DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,217,443

QUẢNG NGÃI, những ngày cuối cùng - NT1 Lương Văn Thuận

Wednesday, September 28, 201112:00 AM(View: 12238)
QUẢNG NGÃI, những ngày cuối cùng - NT1 Lương Văn Thuận

QUẢNG NGÃI, những ngày cuối cùng.


 

ctct


Hàng năm vào những ngày cuối tháng 3 dương lịch, lòng tôi se lại, tim tôi nhói lên từng cơn, ruột tôi quặn thắt từng khúc khi nhớ về những ngày tháng này hồi năm 1975, lúc tôi còn chỉ huy đơn vị Đại đội Chiến Tranh Chính Trị của Tiểu Khu Quảng Ngãi.

Thời gian mà tôi nhớ rõ nhất và in đậm nét trong ký ức tôi là kể từ ngày 22 tháng 3 năm 1975. Những tiếng súng liên thanh nổ dồn từ biên giới và tiếng đại pháo của địch ầm ầm long trời lỡ đất càng lúc lại càng gần hơn. Người dân Quảng Ngãi hoang mang, hoảng sợ.

Sáng ngày 23 tôi quyết định đưa gia đình của tôi gồm có mẹ tôi, vợ tôi và 3 đứa con còn nhỏ dại đi xuống cảng Phú Thọ cách quận Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi chừng mười lăm cây số về hướng Đông Nam, để theo tàu thủy của hải quân Việt Nam Cộng hòa di tản vào Nha Trang. Nhìn 4 chiếc tàu nhỗ neo, tôi và một số chiến sĩ trong đơn vị tháp tùng theo tôi, mọi người đều im lặng. Dường như trong chúng tôi, mỗi người đều mang một tâm trạng giống nhau: “Ôi! Biệt ly sao mà buồn vậy.” Tôi quá nghẹn ngào tức tưởi và chỉ biết vẫy tay chào gia đình cho đến khi những chiếc tàu khuất dạng.

Từ Cảng Phú Thọ, tôi trở về đơn vị, bất chợt tôi nhớ đến những ngày mới vào quân trường Mẹ, lòng ấp ủ bao nhiêu mộng ước cùng với hào khí:

“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

Xếp bút nghiên theo việc đao cung.”

 

Lúc bấy giờ tôi tự nhũ phải sống làm sao cho xứng đáng một đấng nam nhi vào thời loạn...Tôi túc trực ngày đêm ở đơn vị, và sẳn sàng chiến đấu cùng với anh em binh sĩ, những anh em còn có bầu nhiệt huyết tuyệt đối tuân theo kỹ luật, trung thành với quân đội và đất nước, tôi rất chi là mừng thầm bởi vì giờ này tôi không bị lẻ loi, cô độc mà ngược lại bên cạnh tôi còn có sự hiện diện của đông đủ một trăm phần trăm quân số của đơn vị. Một điều đáng mừng hơn hết là tinh thần đoàn kết của anh em đã thể hiện một cách rất rõ nét. Có những gia đình anh em binh sĩ ở trong trại gia binh cạnh đơn vị đã tự nguyện nấu cơm, nấu cháo để mời nhau ăn, gọi là chia sẽ cho nhau vào đúng cái thời điểm mà mọi người đang cố gắng tự dấu cái sự âu lo, phiền muộn của mình.

 

Cơm nước xong, tôi tập họp đơn vị lại và ra phương án phòng thủ. Đúng 12 giờ khuya tôi liên lạc với trung tâm hành quân của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Ngãi, tôi được biết tin là một trong bốn chiếc tàu nhổ neo hồi chiều đã bị đạn của địch và chìm. Trí óc tôi quá rối bời bởi vì hết sức lo lắng cho gia đình của tôi không biết sẽ ra sao, nếu có bề gì không may xảy ra chắc tôi khó mà sống nổi. Tuy nhiên, trách nhiệm, bổn phận của một cấp chỉ huy, tôi cũng như các sĩ quan trong đơn vị cứ luân phiên nhau đi tuần tra, kiểm soát vòng quanh các vọng gác của anh em binh sĩ. Vào lúc 2 giờ 30 phút sáng ngày 24, người em trai của vợ tôi từ Nha Trang gọi cho tôi biết là gia đình tôi đã đến nơi bình yên. Thất sự mà nói lúc ấy lòng tôi sung sướng vô cùng và cái chuỗi dài xaqo xuyến băn khoăn dần dần nhường cho cái cảm giác vui mừng khôn xiết.

