DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,217,497

Nhà phê bình hội họa, họa sĩ Thái Tuấn đã mất - Trịnh Cung

Sunday, September 25, 201112:00 AM(View: 21511)
Nhà phê bình hội họa, họa sĩ Thái Tuấn đã mất - Trịnh Cung
Nhà phê bình hội họa, họa sĩ Thái Tuấn đã mất (2007)


ttuan



Ông ra đi vào lúc 13g ngày 26 tháng 9 năm 2007 tại chính căn nhà trên, nơi ông từng bắt đầu sống những ngày đầu tiên tại Sài Gòn, sau cuộc di cư năm 1954. Căn nhà hẹp và tối, nằm trong một con hẻm ngoằn nghèo của đường Yên Đổ (tên cũ) dẫn xuống Bến tắm ngựa, ngay chân cầu Trương Minh Giảng, nơi mà dòng nước ngày càng đen và hôi thối.

Từ ngày ông rời bỏ thành phố Orléans (Pháp), nơi có dòng sông Loire thơ mộng chảy quanh những lâu đài tuyệt mỹ, nơi có ngôi mộ của nhà danh hoạ, nhà khoa học và kiến trúc sư lớn nhất qua các thời đại, Leonard de Vinci, năm 2005, quay về lại Sài Gòn và ở cho đến hôm nay, tôi thường ghé thăm ông trên căn gác khoảng 6m2 vừa đủ cho một chiếc giường nhỏ, một cái kệ và một cái ghế. Trên cái kệ nhỏ là chân dung bà vợ, người đàn bà gốc Thanh Hoá, người đàn bà đã cho ông một dáng dấp phụ nữ trong các bức hoạ của ông cho dù ông có vẽ ai đi nữa, kể cả Khánh Ly hoặc Trâm, cô con dâu của ông. Bà đã mất bên Pháp trước ông sáu năm, cũng vào tháng Chín và sớm hơn một ngày. Trên vách đối diện, ông treo một cây thánh giá, cây thánh giá và chiếc mũ nĩ mầu rêu cũ kĩ và hình như ông cũng gầy và cũ kĩ như cây thánh giá và chiếc mũ kia.
Căn gác hẹp này, gần hai năm nay đã từng in bóng dáng của những người làm văn nghệ đến thăm ông như các nhà văn, nhà thơ: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đạt, Nguyễn Viện, ...Phan Đan, Dương Tường, Hoàng Hưng, ... các nhà nghiên cứu mỹ thuật như Bùi Như Hương, Phạm Trung,... và các hoạ sĩ cùng nhiều nhà sưu tập tranh và chủ gallery.


