DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,775,433

Đến già mới chợt tỉnh - Tống Văn Công

20 Tháng Tám 20177:57 SA(Xem: 1187)
Đến già mới chợt tỉnh - Tống Văn Công

Đến già mới chợt tỉnh


Image result for đến già mới chợt tỉnh
Image result for tống văn công
tống văn công



TRƯỚC KHI VÀO CHUYỆN



Ngày 25 tháng Hai năm 2014, tôi gởi “Lời Chia Tay Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Sau đó, nhận được nhiều ý kiến rất khác nhau. Giáo sư Tương Lai, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Chu Hảo mừng cho tôi đã xong trách nhiệm của một đảng viên 56 tuổi Đảng. Nhà báo Kha Lương Ngãi, nhà văn An Bình Minh chia sẻ: “Như phải ly dị sau cuộc hôn nhân dài 56 năm, dù trút được gánh nặng, nhưng sao khỏi chút bùi ngùi”! Nguyên chủ bút báo Tin Sáng Hồ Ngọc Nhuận: “Đọc Lời Chia Tay, tôi rất vui, bởi nó đóng góp cho dân chủ hóa đất nước.” Nhà văn Thái Bá Tân đưa lên “phây” bài thơ tặng tôi có những câu: “… Trót đưa lên bàn thờ. Muốn hạ xuống cũng khó. Làm thế nào bây giờ? Một người vì lý tưởng. Hy sinh cả cuộc đời. Đến già mới chợt tỉnh. Đau, không nói nên lời. Con cháu những người ấy. Dẫu giỏi và thông minh. Cũng khó lòng hiểu hết. Cái đau cha ông mình”. Tiến sĩ, luật sư Lưu Nguyên Đạt sau khi kể tội kẻ từng là “cơ sở truyền thông của Đảng cộng sản” đã nhận xét “Quyết định bỏ Đảng của Tống Văn Công không quyết liệt, không sáng sủa như qua lời phát biểu của luật gia Lê Hiếu Đằng. Nó không đanh thép bằng lập trường thô bạo của một Dương Thu Hương.”

Về phần mình, từ khi được “mở mắt”, bắt đầu viết những bài góp ý với Đảng Cộng sản, lúc nào tôi cũng dặn mình chớ có nói năng như một kẻ vô can và phải tự biết mình “ngu lâu”, là “tội đồ”. Lúc nghe ông Nguyễn Văn Thiệu nói “Đừng nghe cộng sản nói, hãy nhìn cộng sản làm”, tôi cho rằng, nói như ông Thiệu chẳng thuyết phục được ai! Cho đến khi trải nghiệm chính sách của Đảng Cộng sản qua các thời kỳ, đối chiếu thông tin nhiều chiều, mới xác nhận câu nói của ông Thiệu là có cơ sở! Vì vậy tôi nghĩ, phải viết như thế nào cho dễ lọt tai hàng triệu đảng viên chưa được “mở mắt” và không ít người bị nhồi vào não “ơn Đảng, ơn Bác”. Với giọng nhẹ nhàng, nhưng tôi không lẩn tránh những đòi hỏi cấp bách dân chủ hóa đất nước, thực hiện các quyền dân sự và chính trị, tự do ngôn luận, tự do lập hội, nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, không cho phép Đảng đứng trên Hiến pháp, pháp luật. Chính vì vậy mà tôi bị Đảng Cộng sản đưa ra kiểm điểm 15 lần trong không khí đấu tố. Cuối cùng, không chấp nhận một đảng viên dám “tự ý nói lời chia tay”, ngày 6 tháng Ba năm 2014, Đảng công bố quyết định: “Khai trừ đảng viên Tống Văn Công vì đã có rất nhiều bài viết phát tán trên mạng internet xuyên tạc chủ trương chính sách, truyền bá những quan điểm trái với Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; mặc dù đã được phân tích, giáo dục nhiều lần, nhưng không sửa chữa, khắc phục mà vẫn tiếp tục sai phạm ngày càng nghiêm trọng hơn, không còn đủ tư cách đảng viên cộng sản”.