 

Cũng chính ngày 23/3/1975, đúng là một biến cố đau thương thay đổi cuộc đời tôi nói riêng và thay đổi cuộc sống của dân chúng tỉnh Quảng Ngãi nói chung. 3 giờ 30 phút chiều cùng ngaỳ, địch pháo kích liên tục vào thị xã Quảng Ngãi. Một trái đạn pháo 130 ly đã rớt xuống văn phòng Khối CTCT. Rất may mắn là toàn bộ sĩ quan thuộc khối Chiến Tranh Chính Trị đã kịp thời trú ẩn dưới hầm tránh pháo kích của lũ sài lang dã man và đầy gian ác này. Tình hình mỗi lúc lại càng sôi động hơn. Đúng 5 giờ chiều, tôi ra lệnh cho anh em thuộc bộ phận tiếp liệu của đơn vị cấp phát nhiên liệu tối đa cho tất cả các tài xế, từ xe GMC, xe Dodge. xe Jepp, và ngay cả những anh em có phương tiện như những loại xe gắn máy cũng đều được đổ xăng đầy đủ. Mỗi người trong đơn vị được nhận ba ngaỳ lương khô hành quân. Đơn vị đặt trong tình trạng sẳn sàng chờ lệnh cấp trên. 7 giờ tôi, tôi nghe tiếng động cơ của một chiếc trực thăng chiến đấu loại UH1 D, tôi đăm đăm nhìn lên trời thì thấy chiếc trực thăng này đang lượn quanh gần sát nhà của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Ngãi. Một tiếng đồng hồ sau tôi nhận cú “điện thoại đỏ” từ thiếu tá Nguyễn Văn Hường, trưởng phòng an ninh, cho biết là trung tá Phạm Đình Lộc, Tham mưu trưởng, đã nhận được một phong bì của đại tá Lê Văn Ngọc, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng tiểu khu Quảng Ngãi thả xuống tại sân cờ của Bộ chỉ huy tiểu khu. Trung tá Tham mưu trưởng đã họp khẩn các phòng, ban và ông cho biết là “lệnh di tản” của Đại tá vào lúc 8 giờ tối hôm nay. Chấp hành “lệnh di tản”, đoàn xe của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu trong đó có đơn vị của tôi ra khỏi cổng Hoa Lư, thì tôi nghe có tiếng khóc lóc như oán, như trách của gia đình vợ con binh sĩ, họ đòi đi theo và họ cứ lầm lủi chạy theo đoàn xe. Đoàn xe của quân ta qua khỏi cầu Trà Khúc, tiến thẳng ra Chu Lai. Trên đoạn đường di tản dọc theo quốc lộ 1, Việt cộng đã phục kích sẳn, bọn chúng bắn xối xả vào đoàn xe và vào đoàn người dân vô tội. Đàn bà, trẻ thơ, chết một cách oan ức. Những người bị thương nằm ngỗn ngang, la liệt, rên xiết, kêu la chờ chết. Đoàn xe cứ di chuyển và di chuyển hết sức chậm, đôi khi dừng lại. Đột nhiên tôi thấy thiếu tá Lê Hòa, Tham mưu phó Chiến Tranh Chính Trị tiểu khu Quảng Ngãi từ trên xe bước xuống. Cũng từ trên xe Jeep của đơn vị, tôi ngừng lại và chạy vội vàng đến gặp ông. Sau khi mời ông ăn một nắm gạo sấy mà tôi đã rang sẳn, và đưa biđông nước mời ông uống một ngụm xong, không hiểu tại sao tôi liên tưởng đến “đại lộ kinh hoàng” một cái tên đã in đậm nét vào những trang quân sử vô cùng oanh liệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. “Đại Lộ Kinh hoàng” là một danh xưng đã gắn liền vào thời kỳ vàng son mà quân ta đã anh dũng tái chiếm Cỗ Thành Quảng Trị vào năm 1972.