ttuan_1

Thái Tuấn và Khỏa thân


Tất nhiên là Sài Gòn đối với tuổi già của ông vẫn gần gũi hơn và ít cô đơn hơn là Paris hay New York. Ông vẽ được và nói chuyện về mỹ thuật một cách đầy hứng khởi mỗi khi gặp nhau, dù chỉ thều thào vì thanh quản bị thu hẹp do di chứng của hơn 40 năm ngậm tẩu (pipe). Tôi một thời rất thích cách chơi tẩu thuốc lá của ông và cũng lây kiểu ngậm tẩu từ thời còn là “hoạ sĩ trẻ” cho đến ngày ra khỏi trại cải tạo năm 1979. Được một dạo sức khoẻ tốt hẳn lên, ông thường nhờ Thái, người con trai bán cà phê trên đường Bà Lê Chân chở ra phố Đồng Khởi để ngồi cà phê vỉa hè mà ngắm đời sống và khung trời xanh trên nóc nhà thờ Đức Bà. Những lúc đó tôi thật cảm động và nhận ra sự yêu đời tuyệt vời của một con người đang trở thành phế tích từng ngày.
Trong những lần trò chuyện, vẫn chỉ là những câu chuyện về giá vẽ, nhưng hình như ông cố muốn nói cho hết, nói gấp rút kẻo không kịp, dù sách về các vấn đề hội hoạ của ông vừa được nhà Phương Nam cho tái bản ở Việt Nam. Thái Tuấn, ngoài là một hoạ sĩ đầy cá tính, ông còn là nhà phê bình mỹ thuật lỗi lạc nhất Sài Gòn thuở đó. Riêng đối với tôi, ông là người phát hiện và làm cho nhiều người quan tâm tới hội hoạ của một hoạ sĩ trẻ vừa chân ướt chân ráo từ Huế vào Sài Gòn năm 1962 để tìm một cuộc sống cho nghệ thuật. Thường có mặt trong các Hội đồng giám khảo mỹ thuật quốc gia, ông có lá phiếu rất quan trọng cho các tài năng mới như Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Đinh Cường, Cù Nguyễn, Nguyễn Lâm... Và tất nhiên, sự gặt hái gần như tất cả những giải thưởng hội hoạ quan trọng nhất của các họa sĩ trẻ nêu trên đã là một trong những động cơ chủ yếu để hình thành nên Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam tại Sài Gòn vào năm 1966, một bộ mặt rực rỡ cho hội hoạ hiện đại Sài Gòn từ đó cho đến tháng 4 năm 1975. Và cũng tất nhiên, sự thành tựu của hội hoạ hiện đại của Miền Nam Việt Nam vào những thập niên 60-70 của thế kỷ 20 không thể không nhắc đến sự tác động mãnh liệt từ luồng gió mới của ý thức tự do sáng tạo được thổi tới từ bộ ba Thái Tuấn, Duy Thanh (hiện sống ở thành phố San Francisco) và Ngọc Dũng (đã qua đời tại Hoa Kỳ). Đặc biệt cả ba danh hoạ hiện đại này đều không ai tốt nghiệp một trường mỹ thuật nào, họ là những hoạ sĩ “tự học” (self taught) nhưng đều có một tài năng rất riêng và một kiến thức hội hoạ rất tiền phong. Thái Tuấn là người nổi bật nhất về mặt nhận định mỹ thuật. Các bài viết của ông thời tạp chí Sáng Tạo và những ngày lưu vong trên đất Pháp đã được in trong “Thái Tuấn, Tuyển Tập Tranh và Tiểu Luận” do VAALA ấn hành tại Orange County năm 1996 và đã được tái bản lần thứ ba tại Việt Nam. Và cũng lạ thay, là một người Công giáo, nhưng càng về sau này, hầu hết những trải nghiệm về cái đẹp được ông viết trong các bài nhận định về hội họa đều mang đậm triết lý Phật giáo và mầu sắc phương Đông. Ông thường dùng những lời nói của Phật, của Thiền sư để giải thích về con đường đi tìm cái đẹp và nghệ thuật sáng tạo. Khi tôi đưa ra nhận xét này, ông bảo: “Thiền rất ảnh hưởng đến những suy nghĩ của tôi.”



ttuan_2-content


Thế rồi, cách hôm nay ba ngày, tôi nhận được cú điện thoại của Thái nói “Bố cháu đang nằm cấp cứu ở bệnh viện Đại học Y Dược, TPSG. Bố cháu nhắc chú, chú vào thăm bố cháu đi, lầu 2 phòng 217.” Tôi thật bị xúc động mạnh khi thấy người bạn vong niên của mình ngày nào còn linh hoạt trong cái nhìn, trong nụ cười và trong câu chuyện, bây giờ thân thể biến dạng, tiều tuỵ phần thân trên, sưng phù phần hai chi dưới, thở khó nhọc bằng oxy. Ông nhìn thấy và chào tôi bằng cái nhìn yếu ớt, tôi ra hiệu cho anh không cần cử động gì. Tôi cảm thấy có điều gì đó rất xấu sắp xảy ra, tôi ra ngoài gọi điên thoại cho bác sĩ, nhà văn, Thân Trọng Minh, người có nhiều đóng góp trong việc đưa được hoạ sĩ Thái Tuấn vào điều trị tại đây, để hỏi về khả năng hồi phục sức khoẻ của Ông. Sau đó tôi cũng đến gặp trực tiếp bác sĩ Tùng, người trực tiếp điều trị cho hoạ sĩ Thái Tuấn. Cả hai vị đều có cùng một nhận định: “Đây là bệnh nặng vào giai đoạn cuối, không thể hồi phục được.” Tôi quay vào nhìn ông và đặt nhẹ bàn tay mình lên vai ông rồi ra về với bao điều trĩu nặng. Phải làm gì bây giờ, khéo không còn kịp! Một e-mail cho Đặng Tiến, người hết lòng giúp đỡ về cả tinh thần lẫn vật chất suốt thời gian họa sĩ Thái Tuấn lâm bệnh và một cái khác được gửi qua Mỹ để báo tin cho bạn bè và những người yêu tranh Thái Tuấn biết tình hình này.
Bây giờ thật sự đã không kịp nữa rồi. Diễn biến xấu nhất đã xảy ra quá nhanh. Sự sống như vậy đã khép lại, ông đang nằm im giữa căn nhà cũ, có sự im lặng của hai bức sơn dầu vẽ một người phụ nữ trẻ (Trâm, vợ của Thái, con trai lớn của TT) treo hai bên vách và tiếng cầu kinh chờ giờ nhập quan của người thân thuộc. Hoạ sĩ Thái Tuấn thật sự đã ra đi, đi thật xa, thật xa... khép lại vĩnh viễn những cuộc trò chuyện về mỹ thuật giữa chúng tôi.