Ông Nguyễn Gia Kiểng – Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, trong bài “Thời điểm để nhìn rõ Đảng Cộng sản” đã cho rằng: “Thực ra chúng ta không nên thù ghét Đảng Cộng sản. Nó chỉ là một sản phẩm của lịch sử và văn hóa của chính chúng ta. Một dân tộc không có tư tưởng chính trị không khác một con tàu không phương hướng, mọi tai họa có thể xảy đến và cộng sản chỉ là một”. Tôi đồng ý với nhận định này. Tôi “ngu lâu” là do những nguyên nhân lịch sử và văn hóa đó. Cha tôi đi theo cộng sản từ năm 1929. Làng tôi, quận tôi, tỉnh Bến Tre tôi có không dưới 80% số dân đi theo cộng sản, riêng nông dân có thể lên đến 90%. Nhìn lại vài hiện tượng trong lịch sử: Hầu hết những người trong nội các Trần Trọng Kim và các văn nghệ sĩ nổi tiếng thời tiền chiến đều đi theo Việt Minh. Nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam Cộng Hòa bị tình báo cộng sản thâm nhập, nhưng không có ở chiều ngược lại. Ông Nguyễn Thành Nhân quận ủy viên quận Ba Tri bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa bao vây tứ phía, chạy thẳng vào nhà ông Tám Thương có hai con trai là lính Việt Nam Cộng Hòa, một người vừa bị Việt Cộng bắn chết. Vậy mà ông Tám Thương ôm chầm lấy Thành Nhân, đưa xuống hầm bí mật. Rất nhiều trí thức xuất thân quan lại, có lập trường chống cộng, sau đó lại chấp nhận cộng sản: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo… Nhiều đảng viên cao cấp của Quốc Dân Đảng chuyển sang lập trường cộng sản như Trần Huy Liệu, Nguyễn Bình… Dân biểu đối lập trong Nghị viện Việt Nam Cộng Hòa, chủ nhiệm báo Tin Sáng, ông Ngô Công Đức, cha bị cộng sản xử tử, vậy mà trong hồi ký của ông in đậm những dòng này: “Có nhiều lúc trằn trọc khi nghĩ lý tưởng đã nằm trong tay của những người đã giết thân phụ mình và cuối cùng nhận họ là anh em, khi phải đặt Tổ quốc trên hết”. Học giả Hoàng Xuân Hãn trong lá thư đề ngày 2 tháng Giêng năm Bính Tý (1996) gửi cho Võ Nguyên Giáp đã viết: Nước ta chỉ có hai cuộc giải phóng mà thôi, thời 1416– 1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi và thời 1945– 1975 với Bác Hồ cùng các anh… Cái cần thiết trong cuộc giải phóng là cái Đức của người lãnh đạo, cái Đức để cho địch không tìm cách mua chuộc mình và làm gương cho nhân dân giữ lòng yêu nước…” Nhắc lại những điều trên đây, tôi không nhằm biện minh cho sự “ngu lâu” của mình mà chỉ để cho thấy việc nhận ra chân lý trong giai đoạn lịch sử của nước ta vừa qua thật không dễ!

Trải qua 56 năm hoạt động trong Đảng, nay nghiệm lại, thức tỉnh, ngấm được nỗi đau lầm lạc vào con đường lịch sử, buộc dân tộc vào tròng độc tài đảng trị che dấu sau chiếc mặt nạ tự do, dân chủ.


GẶP BA NHÀ VĂN BỊ VÙI DẬP.