Tôi liền hỏi:

“Thưa Thiếu tá!Thiếu tá nghĩ như thế nào con đường mà ta đang đi đây, so với “Đại lộ kinh hoàng.”

“Còn hơn thế nữa” Ông ta trả lời.

Vừa trả lời xong, ông cười và bắt tay tôi, ông nói:

“Thôi moi đi, trước sau cũng

Xe của ông vừa mới chuyển bánh cách tôi khoảng chừng 20 mét thì tôi nghe một tiếng đoành và trong đêm tối, tôi thấy một màu xanh loé sáng. Tôi tự nói một mình và chỉ để cho một mình tôi nghe thôi là « Chao ôi, Thiếu tá của mình đã đi rồi», Chính tiếng đoành và màu xanh loé sáng ấy đã kết liểu cuộc đời của vị thiếu tá mà suốt đời tôi luôn thương kính. Cũng ngay lúc ấy, chiếc xe Jeep mà tôi đã dùng làm phương tiện chuyên chổ tôi và một số sĩ quan trong đơn vị, không biết dây kẽm gai từ đâu tới cuốn xoắn vào lốp xe đằng trước về phía bên trái. Không còn cách nào để lái chiếc xe này đi được nữa. Tôi bèn quyết định rút chìa khóa xe ra và trước khi quăng chìa khóa, tôi đã loan báo cho mọi người trên xe tự lo liệu cho chính bản thân mình.

tôi băng đồng, lội suối, bơi sông tìm đường thoát. Khi nhắc tới bơi sông tôi sực nhớ đến ngay cảnh tượng hết sức đau lòng đó là trong lúc tôi bơi, tôi thấy có những xác chết trôi sông đang cuốn theo dòng nước chảy. Những xác chết ấy rồi sẽ không biết trôi giạt về nơi đâu ? Đó là cảnh thê lương trong muôn vàn thê lương trên bước đường di tản. Mặc dù con sông không rộng lắm nhưng đủ để làm tôi kiệt sức còn có người bạn đồng hành của tôi là Đại úy Phạm Thọ, Đại đội phó đại đội CTCT/Tiểu khu Quảng Ngãi, đang bám vào hai vai tôi vì anh ta không biết bơi. Mãi cho đến khi tôi cảm thấy mệt nhoài và nghĩ là mình không còn sức để bơi qua khúc sông này dù chỉ còn 5 mét nữa là tới bờ. Tôi la lên : « Anh Thọ, hãy thả tay ra hoạ may trời có thể cứu chúng ta. » Bất chợt người tôi nhẹ nhõm. Thế rồi tôi đã đến được bờ bên kia. Viết đến ngang đây tôi lại càng nhớ rất rõ cái cảm giác tê lạnh này phát xuất từ đức tin. Khi vào được bờ rồi tôi van vái ơn trên giúp tôi cứu người bạn đồng hành. Chỉ trong một sát na thôi, tôi thấy một cây sào tre bên cạnh nơi chỗ tôi đang đứng, tôi bèn lấy cây sào lên, nắm thật chặt vào hai tay và đán mạnh xuống nơi mà cái đầu anh ta đang còn nhô lên trên mặt nước. Anh ta đã dùng hết sức bình sinh chụp được cây sào tre và bấy giờ tôi đã kéo anh lên bờ. Hú hồn hú vía là anh bạn tôi đã đựơc tai qua nạn khỏi. Sau đó chúng tôi trực chỉ leo lên một ngọn đồi để ẩn núp. Nhìn qua ngọn đồi bên kia, cách ngọn đồi mà chúng tôi đang trú ẩn, khoảng chừng 500 mét tính theo đường chim bay, Việt cô5ng đang pháo kích ra hướng Chu Lai. Dưới kia, đường đất đỏ, xe tăng của chúng được ngụy trang bằng lá rừng ùn ùn từ Trường Sơn di chuyển xuống Quốc Lộ 1.