Tr
ịnh Cung

B
óng dáng Thái Tuấn giữa nền nghệ thuật hiện đại


Huỳnh Hữu Ủy

Thái Tuấn là một bóng dáng lớn của nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Vừa đắm mình trong công việc sáng tác, anh vừa góp nhiều phần tác động trong việc phát triển và hình thành mạnh mẽ một nền nghệ thuật mới kể từ trường Mỹ Thuật Đông Dương trước đây.
Cùng với Duy Thanh và Ngọc Dũng, Thái Tuấn đã tạo nên một dấu mốc quan trọng đối với sinh hoạt hội họa ở Miền Nam, là một chuyển tiếp giữa những xung đột, va chạm từ nghệ thuật trước và sau điểm tựa lịch sử 1954. Đây là một thời điểm hết sức đặc biệt, bởi vì sau hiệp định Genève chia cắt đất nước làm hai miền, miền Bắc đi dần vào khuôn phép của một thứ nghệ thuật phục vụ chính trị rất nghèo nàn và buồn thảm, thì chung quanh trung tâm văn hóa Sài Gòn, một nền nghệ thuật mới đầy tính khai phá và tự do đã nở rộ. Chính trong bối cảnh ấy, Thái Tuấn cùng nhóm Sáng Tạo xuất hiện và hội họa Thái Tuấn đã hình thành.

Sinh năm 1918 ở miền Bắc, khoảng năm 1938 - 1940 Thái tuấn theo học Trường Mỹ Thuật Hà Nội ở lớp dự bị, bỏ học lở dở, và đến năm 1957 mới bắt đầu vẽ sơn dầu vì những hưng phấn giữa những bạn văn nghệ gặp gỡ ở Sài Gòn. Thái Tuấn sau nhiều năm làm việc đã để lại nhiều vết tích đáng kể trong lòng người yêu hội họa. Anh thành công ở chỗ đã tìm được cho mình một màu sắc riêng, những màu xanh xám, xanh rêu, xanh đại dương ngả sậm, pha vào đấy là những mảng trắng để tạo nên chuyển sắc, tức là vẽ theo sắc độ chứ không nặng về màu. Nếu màu sắc và đường nét là da thịt và xương cốt của hội họa thì Thái Tuấn đã tìm được xương thịt của mình, trong cái thế giới đầy say đắm mà có vẻ ảm đạm của riêng anh. Và, trên nền xương thịt kia, thường gợi dậy một không khí rất dung dị với những đường nét nhẹ nhàng, đạm bạc nhưng tinh tế và thanh nhã.