Tôi gặp nhà văn Hà Minh Tuân ngay sau khi ông bị lâm nạn năm 1962. Bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến nguyên là cảm tử quân Hà Nội năm 1946, phụ trách công tác Tuyên truyền – Thi đua của Nhà máy gỗ Hà Nội ở Bến Chương Dương, gần bãi sông Hồng. Tôi đến nhà máy gặp anh Tiến tìm tài liệu viết báo và nhân đó xin mua gỗ vụn làm củi đun bếp. Anh Tiến cho biết, ông Hà Minh Tuân vừa bị cách chức giám đốc Nhà xuất bản Văn học, đang lao động cải tạo ở đây. Công việc của ông là khuân gỗ dưới bến sông Hồng xếp lên xe hai bánh, kéo xe về, xếp gỗ vào kho nhà máy. Lúc giải lao giữa ca, anh Tiến mời ông vào văn phòng uống nước, trò chuyện với chúng tôi. Ông hơn tôi một giáp, hoạt động cách mạng từ năm 1943, tham gia khởi nghĩa tháng Tám ở Hà Nội, rồi vào bộ đội lên đến chính ủy trung đoàn, sau tiếp quản Hà Nội được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Văn học. Nếu ông cứ chuyên tâm vào việc “gác cổng chính trị” như các vị giám đốc khác thì hẳn đã leo lên cấp Vụ, cấp Bộ rồi, hoặc ít nhất cũng được yên vị tới lúc hưởng lương hưu. Nhưng do có máu mê văn chương, năm 1957 ông viết quyển “Trong lòng Hà Nội”, năm 1960 ông viết “Giữa hai trận tuyến”. Cả hai tác phẩm đều được đánh giá đã “đóng góp xuất sắc cho nền văn học xã hội chủ nghĩa”. Ông hăm hở viết một tác phẩm không né tránh, không bóp méo hiện thực, từng trang nóng bỏng hơi thở cuộc sống, có tựa đề “Vào đời”, một bài học cho lớp trẻ trong giai đoạn mới. Quyển sách vừa xuất bản thì lập tức bị “ăn đòn hội chợ” của các nhà phê bình nhân danh “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Số bài phê bình tốn giấy mực hàng chục lần quyển sách 200 trang của ông. Ông phải làm bản tự kiểm điểm sai lầm vì đã viết quyển sách bôi nhọ xã hội tốt đẹp dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và ngồi nghe cấp trên và cả cấp dưới của mình xỉ vả, rồi nhận quyết định cách chức, đi lao động cải tạo vô thời hạn. Nhà thơ Xuân Sách có bốn câu thơ đúc kết cho ông về sự kiện này:

“Bốn mươi tuổi mới Vào đời,

Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ.

Giữa hai trận tuyến ngu ngơ,

Trong lòng Hà Nội, bây giờ là đâu”?

Cho đến nay có nhiều bài viết về chuyện ông bị kỷ luật cách chức, đều bảo là không rõ sau đó ông làm gì ở đâu. Về tuổi tác, cấp bậc ở bộ đội, ở cơ quan và học vấn tôi thấy mình ở dưới ông rất xa. Từ khi bắt đầu cầm bút tôi chỉ chuyên tô hồng, cho nên tôi nghĩ là ông sai, nhất là Đảng đã cho rằng ông sai. Do đó, anh Trần Dũng Tiến và tôi khuyên ông nên cố gắng lao động cải tạo cho tốt để được phục hồi công tác. Nhưng ông vác gỗ mãi cho tới ngày Mỹ ném bom Hà Nội mà cấp trên cũng chẳng đoái hoài tới. Ông bỏ việc, biến mất, không ai biết “Trong lòng Hà Nội, bây giờ là đâu”? Lúc ấy bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến chê trách Hà Minh Tuân vô Đảng sớm mà sao quá thiếu “đảng tính”! Không ngờ tới cuối đời, bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến cùng các cựu chiến binh Hà Văn Quận, Trần Anh Kim tích cực góp ý “Đảng phải đổi mới chính trị”, đã bị đòn đau hơn Hà Minh Tuân: Ngồi tù!