Suốt ba ngày đêm nhịn khát và nhịn đói, trên ngọn đồi trọc, đứng ngồi không yên, đêm thì chúng tôi bò xuống vườn mía của dân để bẻ trôm vài cây mía ăn tạm và để chống cơn đói đang hoành hành cồn cào một cách dữ dội. Ngày thì chúng tôi nằm sát rạt xuống bên cạnh các lùm cây tuy không cao nhưng cũng vừa che thân. Chúng tôi tiếp tục quan sát, nghe ngóng những tình huống xung quanh. Rạng ngày 27 trời vừa mới hừng sáng nhưng vẫn còn sương mù dày đặt, tôi cứ loay hoay tìm kiếm khẩn súng Colt 45 mà tôi đã lận trong lưng quần. Tôi tìm hoài vẫn không có, nếu tìm ra được thì tôi cũng không biết là giờ này tôi có còn ngồi đây hay không để mà ghi lại những gì mà tôi còn nhớ trên từng trang giấy này. Sau đó, tôi quyết định xuống núi, cùng với anh Thọ, đi vào làng dân, bất chấp những gì có thể xảy ra. Lúc chúng tôi băng qua một cánh đồng, bỗng nhiên có một thanh niên trạc chừng mười chín, hai mươi tuổi đang vác cái cuốc trên vai. Người thanh niên này dừng lại và hỏi :

« Có phải các anh là lính ? »

« Phải, chúng tôi là lính. » Tôi đáp.

« Em đưa các anh gặp gia đình em » Anh ta nói tiếp.

Chẳng biết thực hư thế nào, chúng tôi bèn đi theo anh thanh niên này. Đi được khoảng 15 phút, trên đường dẫn vào làng dân, tôi thấy một đám đông người đang xúm xuýt vây quanh một ông cụ già. Tôi đứng lại và nghe cụ già này kể rằng rằng cụ vừa mới chôn một xác ông quan lớn. Tôi hỏi ngay :

« Ông quan lớn có giấy tờ gì trong túi không, thưa cụ?»

« Có một thẻ quân nhân, nên tôi mới biết ông quan lớn này là Thiếu tá Lê Hòa. » Ông cụ trả lời ngay.

Vậy là cụ già đã chôn xac thiếu tá Tham Mưu Phó CTCT của tôi rồi. Tôi đau đớn ứa nước mắt, nín lịm cả người và chỉ biết chào vĩnh biệt một vị thầy của mình mà thôi. Sau khi hỏi tiếp về chi tiết thì được biết một phần của thầy tôi được ông cụ cắm một tấm gỗ và có đề tên, nằm bên vệ đường cạnh trường tiểu học Trà Bồng. Tôi tự hứa với lòng mình là sau này nếu tôi còn sống, tôi sẽ tìm cách báo cho gia đình thầy của tôi biết. Tôi giã từ cụ già tiếp tục theo chân chàng thanh niên. Vừa vào đến sân nhà anh ta liền gọi bà mẹ nấu mấy gói mì và một nồi khoai lang. Ăn được một bụng no nê xong, chúng tôi đã được anh này dẫn đi trình diện hội đồng xã, một trụ sở mà Việt cộng đặt tạm thời để tiếp nhận những người sa cơ thất thế như chúng tôi. Từ đó, bọn họ đưa chúng tôi vào các trại tù mà mà chúng thường dùng cái từ rất chi là mị dân : « Trại cải tạo. »

Thời gian dần trôi, tôi đã trãi qua tất cả các trại, từ trại Trà Niu nằm xa thẳm vào tận vùng sâu nước độc của vùng núi hiểm trở thuộc quận Trà Bồng, rồi đến trại Kỳ Sơn thuộc quận Tam Kỳ, Quảng Tín. Cuối cùng là trại Tiên Lãnh thuộc quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