Anh nhìn sự vật dường như qua làn ánh sáng mờ của những buổi sáng sớm hoặc chiều hôm. Với tâm cảm và cách nhìn sự vật như thế, từ lúc Thái Tuấn cầm cọ vẽ ở Sài Gòn thời 1957-1958 cho mãi đến nay, chúng ta thấy dường như lúc nào anh cũng đăm chiêu đi tìm những hình ảnh nào đấy về một quê nhà đã mất: miền Nam nhớ miền Bắc, Orléans nhớ Hà Nội, Paris nhớ Sài Gòn. Anh luôn luôn ao ước vẽ một bức họa tinh giản, ít màu, ít nét và để nhiều khoảng trống rộng rãi. Những chi tiết như nếp nhăn trên khuôn mặt hay trên một tà áo thường bị loại bỏ, anh không ưa vẽ từng ngọn cỏ, đếm từng cái lá.

Ở đây, chúng ta thấy rất rõ là Thái Tuấn đã tổng hợp tinh túy của nghệ thuật Á Đông và kỹ thuật hội họa Âu châu để vẽ nên những tấm tranh của mình, là sự khoáng đạt của những chấm phá giản dị nơi nghệ thuật thủy mặc cộng với nghệ thuật sơn dầu của phương Tây. Anh thường xuyên suy nghĩ, chiêm nghiệm về những khoảng trống để tạo nên không gian mênh mông, hài hòa trong sắc màu trầm mặc. Có lần, tôi đã nghe anh mải mê nói về một tấm tranh của Dương Bích Liên, vẽ một người cán bộ kháng chiến sắp leo lên mình ngựa trên đường công tác, có lẽ chỉ vì bức tranh này đã đáp đúng với tâm lý của anh trong tạo hình. Người và ngựa trong tranh mặc dù là tâm điểm của tranh nhưng lại rất bé nhỏ so với tỉ lệ và kích thước của tranh, hòa vào trong cảnh thiên nhiên của núi rừng rộng lớn bên ngoài, tất cả bối cảnh ấy đã trở thành những mảng trống xanh dương, đỏ sậm và rêu biếc pha trộn vào nhau. Theo dõi Thái Tuấn liên tục trong vài thập niên qua, trong ký ức của tôi vẫn còn lưu giữ những hình ảnh đầy ấn tượng về anh vào những năm sau 1975, khi đất nước đang gặp nhiều nghịch cảnh, tôi thấy anh đã giữ gìn được phẩm chất đẹp đẽ của người nghệ sĩ lớn. Cũng gần như Nguyễn Gia Trí, anh có một thái độ chính trị rất kiên quyết, không chao đảo và thỏa hiệp, mặc dù ứng xử thì lúc nào cũng thanh nhã và tử tế. Tôi có khác anh nhiều điều về suy nghĩ đối với thời thế và lịch sử, nhưng trong lòng thì hết sức cảm phục anh. Và thế giới hội họa của anh thì luôn luôn đầy tràn bản sắc của riêng anh, thanh thản và bình dị, không bị áp đảo chút nào bởi đời sống bên ngoài.
Đầu thập niên 80, anh vẽ được nhiều bức tranh quý, không biết bây giờ đang lưu lạc phương nào. Tôi còn nhớ mãi bức tranh vẽ một cành xương rồng trơ trọi đang lặng lẽ ca hát. Cũng là màu sắc và không gian quen thuộc của anh, mênh mông và trầm mặc, tràn đầy chất thơ, tỏa ra cái tĩnh mặc của một tâm hồn biết ủ kín những hạt mầm của đời sống vĩnh cửu. Bức tranh này, về sau, tôi lại thấy hóa thân vào một cảnh đời khác khi anh xa nhà, sống nơi đất khách, cây xương rồng đã trở thành một nhánh cây gầy trơ trụi chứa vài chồi non, cũng một con chim nhỏ trên đỉnh cây, vắt vào cành cây là tấm lụa trắng phất phơ trước gió, cạnh đó là đôi guốc mộc, đằng xa xa, nhỏ bé và mờ vào trong nền trời là ngọn tháp Eiffel và một ít nhà cửa của Paris. Lòng hoài hương, cũng có thể nói là một chủ đề nghệ thuật lớn của anh.