Nhiều bài viết về nhà văn Hồ Dzếnh đều nói ông chỉ làm thợ hợp đồng ở Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. Có người nói ông chỉ làm ở Nhà máy Cơ khí Hà Nội. Năm 1968 tôi đến Nhà máy cơ khí Quang Trung Hà Nội (gần Bệnh viện Bạch Mai) để viết về phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai”. Thư ký công đoàn nhà máy là ông Lâm Thành Keng (người Việt gốc Hoa Chợ Lớn, sau 30–4–1975 làm Chủ tịch công đoàn quận 5) giới thiệu với tôi có hai tổ đạt danh hiệu Tổ lao động xã hội chủ nghĩa: Tổ đúc và tổ hàn. Ông nói thêm, đặc biệt tổ đúc có một nhà văn nổi tiếng trước cách mạng là Hồ Dzếnh nay là thợ làm khuôn đúc rất giỏi. Tôi chọn viết về tổ hàn vì từng thích bài “Thợ hàn lò cao” nổi tiếng của Chính Yên miêu tả những thợ hàn tài hoa như nghệ sĩ. Tuy vậy, tôi cũng gặp tổ trưởng tổ đúc và ông Hồ Dzếnh để tìm hiểu về những người thợ làm công việc nặng nhọc nhất. Nghe tôi nói tiếng Sài Gòn ông Hồ Dzếnh vui vẻ bảo ông từng sống trong ấy và hiện nay có nhiều người ruột thịt của ông ở trong ấy. Tôi thắc mắc hỏi ông vì sao một nhà thơ, một nhà văn nổi tiếng như ông đến tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” lại chọn cho mình cái công việc quá nặng nhọc này. Tôi có quen biết một vài nhà văn nhà thơ thời tiền chiến ở các cơ quan văn hóa văn nghệ và nghĩ nếu ông ở đó thì thích hợp và có ích cho đất nước hơn. Ban đầu ông nói úp úp mở mở, có lẽ vì e dè trước một nhà báo của chế độ. Dần dần thấy sự chân thành ngô nghê của tôi, ông cởi mở kể cho nghe những éo le oan khuất của mình không dễ gì được thông cảm. Sau khi Hà Nội nổ súng chống Pháp, số đông văn nghệ sĩ tản cư đã chuyển dần theo hướng lên Việt Bắc. Ông lại chạy ngược về Thanh Hóa quê ông, rồi xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị Huyền Nhân, sinh con được bốn tháng thì bà bị thổ tả qua đời. Cuộc sống quá khó khăn, con không có sữa, ông buộc phải mang con vào Sài Gòn sống nhờ người anh ruột có cửa hàng xe đạp ở đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu). Năm 1954, Hiệp định Geneve quy định đất nước tạm thời chia làm hai miền. Đang có cuộc sống yên ổn ở Sài Gòn, nhưng ông lại nhất quyết phải mang đứa con bốn tuổi ra miền Bắc, bởi ngoài đó mới là chế độ mà ông đã góp phần xây dựng. Ra Bắc, ông “đi bước nữa” với bà Hồng Nhật ở 26B Phố Huế. Vợ chồng ông ở cả tầng trệt có thể buôn bán kiếm sống. Sau giải phóng Hà Nội, cán bộ quản lý nhà đất cho rằng gia đình ông ít người mà chiếm khu nhà quá rộng, họ quyết định lấy tầng trệt phân phối cho cán bộ từ chiến khu về. Ông đến các cơ quan văn hóa tìm bạn cũ. Lãnh đạo văn nghệ từ Việt Bắc về coi ông là kẻ đã rời bỏ kháng chiến “dinh tê” về thành, nhìn ông “đầy cảnh giác”! Ông Trần Đĩnh kể trong cuốn Đèn Cù: “Đại hội văn nghệ năm 1961, giờ nghỉ, Tố Hữu tìm tôi lắc đầu chán ngán nói ‘chuẩn bị để Hồng Linh nhận hoa của Bác thì lại thành Hồ Dzếnh’! Tôi nói, có ai bảo Hồng Linh đâu, với lại, tôi đùa, cũng là người Hoa cả mà anh. Tố Hữu nghiêm mặt: ‘Hồng Linh kháng chiến, Hồ Dzếnh trong thành, sao lại ‘cũng’ được? Bác mà biết thì ra làm sao”? (Đèn Cù, trang 172). Để kiếm sống, ông xin ký hợp đồng với Nhà máy Xe lửa Gia Lâm làm những công việc nặng nhọc không đòi hỏi tay nghề cao và ít ai muốn làm. Sau khi tiếp quản nhà máy, cán bộ quan tâm đến lý lịch, họ xếp ông vào diện không đưa vào biên chế để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Đến khi Mỹ ném bom miền Bắc, ông xin làm ở Nhà máy cơ khí Quang Trung để được gần nhà, tiện việc đi lại và chăm sóc vợ con.

Dù có thấy tiếc cho sự không may của ông, nhưng tôi không nhận thức được sự “bất cận nhân tình” của chế độ mà ông là nạn nhân. Đứng bên ngoài hệ thống chính trị, Hồ Dzếnh quan sát miền Bắc xã hội chủ nghĩa một cách tỉnh táo trong hồi ký “Quyển sách không tên” (Nhà xuất bản Thanh Văn, Hoa Kỳ). Ông nhận ra cái sai cốt lõi tác hại lâu dài của nền giáo dục: “Bây giờ quy tất cả các môn học về chính trị”. Ông cũng là người sớm nhận ra “văn học nô lệ cho chính trị”, do đó “nhà văn không khác gái điếm. Cô gái chiều khách hàng, nhà văn chiều thời đại”. Và “Tác phẩm của một cá nhân tuy được mang tên mình, nhưng phải xen vào công trình của tập thể”. Ông quan sát tình trạng của đất nước: “Lẽ sống dệt bằng khói lửa, người ta không biết gì hơn là thủ tiêu nhau để hòng thoát ngõ bí. Trong cuộc xáo trộn Bắc – Nam, có cái gì còn nguyên giá trị cố hữu đâu. Cái quý nhất là con người không còn quý nữa nếu nó không là thứ xuất phẩm được rèn đúc theo khuôn khổ của thời đại”.