Sau những năm tháng triền miên đầy gian nan khổ ải, nếu ai trong chúng ta đã trải qua những chuổi dài thời gian nếm mùi cay đắng dưới gông cùm của bọn Cộng Sản thảy đều đã biết. Bây giờ tôi, người trở về từ trại tù Cộng Sản, còn sửng sốt ngoái nhìn lại quá khứ, một quá khứ ê chề, thê thảm, thật sự quá giật mình. Song tất cả đều trôi qua, tất cả đều xóa nhòa, chỉ còn có kỷ niệm, dù chỉ là kỷ niệm buồn. May mắn thay là là bên cạnh những kỷ niệm buồn thảm ấy, tôi có một điều rất mừng là tôi đã nhờ bà xã tôi, sau chuyến thăm nuôi đầu tiên tại trại Kỳ Sơn, về lại nhà tìm cho ra gia đình Thiếu Tá Lê Hòa, để báo tin cho gia đình ông biết rõ địa điểm ngôi mộ của ông. Sau khi ra khỏi trại tù Cộng sản, về với gia đình, tôi được biết là gia đình của ông đã đưa hài cốt ông về yên nghỉ tại Huế. Tôi thở dài nhẹ nhõm là đã làm một việc gì đó có ý nghĩa. Một điều đáng m2ưng nữa là người bạn đồng hành của tôi, Trung úy Phạm Thọ, hiện còn sống và đang đnịh cư tại Thành Phố Westminster, tiểu bang California. Tôi đã một lần gặp mặt anh Thọ, sau ba, bốn mươi năm xa cách, nhân chuyến đi về California để tham dự đại hội 15 của Tồng Hội Ái Hữu cựu Sinh Viên Sĩ Quan Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt vào tháng 5 năm 2009.

Giờ đây lòng tôi vẫn mang một nỗi buồn rười rượi, vời vợi nhớ về Quảng Ngãi : Quê hương thứ hai của đời tôi. Tôi sinh ra, lớn lên tại Huế, sau khi tốt nghiệp Khóa 1 từ Quân Trường Mẹ : Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, tôi sống và chiến đấu từ các đơn vị tác chiến đến đơn vị Đại Đội Chiến Tranh Chính Trị Tiểu Khu Quảng Ngãi, cho đến ngày cuối cùng. Cho nên giờ này tôi luôn nhớ các địa danh mà tôi đã từng đặt chân tới như : Thạch Trụ, Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh, Bình Sơn... Đặc biệt là ngọn núi « Long đầu hý thủy » đứng sừng sững, hùng vỹ, bên giòng sông Trà Khúc gợn sóng, khi gió lạnh đông về là những hình ảnh gợi nhớ và dễ dội về trong tâm khảm. Tôi thầm nguyện cho người dân Quảng Ngãi nói riêng và cho dân tộc Việt Nam nói chung sớm thoát ách độc tài đảng trị của bọn Cộng Sản. Tôi hy vọng rằng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền thật sự sẽ đến với đồng bào ta một ngày không xa.

 

NT1 Lương Văn Thuận

 