6-content



Có lẽ chúng ta cũng nên nghe qua phát biểu của chính Thái Tuấn về nguồn mỹ cảm của mình, một chút kinh nghiệm về cách nhìn sự vật, tinh lọc thế giới bên ngoài để chuyển hóa thành tác phẩm như thế nào: “Cảnh trí trước mặt tôi thực khác xa bức họa. Màu xanh êm mướt là một nền đất ẩm, cỏ hoang lộn xộn. Những đường nét uốn lượn trên thân cây duyên dáng là cành trụi khẳng khiu. Và bóng nước mặt hồ chỉ còn lại vũng lầy đen bẩn. Những con chim nhỏ trong tranh đã bay đi tự bao giờ, trả lại cho nền cỏ những trống vắng vô cùng. Cố ý nhớ lại những bức tranh, đúng là cảnh trí này, cũng hồ nước, cũng lùm cây, song le khởi từ cuộc đời nhìn thấy, sự vật trở thành sự thật của đời sống trí tuệ... Từ cảnh trí ở ngoài thiên nhiên đến phong cảnh trong bức họa, sự vật đã biến dạng trở thành chất liệu cho người sáng tác. Hình nét trong tranh này có thể từ sự vật mà đến, nhưng không còn là sự vật và thuộc về sự vật nhìn thấy.
“... Luật tắc đã tạo nên niềm rung cảm hay rung cảm đã biến thành luật tắc. Chúng ta yêu trăng sao và tranh của Rubens. Chúng ta nghe lời gió thở than trong nhạc phẩm của Schubert. Nhưng chúng ta cũng đã từng đê mê trong thế giới của Hàn Mặc Tử.“Sáng tạo cũng chỉ là sự trở về, sự tìm đến cùng thiên nhiên.” (1)

Không khí và tính cách ấy của Thái Tuấn ngày càng ổn định đã trở nên một thế giới riêng, vững chắc rất sớm. Và bây giờ thì có thể nói cũng chỉ là chừng ấy quan niệm, nhưng đã được hoàn thiện hơn nhiều vì một cuộc đời trường trãi, lão luyện, đạt nhân. Như nơi bức Góc biển mới sáng tác gần đây, vẽ một thiếu nữ ngồi lặng lẽ nơi bờ biển, mặc áo cánh, đội nón lá, với màu xanh rêu và xanh biển ngả sậm chủ yếu tràn đầy tấm tranh.