Ngày 20 tháng 8 năm 1970 báo Nhân Dân đăng 5 bài thơ của Lý Phương Liên: “Ca bình minh”, “Em mơ có một phiên tòa”, “Lời ru với anh”, “Về người cha đã khuất”, “Thư gửi người bạn gái Mỹ”. Tác giả là công nhân trẻ ở nhà máy cơ khí. Báo của Đảng ca ngợi: “Một bông hoa vừa nở đã ngát hương”. Tất cả các báo đua nhau tìm xin thơ Lý Phương Liên coi như đó là giành đẳng cấp về cho tờ báo. Báo Lao Động bị chậm chân vì người phụ trách việc này là nhà thơ Thái Giang đang nghỉ phép. Do đó, tôi được giao nhiệm vụ khó khăn này: Phải xin cho được ít nhất một bài thơ của Lý Phương Liên cho số báo sắp ra. Tôi đến nhà Lý Phương Liên gặp lúc chị đang tiếp hai người khách, nhà thơ Minh Giang phụ trách phòng văn hóa văn nghệ của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân và nhà thơ Phạm Tiến Duật mới từ chiến trường miền Nam ra. Tôi thuộc bài thơ “Gửi anh bạn Triều Tiên” của Minh Giang từ năm 1950 đến nay mới được gặp nhà thơ cho nên rất vui. Với tư cách một đàn anh từng trải, hiểu biết, nhà thơ Minh Giang nhận xét, hiện nay chúng ta có hai nhiệm vụ chiến lược, giải phóng miền Nam và xây dựng miền Bắc. Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu ở chiến trường giải phóng miền Nam. Lý Phương Liên là nhà thơ tiêu biểu của hậu phương lớn miền Bắc. Lựa lúc thích hợp, tôi ngỏ ý xin thơ đăng báo thì Lý Phương Liên cho biết, tập thơ chép tay của chị do bác Huyền Kiêu và bác Hải Như giữ. Các báo muốn đăng thơ của chị đều phải qua hai bác ấy. Mừng quá, nhà thơ Hải Như là bạn vong niên của tôi (anh hơn tôi chín tuổi). Tôi vội vã cáo từ mọi người để đi xin thơ đăng báo. Báo Lao Động đăng ba bài thơ của Lý Phương Liên có bài bình luận do tôi chấp bút. Ít lâu sau, báo Văn Nghệ đăng một trang thơ Lý Phương Liên có bài “Nghĩ về Thúy Kiều”. Dư luận sôi lên cho rằng cho tới lúc ấy, “Nghĩ về Thúy Kiều” là bài thơ hay nhất của Lý Phương Liên. Nhiều anh em báo Lao Động chê trách tôi không biết chọn thơ hay đã để sổng mất bài “Nghĩ về Thúy Kiều”. Nhưng ngay hôm sau có tin “một đồng chí lãnh đạo (nghe nói là Trường Chinh) cho rằng “Nghĩ về Thúy Kiều” ẩn chứa tư tưởng phản động! Một cây đa cây đề của làng thơ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ông Hoàng Trung Thông phê phán “Nghĩ về Thúy Kiều” là: “Rắc rối cầu kỳ trong diễn tả, yếu đuối sướt mướt trong tình cảm, bi quan tăm tối trong tư tưởng ”. Các nhà tuyên huấn Đảng cho rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa không thể tồn tại một thân phận Thúy Kiều:

“… Trái đất chúng mình cho đến hôm nay,

Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi.

Thời gian còn nửa ngày là đêm tối.

Còn đồng tiền đổi trắng thay đen.

Còn sắc tài bạc mệnh với hờn ghen.

Còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến.