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, February 19, 20208:21 PM(View: 67)
Tuệ Sỹ ngồi đó, chiếc bóng sậy gầy. Sững như một ngọn gió. Đôi mắt tròn to, long lanh. Mãi long lanh với miệng cười. Như Niêm Hoa Vi Tiết. Bỗng ông bật dậy đi rót cốc nước lọc cho tôi, cho ông. Tôi im lặng dõi theo dáng nguòi nhỏ bé di động, lắng nghe tiếng vạt áo lam phất phất trong căn phòng nhỏ một buổi chiều. Rồi chắp tay cung kỉnh, thưa Thầy khoẻ không? Miệng cười nở rộ hơn, ánh mắt tinh nghịch hơn, Tuệ Sỹ đáp như reo, anh thấy tôi khỏe không hè? Tôi cười nheo mắt, Thầy khoẻ con mừng. Trông ông khỏe hơn mấy năm trước thật, lúc mới ra tù được đúng một tháng. Ngày ấy đầu ông như đóng trốc, da bọc sát sọ, mường tượng như Thế thân Thiền sư Vũ Khắc Minh, không ngồi kiết già nhập đại định ở chùa Đậu nữa, mà đi lại, mà nói cười, nhập vào cơn huyễn mộng. Nay da đầu đã nhuận thắm, những vết chốc ghẻ biến mất, nhưng cái ót sọ ông vẫn nhô ra quá khổ với thân mình. Quá khổ đối với thế tục. Chắc nó phải cứng, khiến bạo quyền lui lại. Tuệ Sỹ luôn cười, bằng “đôi mắt ướt tuổi vàng cung
Sunday, February 16, 20207:21 AM(View: 134)
Hồ Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ. Nhưng Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu... mới nghe tưởng là tôn vinh, thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái. Tên thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt. Hồ Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này "phải là" con cháu Hồ Biểu Chánh. Hồ Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải),
Wednesday, February 12, 20209:06 PM(View: 315)
Ngày 31 tháng 1, năm 2020 Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh của Báo Người Việt phổ biến một thông báo với nội dung: Thông báo gửi toàn thể nhân viên NV. Xin thông báo cùng các bạn, kể từ ngày Jan 15, 2020, ông Đinh Quang Anh-Thái. và kể từ ngày Jan 24, 2020, ông Đỗ Quý Toàn, hai ông sẽ không còn làm việc với công ty NV dưới bất cứ mọi hình thức nào khác! Như thế là thế nào? Dẫu không phải là nhân viên hoặc cộng tác viên của NV, nhưng do một cơ duyên đã cho bản thân cá nhân dịp tìm hiểu, giao tiếp với người sáng lập Người Việt, Đỗ Ngọc Yến từ những năm 50, 60 qua các hoạt động Báo Ngàn Khơi (1957), Trại Hướng Đạo Trãng Bom (1958); mối giao tiếp càng chặt chẽ hơn trong thập niên 70 khi cộng tác với Đỗ Ngọc Yến qua Báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc ở Sài Gòn. Sau hơn nửa thế kỷ quen thân từ Đỗ Ngọc Yến, bản thân dần biết thêm Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và hiểu ra giữa họ có một Giây Liên Lạc – Mối Ân Tình Huynh Đệ Rất Chặt Chẽ. Vậy tại sao có lần đỗ vỡ quá đổi bất ngờ và ngạc nhiên như vậy đã
Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 117)
Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch… Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp. Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào. Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được? Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi: - Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô
Monday, February 3, 20208:06 PM(View: 148)
Sau này nghĩ đến chị Ngát làm tôi nhớ đến cả miền Bắc mà tôi đã xa nó từ năm 1952. Cái tên của chị quả hăm mốt năm ở miền Nam tôi rất ít hoặc không hề nghe, nó như một cái tên đặc trưng của gái miền Bắc. Khi tản cư qua Điền Hộ mùa hè năm ấy, tôi mới tám chín tuổi. Dọc đường, nhiều khi gia đình còn phải thuê người gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu. Những dòng sông, con đê, những thửa ruộng nứt nẻ, những đứa trẻ cỡ tôi vỏn vẹn với cái quần đùi, chăn trâu trên những cánh đồng cỏ cháy, những mẹ già mặc váy đụp lúp xúp quang gánh đi bên đường, những chiếc xe đò chạy bằng lò than chết máy dọc đường đang được đám lơ tài quay cho máy tái nổ, những ngôi nhà vách rơm trộn bùn, những thánh đường lỗ chỗ dấu đạn… Điền Hộ cuối thời chống Pháp, sang thời Việt Minh kiểm soát trong mắt tôi là như thế. Những sản phẩm từ mạn ngược, xứ Thanh của tôi, từ những chum vại Lò Chum cho đến nước mắm Kẻ Bạng Ba Làng, qua cửa Thần Phù, đem vào đây để phân phối đi xuống phương Nam gần như vắng bóng. Hơn một