miên. Mãi cho đến hạ tuần tháng ba, khi tận mắt chứng kiến người người tay bồng tay dắt, vai xách nách mang tản cư lũ lượt trên đường, tôi mới biết Quảng Trị đã mất và Huế đang bị đe dọa trầm trọng. Người ta đổ về thành phố tôi y hệt hồi bảy hai. Chiến tranh đã đến giai đoạn quyết liệt nhất, tôi mới sửng sốt nhận ra. Tôi thức suốt đêm hôm đó. Sáng hôm sau tôi đến trường trong tình trạng rã rời. Thành phố cũng rã rời như tôi. Sân trường vắng hoe và nghe đâu vài trường khác đã bắt đầu đóng cửa để tiếp người tản cư. Hai giờ Anh văn của lớp tôi không có thày dạy. Tôi lặng nhìn từng chỗ ngồi của bạn bè. Nhiều đứa đã không đến lớp. Thục, Đoan và Trúc Quỳnh không biết đang ở đâu. Tôi xót xa nhận ra sự thờ ơ, vô tâm của mình.

Huy Đông rủ tôi bỏ hai giờ Việt văn còn lại. Hai đứa lang thang xuống sân trường rồi xuống phố. Phố xá buồn tênh, vắng lặng như không còn sức sống. Lòng tôi oà vỡ. Lần đầu tiên trong đời, tôi có ý niệm về chiến tranh và sự tan tác phân ly. Tôi nhớ đến lời những đứa bạn còn lại bàn tán trong lớp sáng nay và tự hỏi tôi sẽ sống như thế nào nếu người phía bên kia về chiếm thành phố?

Tôi đi bằng đôi chân hoang mang đến tột độ. Và khi về đến nhà, lòng tôi càng hoang mang hơn. Ba mẹ và anh Chuân không có nhà để chia sẻ với tôi sự sợ hãi. Tôi cứ ngồi lặng trên bàn học, nhìn mớ sách vở, và trong những tận cùng ấy, tôi nhớ Phú thiết tha. Tôi nhận ra cái nghiệt ngã của đời sống, cái nghiệt ngã của chiến tranh. Tôi tự hỏi không biết giờ ấy Phú làm gì. Có ai, thượng đế hay thần thánh nào che chở cho Phú thoát khỏi lưỡi hái của tử thần hay không!

Vào một ngày áp chót của tháng ba, khi lòng tôi đã thật sự dẫy chết như cái không khí hấp hối của thành phố thì Phú xuất hiện. Phú đến như một cơn lốc, Phú lao vào nhà tôi, trên người còn khoác bộ quân phục khét nắng. Phú đen sạm và hốc hác đến kinh người. Chỉ vừa kịp hỏi ba mẹ tôi đâu mà không cần nghe trả lời, Phú lao đến ôm chặt tôi. Phú nói như điên như cuồng:

- Đi, dì đi với Phú. Ông bà không chịu di tản thì dì phải di tản với Phú. Phú không thể nào rời nơi đây mà không có dì, dì hiểu chưa? Tôi hoảng hồn. Tôi sửng sốt. Vì sự có mặt quá bất ngờ của Phú. Vì cái hành động không đoán được của Phú. Và vì cả sự choáng ngợp trong tôi. Phú đẩy tôi vào phòng học, hôn như mưa bấc lên mặt, lên môi tôi. Phú nơi như trong cơn điên:

- Dì đi với Phú! Dì phải đi với Phú! Phú suy nghĩ kỹ rồi. Ra sao thì ra nhưng không có dì thì Phú không thiết sống nữa, dì hiểu chưa? Tôi bủn rủn trong vòng tay và trong môi hôn của Phú. Mãi lâu sau tôi mới sực tỉnh, dùng hết sức mình để đẩy Phú ra, sợ hãi:

- Phú điên rồi!

Và tôi ứa nước mắt. Bấy giờ mới đến lượt Phú sựng lại. Phú chăm chăm nhìn tôi bằng ánh mắt sửng sốt, bàng hoàng. Tôi lắp bắp bảo với Phú là tôi không muốn đi đâu hết. Hai bàn tay tôi bấu chặt vào mép bàn. Tôi nhìn Phú trân trân.

Sau cùng, như đã lấy lại được bình tĩnh, Phú bước tới, đặt tay lên tay tôi, và nói:

- Phú xin lỗi dì. Nhưng Phú cùng quẫn rồi. Mỗi ngày Phú nhìn thấy đồng đội mình ngã xuống. Phú buồn và cả sợ hãi. Không phải Phú sợ cho Phú nhưng Phú sợ cho dì, cho những người ở sau mặt trận. Đến giờ này thì chắc Phú không cần nói dì cũng hiểu Phú nghĩ sao về dì. Phú đã cố gắng để lìa xa dì, nhưng càng ở trong tình trạng dao động, Phú càng nhớ dì. Ông bà nhất định không đi. Ông hy vọng tình thế sẽ thay đổi, nhưng Phú có linh tính là mình bó tay rồi. Phú trốn ra vì sợ không còn có dịp gặp dì. Chuyến bay này là chuyến cuối cùng rời thị xã...

Phú còn nói gì đó, nhiều nữa nhưng tôi không nghe được gì. Tôi chỉ khóc. Và rồi tôi không biết chúng tôi chia tay nhau ra sao, Phú về như thế nào. Chỉ biết tôi cương quyết từ chối không đi với Phú. Và khóc.