Còn những đất đai triền miên chinh chiến…”

Trong giới văn chương, nhiều người không đồng ý với những nhận xét áp đặt của tuyên huấn, nhưng như giáo sư Trần văn Giàu viết trên báo Văn Nghệ ngày 19– 9– 1987 về tình trạng phê bình trong chế độ xã hội chủ nghĩa: “Lắm khi để nhận xét độc đoán không cho phép cãi lại”.

Hơn 40 năm sau, nhiều bạn đọc vẫn nhớ và có lời khuyến khích, Lý Phương Liên đưa in tập thơ của thời tuổi trẻ, mang tên “Ca Bình Minh”, tên của một trong năm bài thơ in trên báo Nhân Dân lần đầu tiên. Chị thổ lộ: “Tôi nín lặng suốt 40 năm nay vì lời nguyền bỏ thơ của chính tôi. Mọi hệ lụy xô đẩy chúng tôi đến bần hàn, cơ cực, không liên quan đến ai. Tôi không thán oán. Người chịu nhiều cay đắng vì thơ tôi là chồng tôi.” Bạn đọc dễ dàng cảm nhận vị đắng cay trong những lời “tôi không thán oán” của chị.

NHÀ VĂN SƠN NAM,
CỘNG TÁC VIÊN ĐẦU TIÊN.


Báo Lao Động Mới chuẩn bị xuất bản số đầu tiên đúng dịp kỷ niệm Cách Mạng Tháng Tám. Anh Sơn Tùng (nguyên Tổng thư ký báo Đại Dân tộc của anh Võ Long Triều), thư ký tòa soạn’ mời nhà văn Sơn Nam viết bài về ngày lịch sử này. Nghe giới thiệu tôi là tổng biên tập, anh ôm chầm lấy khen, “trẻ quá, giỏi lắm”. Tôi nói, trẻ gì nữa anh, bốn mươi ba tuổi rồi! Tôi khoe, đã biết anh từ khi anh là Phạm Anh Tài. Anh ngạc nhiên hỏi tôi thời chống Pháp ở đâu, làm gì. Khi biết tôi công tác ở Trạm 23, anh nói mình có qua trạm đó. Tôi lại khoe, đã viết cho báo Nhân Dân Miền Nam và đã dự buổi lễ công bố giải nhất cho cuốn “Bên rừng Cù lao Dung” của anh. Anh nói, họ có mời nhưng mình không đi, gần một tuần sau mới biết truyện được giải.

Anh không mang theo tài liệu, cây bút cũng không có. Anh hỏi tôi cho anh một chỗ ngồi, cây bút bi và vài tờ giấy trắng. Đến 11 giờ 30 tôi mời anh nghỉ, ăn bữa “cơm tập thể” với anh em ký giả, rồi viết tiếp. Anh nói, cho mình chậm năm phút cho xong bài.

Tôi vô cùng ngạc nhiên, vì bài viết của anh ghi rõ nhiều tên người, nhiều đơn vị, những ngày tháng nối tiếp cho đến khi khởi nghĩa. Một trí nhớ phi thường! Sau bài kỷ niệm “Cách mạng Tháng Tám”, chúng tôi còn đặt anh viết những dịp kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến, Nam kỳ khởi nghĩa, Toàn quốc kháng chiến… Anh cũng đến tòa báo với tay không như thế. Anh nổi tiếng với “Hương rừng Cà Mau”, “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”, “Văn minh miệt vườn”, “Cá tính miền Nam”… Anh được xem là một nhà Nam Bộ học.

Có lần tôi hỏi anh đánh giá thế nào về tiểu thuyết “Hòn Đất” của Bùi Đức Ái (Anh Đức). Nhà văn Anh Đức thời chống Pháp chưa có tên tuổi gì. Anh nói, nó thuộc loại truyện minh họa cho chánh trị thôi, bố cục không chặt, nhiều chi tiết khó tin. Tôi kể với anh, quyển này được Tố Hữu gọi là “Hòn Ngọc” của văn học Việt Nam. Anh cười, nếu Tống Văn Công bảo một nhà phê bình văn nghệ nào đó nhận xét như vậy thì mình ngạc nhiên, chớ còn ý kiến của một ông chính trị thì khỏi bình luận.