Thái Tuấn – Góc biển

Trong một lá thư gửi cho chúng tôi, Thái Tuấn cho biết: “Bức tranh này, tôi coi như đã đáp ứng đúng với ước muốn trong việc làm nghệ thuật. Người và cảnh đã được thanh lọc, ‘gột rửa’ đến độ đơn giản nhất. Biển cũng chỉ còn là một vạch trắng mờ. Một thoáng dư âm như sự chuyển hóa từ bức Cõi ngoài trước đây (2). Nhớ lại câu của Charles Trenet: Tôi không theo mốt nào cả, nên không sợ démodé.” (3) Thái Tuấn còn ghi chú thêm ở phần tái bút của thư: “Có thể đông đảo người xem tranh thích thú với nét đẹp nguyên vẹn của thiên nhiên ở cảnh và người, và chẳng cần chú ý tới nét đẹp của đường nét, sắc màu lẩn trốn sau cái đẹp từ thiên nhiên. Tất cả kỹ thuật tôi đã gói ghém và không muốn nó lộ liễu, vì kỹ thuật chỉ là phương tiện dành cho các nhà phê bình nghệ thuật. Tôi nhận thấy nghệ thuật ngày nay có phần phô trương kỹ thuật, và quá chú ý đến thời sự.”
Quan niệm tạo hình của Thái Tuấn nhất quán, từ những năm cầm bút vẽ lại sau cuộc di cư từ miền Bắc vào Nam, cho mãi đến ngày nay. Ở Sài Gòn, anh bày tranh năm lần, lần đầu tiên vào năm 1957 ở Alliance Francaise và lần sau cùng ở Dolce Vita, khách sạn Continental, năm 1973. Anh làm việc cẩn thận và chậm rãi, tính trung bình mỗi năm chỉ vẽ được hơn 20 bức, mỗi lần bày tranh cũng không quá 30 bức. Lần bày tranh thứ nhì ở Pháp Văn Đồng Minh Hội (Alliance Francaise) vào tháng 4.1966 cũng chỉ có 21 tấm, chúng tôi dẫn lại đây mấy lời phát biểu của Thái Tuấn, in trong catalogue của cuộc triển lãm này, sẽ giúp chúng ta nhận ra được một trong những dấu mốc cuộc đời hoạt động nghệ thuật của anh và sẽ thấy rằng anh không thay đổi chút gì về quan niệm mà chỉ có những biến chuyển nhẹ nhàng trên tác phẩm: “... Sau cuộc triển lãm đầu tiên của tôi vào khoảng 1957, tôi đã nhận thấy kỹ thuật sơn dầu đòi hỏi một thời gian lâu dài và những kinh nghiệm thực hành. Nhận xét đó làm tôi quyết định không mở một cuộc bày tranh riêng biệt nào trong vòng gần mười năm nay. Số tranh đưa ra hôm nay cũng chỉ có mục đích trình bày cùng các bạn yêu nghệ thuật con đường tôi đã đi và đang đi.
“Những người, những vật trong tranh không hoàn toàn là sự thật và cũng không hoàn toàn do tôi bịa đặt ra.
“Đường lối có hình hay không hình thì cũng chỉ là một cách thức sáng tạo. Cho đến cả công việc sáng tạo nữa tôi cũng không hề muốn nói lên một điều gì nhất định hoặc một tư tưởng nào. Tôi cho rằng: đó là điều khác biệt của nghệ thuật với văn chương.”
Và cho đến lần triển lãm năm 1985, ở Foyer International d’Acceuil de Paris, hoặc với cuộc triển lãm tập thể cùng Nguyễn Cầm, Lê Tài Điển, Philippe Franchini, Hồ Hữu Thủ và Nguyễn Lâm dưới tên gọi chung Gốc rễ (Racine) ở Galerie Bellint, Paris, năm 1994, vẫn chỉ bàng bạc không khí và cách nhìn riêng tư ấy, đó là một cách nhìn tổng hợp văn hóa Đông-Tây, và chính ở đó Thái Tuấn đã có sự đóng góp khiêm tốn mà độc sáng và rạng rỡ của mình vào thế giới màu sắc trên giá vẽ.
Có nhiều đề tài anh vẽ đi vẽ lại thành nhiều bức, tưởng chừng như sao chép chính tranh mình, song thực ra mỗi lần vẽ thì lại có một nội dung mới tùy theo tâm trạng đổi thay trong khi vẽ. Những nhân vật hay cảnh trí anh vẽ, nếu quan sát và chiêm nghiệm kỹ, sẽ thấy thực đó mà lại không thực. Anh chẳng bao giờ dùng đến người mẫu, ngay cả những chân dung bạn bè, là những tranh thường anh ưng ý nhất. Cảnh vật và con người chỉ là sự chắp nối của những giấc mơ. Nói đúng hơn, anh muốn tạo ra một không gian cho sự vật và con người hoạt động trong đó. Cái chính yếu trong tranh anh là không gian. Một thứ không gian yên lặng, đơn giản, trống vắng, không có sự trang hoàng. Tính chất trừu tượng nằm ở cái nền tranh, anh phải làm việc nhiều với nền tranh hơn là với sự vật, với hình thể trong tranh. Chính từ những hình khối của sự vật mà nền tranh được tạo dựng cho phù hợp, nói một cách khác: sự vật chỉ là cái cớ để anh vẽ cái nền.

HHU
Garden Grove
, California, 12-1995

(1) Thái Tuấn. Nguồn mỹ cảm. Tạp chí Văn số 93, 1967, đặc biệt về hội họa.(2) Cõi ngoài là bức tranh vẽ cảnh một vùng biển ở Thanh Hóa qua trí nhớ, sưu tập của Huỳnh Hữu Ủy.(3) Thư riêng của Thái tuấn gửi cho tác giả, viết từ Orléans ngày 21 tháng Năm, 1993.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address