Tôi khóc rất nhiều ngày sau khi đất nước đổi cờ. Những năm tháng đầu tôi đau đớn khổ sở vì cơm áo bi đát và vì hối hận đã không nghe lời Phú di tản. Không ai biết tôi quắt queo, mòn héo vì hình ảnh Phú. Tôi lao vào đời sống, đánh đấm với khoai sắn, vật lộn với chủ nghĩa Mác-Lênin ở trường Cao đẳng Sư phạm với mục đích duy nhất là quên Phú để tồn tại. Hai năm sau tôi ra trường, vừa đi dạy vừa thâu hụi, buôn lậu thuốc tây. Tôi lam lũ cơm áo và tôi kiếm sống được qua ngày. Kể ra so với bạn bè, tôi vượt lên khá xa vì sự bương chải của mình. Tôi đã không ngắc ngoải trong cái xã hội kinh hoàng ấy. Và tôi cũng không nửa điên nửa dại với mối tình mà tôi cưu mang.

Tôi hết khóc sau nhiều năm nhận ra rằng tôi đã không dám làm một Juliet thì Phú không thể là một Romeo. Tôi lấy chồng. Ngày cưới tôi, chỉ mình Huy Đông xoay đủ tiền xe để vào Sài gòn dự. Hai đứa tôi nằm nói chuyện với nhau cả đêm. Nhắc nhở đủ điều về những ngày còn đi học ở Đà Nẵng. Mấy lần tôi định kể cho Đông nghe cái kỷ niệm thật óng ả nhưng cũng rất ngậm ngùi của mình mà lòng cứ rưng rưng, lời cứ chực tràn ra trên môi mà không hiểu sao tôi không nói được.

Mười năm sau, sau ngày chúng tôi chia tay nhau, Huy Đông gửi cho tôi một lá thư từ nơi nó mới định cư. Đông viết:

"Chiều hôm qua, một buổi chiều giữa đất trời rộng mênh mông và xa lạ như thế này thì tao gặp lại Phú. Phú của mày đấy Oanh ạ. Giữa một rừng người không quen, chúng tao nhận ra nhau và la lên ơi ới. Tao không ngờ Phú còn nhớ tao. Anh ấy già và phong trần nhiều lắm. Tao rủ Phú vào uống cà phê ở một cái quán Việt Nam để nhớ mày. Phú cho tao biết Phú đã không liên lạc với gia đình mày nhiều năm nay là vì muốn quên mày. Từ ngày ấy, tao đã biết Phú yêu mày nhưng thật tình là tao không ngờ Phú yêu mày đến độ ấy. Phú cho tao xem một tấm thẻ học sinh cũ của mày, có dán tấm hình mày còn con nít ơi là con nít. Mày đẹp thế mà chụp hình buồn cười không chịu được. Tao bàng hoàng đọc tên mày, nhìn mặt mày, ngó nét chữ tròn trĩnh dễ thương của mày. Tấm thẻ học sinh cũ nằm trong đống thẻ visa, master card của Phú làm tao rưng rưng. Tao không muốn kể cho Phú nghe rằng mày đã có gia đình, có hai đứa con thật dễ thương. Cũng như tao không muốn kể cho mày nghe chuyện tao gặp lại Phú nơi này. Nhưng đó là cuộc sống, phải không? Tao biết là tụi mình đã qua tuổi ba mươi, mày sẽ kiên nhẫn đọc hết cái thư này của tao, và đâu đó trong trái tim mày, chút bùi ngùi xúc động đưa lên, mày sẽ khóc hay sẽ mỉm cười. Cười chứ, phải không Oanh? Dù là cười buồn. Nhưng sống trong xã hội mày đang sống, cười buồn cũng còn hơn là khóc mếu, nhỏ nhỉ..." Tôi xếp lá thư của Đông lại, cất vào cái hộp gỗ kỷ niệm thời còn đi học. Chắc để làm chứng tích cho tình yêu tôi ngày ấy. Phú, Phú có được tấm thẻ học sinh cũ của tôi để lâu lâu mở ra nhìn; còn tôi, chắc chỉ có một nụ cười buồn cho Phú mà thôi...

Hoàng Nga

Reader's Comment
Thursday, October 6, 20117:00 AM
Guest
It's about time smeoone wrote about this.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, February 18, 202011:38 AM(View: 49)
(h. NVS) Tập truyện Khói Sóng Trên Sông gồm 14 truyện ngắn về hai chủ đề chính: quê người và quê nhà. Hãy nói chuyện quê người trước. Truyện Khói Sóng Trên Sông là truyện cuối được dùng
Sunday, February 9, 20207:12 AM(View: 78)
Nhà văn Hồ Trường An vừa qua đời tại Troyes nước Pháp ngày 27.1.2020. Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang (Quâng), sinh năm 1938 tại Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long. Ông tốt nghiệp Khóa 26 (1968) Trường Bộ Binh Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu
Wednesday, February 5, 20208:20 PM(View: 61)
Mặc dù vắng bóng đã lâu, song hoàn toàn có thể nói trên phương diện văn chương, Lê Văn Trương vẫn có một cuộc sống riêng, nối tiếp, thay đổi, mỗi thời người ta lại nhìn nhận về ông
Friday, January 31, 20207:53 AM(View: 351)
Nhà thơ Thành Tôn tên thật là Lê Thành Tôn sinh ngày 9 Tháng Chín, 1943, tại xã Lộc Phước, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thành Tôn sống tại quê nhà qua hết cấp tiểu học tại gia rồi vào trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ. Năm 1960, Thành Tôn trở lại Hội An,
Thursday, January 30, 20205:46 PM(View: 103)
Hồ Trường An là một tác giả có sức sáng tác sung mãn và liên tục có mặt trong cả 20 năm văn học miền nam và hơn 30 năm văn học ở hải ngoại. Vừa là nhà văn, nhà thơ, người nhận định văn học và âm nhạc, những tác phẩm phong phú và đa dạng của ông