Ngẫm nghĩ một chút, anh lại hỏi, Công nè, ngoài Bắc sao không thấy các nhà phê bình văn nghệ nhận xét tác phẩm mà chỉ thấy mấy ông chính trị chê thế này, phán thế kia. Quyển sách, bài thơ bị Tố Hữu, Trường Chinh chê thì tác giả của nó cũng coi như bị nghỉ chơi. Cả xã hội phải im re, không ai dám bào chữa. Tôi bảo anh, tình trạng đó đã có từ thời bưng biền Nam Bộ kháng chiến, do anh không bao giờ đi họp cho nên không nghe đó thôi. Tôi nhắc lại chuyện các ông Hà Huy Giáp, Lưu Quý Kỳ chê bài nhạc “Tiểu đoàn 307” lai Tây không cho giải mà chọn bài Tự túc cho giải nhất. Họ chê truyện Kén rể của Ngũ Yến không có lập trường giai cấp và họ khen truyện thơ “Chú Hai Neo” của Nguyễn Hải Trừng theo thể lục bát, nôm na, chất văn học còn kém xa “Lục Vân Tiên”.

Hồi đó, anh ở Gò Vấp quá xa trung tâm thành phố. Tôi luôn bận nhiều việc rồi sau đó ngồi ở Hà Nội nhiều hơn Sài Gòn, nên không tới thăm anh.

Một lần tại cơ quan miền Nam báo Lao Động, hai anh em gặp nhau sau nhiều năm, cùng ngồi uống trà, bù khú chuyện đời. Anh bảo, mình nói điều này Tống Văn Công đừng đưa lên báo nha, có hứa vậy không để mình nói? Tôi cười, anh Sơn Nam mà cũng biết sợ à? Anh đáp, sao không sợ? Lớn cỡ Nguyễn Tuân còn sợ thì Sơn Nam nhằm nhò gì! Tôi xin hứa, rồi im lặng chờ đợi. Anh hạ giọng gần như thì thầm: “Bao giờ văn nghệ còn chịu sự lãnh đạo của Đảng thì chẳng có tác phẩm nào ra hồn đâu”! Tôi cười lớn bảo, lẽ ra anh không nên dặn tôi đừng đưa lên báo mà dõng dạc yêu cầu: “Tớ có ý kiến này, Tống Văn Công ghi cho chính xác rồi đăng ngay lên báo cho mọi người đọc”! Anh ngẩn người một chút, rồi cười hăng hắc, vậy ra Tống Văn Công cũng nhát như Sơn Nam à?


Tống Văn Công
(từ: VV)


*




Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

*


Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.

- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.

Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:

Marvin Trần

(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình

Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý



scan_pic0296-content




*


Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S

Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín

Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại

Gọi ngay:

Hoàng Anh


        (714) 724-5699


scan_pic0035-content

hoang_anh_1_0-content







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Tám 20189:11 SA(Xem: 75)
Đài BBC ngày ngày 16.8.2018 đã cho phổ biến bài "Hơn 300 báo Mỹ tấn công 'cuộc chiến bẩn thỉu' của ông Trump" tường thuật lại chiến dịch báo chí Mỹ đang được phát động trong ngày để chống lại cái được họ coi là "cuộc chiến tranh bẩn thỉu chống lại tự do báo chí" (dirty war against the free press) của Tổng Thống Donald Trump. Ông Trump thường gọi những bài phê phán ông hoặc có những quan điểm khác ông đều là "tin giả" (fake news) và thẳng thừng tuyên bố "báo chí là kẻ thù của nhân dân". Ông Zeid Ra’ad al-Hussein, cựu Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền đã đánh giá: "Bình luận của Tổng thống Trump ở rất gần với ngưỡng bạo lực, có thể khiến các phóng viên, người chỉ làm công việc của họ, bị tổn thương và dẫn tới tự kiểm duyệt các bài viết". Trong khi đó, ông Trump đã dùng Twitter để tung ra hàng ngày vô số những tin giả và nhận định sai lầm, ấu trĩ... không phù hợp với một vị lãnh đạo quốc gia. Chưa bao giờ người ta nghe một tổng thống Mỹ nào gọi một kẻ chỉ trích mình là "con chó"
17 Tháng Tám 20184:12 CH(Xem: 82)
Chúng ta mất một chiến sĩ can trường đấu tranh không mệt mỏi cho tương lai đất nước tự do và dân chủ. Tôi mất người bạn già với những kỷ niệm không bao giờ quên – những chiều hành quân qua những đồi tím hoa sim: Kim Bôi, Kim Tân, Kiểu, Nho Quan… trong những vần thơ chan chứa buồn đau một thời chinh chiến của Hữu Loan. Nhắc tới anh lại nhớ đến những nụ cười thơ ngây của các nàng sơn nữ bên đường trong tình yêu trong mơ của người lính Tô Hải.
13 Tháng Tám 201811:35 SA(Xem: 336)
Buổi sáng ra, thiếu úy Bé nghe tin người thanh niên trốn thoát, Bé liền cho lính đi lùng sục trong những nhà dân. Cuối cùng lính của Bé bắt khoảng hai chục người, là đàn bà, con gái và ông già. Tất cả bị trói thúc ké và xâu chuỗi vào nhau, dẫn lên bộ chỉ huy tiểu đoàn. Thiếu úy Bé nói với đám người, tụi mày phải bị xử thay cho tên địch trốn thoát khi hôm. Đám người, dân hay địch, trông lê thê lếch thếch, mặt người nào người nấy xanh xao như tàu lá rũ, vì sự sợ hãi của họ đã lên đến tột đỉnh. Đám người đứng trên một mảnh sân, thiếu úy Bé cầm cây M.16 huơ huơ, nói: - Mấy người phải khai ra ở đây ai là VC, như tên chạy thoát khi hôm, hắn khai là thợ hớt tóc, thế mà đã bỏ trốn, thì chính thị nó là VC rồi. Nếu không khai các người sẽ bị bắn tất cả. Đám người bị bắt trói từng xâu nhốn nháo, đôi mắt người nào cũng lạc thần. Không ai lên tiếng, thiếu úy Bé lựa ra một một người đàn ông cho đứng riêng, hỏi: - Ông có biết trong đám này ai là du kích, là cán bộ VC nằm vùng không?
09 Tháng Tám 201810:10 SA(Xem: 176)
Phải mất đến 15 năm “Ký ức làng Cùa” mới được xuất bản. Hành trình của tác phẩm đến với bạn đọc rất khó khăn bởi hệ thống kiểm duyệt nghiêm ngặt như là căn bệnh tự kỷ ám thị của những người chăm sóc phần hồn nhân dân. Họ nhìn đâu cũng thấy “thế lực thù địch” khiến các nhà xuất bản luôn phải dè chừng, nếu thấy bản thảo nào “có vấn đề” sẽ không cấp giấy phép, hoặc đã trót cấp thì ngay lập tức đình chỉ phát hành chỉ với một cú điện thoại… Thật ra, “Ký ức làng Cùa” trước khi được Nhà xuất bản “Người Việt Books” ở Hoa Kỳ in toàn văn vào cuối tháng 5 năm 2018, Đặng Văn Sinh đã gửi đến ít nhất 6 nhà xuất bản trong nước (trừ NXB Hội Nhà văn). Phần lớn các nhà xuất bản đều đọc một cách nghiêm túc nhưng tất cả đều đề nghị chỉnh sửa, bỏ đi một số đoạn được cho là “gai góc”, đồng thời uốn nắn làm cho văn “mềm đi” bằng cách đưa thêm vào tác phẩm một số nhân vật “tích cực” nhưng tác giả không chấp nhận. Ông bảo, nếu in thì phải in cả bởi “Ký ức làng của” là một tổng thể hoàn chỉnh,
04 Tháng Tám 20189:16 CH(Xem: 239)
Chúa tạo ra người nam và người nữ, có sức thu hút lẫn nhau, tìm tới nhau để tạo thành một tổng thể toàn vẹn. Thánh Phao Lồ cũng nói, những ai không cầm cự được trước đòi hỏi của xác thịt, thì người nam nên lấy vợ, người nữ nên lấy chồng. Sự truyền giống chỉ là một yếu tố song hành với hoà hợp thể xác tự nhiên giữa nam và nữ, dựa trên sự ưng thuận hoàn toàn của đôi bên. Chọn cả hai hay một trong hai yếu tố, là quyết định tối thượng của vợ chồng. Giáo Hội cấm ngừa thai là không phù hợp với Phúc Âm. Cũng như nhà cầm quyền nào bắt buộc dân phải ngừa thai, là vi phạm quyền con người. Nếu lệnh cấm ngừa thai của Giáo Hội và lệnh bắt ngừa thai của Chính Quyền cùng được ban hành, người công dân giáo hữu bị đặt trong tình trạng bế tắc: theo đạo thì phạm luật, theo luật thì phạm tội.