DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,772,991

Luân Hoán - Hồ Minh Dũng

13 Tháng Ba 20182:53 CH(Xem: 619)
Luân Hoán - Hồ Minh Dũng


HỒ MINH DŨNG


HMD
@

P 1.

#

MỞ ĐƯỜNG

@

không thêm không bớt nét nào
nên không cần phải mần thơ làm gì
trong bụng nghĩ vậy nên chi
chần chừ ngồi nắm bút chì vẩn vơ

chữ cái bàn phím đã mờ
cục gôm cây bút chì xơ xác rồi
gõ hoài cũng một cái tôi
dính theo trời đất lẫn người cỏ cây

chân dung bạn vẽ dưới đây
đã chưng đâu đó và nay nhẹ nhàng
bày lại những bi lạc quan
của nhau lần nữa trước an táng và

lời vĩnh biệt sớm đấy nha
vì tôi cảm thấy đủ già để đi
từ "mở đường" nhắc lại khi
làm lính thường lắm hồ nghi quên về...


Luân Hoán

09-3-2018

+++

TÂM CHÂN DUNG
HỒ MINH DŨNG

@

gặp mặt ở Thủ Đức
chào tay, tôi hơi run
sợ ông chơi đòn bẩn
phạt lính mới giải buồn

nhưng không, ông lịch lãm
tử tế rất đàn anh
con cá đuôi đã mọc
nòng nọc tôi lại lành

tuy rằng khóa huynh trưởng
nhưng thua tôi một năm
(tuổi-ta thường cà chớn
tuổi-tây cũng cà lăm)

chỉ cần nhìn khuôn mặt
vốn sống ta bằng nhau
cả hai thằng đều ốm
trơ những nếp buồn đau

ông chính gốc dân Huế
hưởng hơi hám chúa vua
dù nhà cách đại nội
có khi đi mút mùa

dẫu gì cũng có đủ
tình núi Ngự sông Hương
nằm khít trong lời nói
tạo phong cách dễ thương

hồi tôi ở Mang Cá
hay gần Hồ Tịnh Tâm
không gặp ông làm bạn
nếu không chừ càng thân

sáu-tư ông khởi viết
năm tôi mò Về Trời
chậm chân nhưng ông biết
thả nước rút một hơi

từ thơ qua cả truyện
ông đánh cùng một lần
mặt trận nào cũng thắng
thật mau lẹ lên chân

tôi đương nhiên khoái đọc
mấy thằng lóc nhóc mình
nhất là bọn tỉnh lẻ
chưa sạch mùi học sinh

thật ra thường đọc cọp
ở nhà sách, cái tên
đã đìu hiu sung sướng
tưởng như chợt lớn lên

cũng Bách Khoa, Văn Học
các tạp chí Sài Gòn...
ông vững danh khá sớm
trước khi vào đeo lon

tôi lơ ngơ lụt lịt
cũng làm báo bộ binh
khóa hâm ba, hâm bốn
chụm đầu nhau chụp hình

tôi, ông ngồi hàng nhất
ông góc trái, sát rìa
tôi dành đúng chính giữa
lạc hàng ngang mũ hia

nhìn hình thấy ông cận
kính bây giờ còn mang ?
giàu thời gian thường sáng
hẳn ông cũng y chang ?

sau khi rời trường mẹ
ông về đâu làm quan
KBC ông viết
rõ nét, thiếu rõ ràng

thư ông gửi đã mất
nhưng bì thư còn đây
dán lên cho ông nhớ
nét chữ khá khéo tay

tôi thì ông đã biết
nay đã cụt chân rồi
may có cái chân gỗ
cũng khệnh khạng theo đời

thời gian ông cải tạo
bị kéo dài mấy năm
rủi mà may đấy nhé
đủ tiêu chuẩn thăng trầm

ngày ông đến đất Mỹ
Thái Tú Hạp cho hay
sau vài lần liên lạc
tình bạn theo gió bay

đời sống không chụp giật
nhưng không thể chậm chân
tôi ông đều cố gắng
vẫn khó thoát phong trần

ông viết nhiều, đủ loại
thơ thâm trầm tuyệt hơn
nhưng in ba tập truyện
bán sạch, không tặng không

tôi được đọc tên sách:
Hoa Vạn Hạt Cuối Mùa
Câu Nam Ai Thất Lạc
Một Mình Em Đến Giữa Đời (1)

nội dung truyện, tôi “nắm”
từ nhiều bài phê bình
điển sách cùng giới thiệu
đều vỗ tay nhiệt tình

Nguyễn Vy Khanh nhận xét:
“... độc đáo điển hình hơn...
“... tích lũy kinh nghiệm sống
“... sôi sục... nhưng chín hơn..”
giàu “nghệ thuậ” “nhìn”, “thấy”
“bằng quan sát, kinh qua..” (2)
quả thật khen chính xác
thân tình, không ba hoa

hình như nhiều ngọn bút
hết lòng với văn chương
Nguyễn Mạnh Trinh, Du Tử... (3)
đều trang trọng đưa đường

giai đoạn đầu hải ngoại
ông hăng hái nhiệt tâm
sáng tác lẫn làm báo
hai tay đều rất gân

không hiểu sao vô cớ?
ông hạn chế tang bồng
này Hồ Triều Nghi bạn (4)
giải thích giùm được không

vẽ ông chẳng lẽ chỉ
khoe ông cao hay lùn
mập ốm ở thân xác
không sánh bằng văn chương

như trên, tôi đã nói
rất tâm đắc thơ ông
gọn nhẹ và cô đọng
trong vốn đời thâm trầm

lá thư xưa ông gởi
tuy là đã mất rồi
nhưng chắc ông ái ngại
que tăm tôi giữa đời

lòng ông với bè bạn
quen sơ cũng như thân
tiện đây xin đa tạ
người bạn từ quân nhân

Luân Hoán


1. tác phẩm HMD đã xuất bản

2. chữ dùng của nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh
3.Du Tử Lê
4.bút hiệu của Hồ Minh Dũng trước 1975

_____________________________________________



P 2

ĐỌC THƠ VĂN HỒ MINH DŨNG


#


NHỚ BẠN HÀNH QUÂN

Hồ Minh Dũng
@

Bạn còn nhớ vầng trăng lên
bên này đồi Ái Tử
dưới kia bãi lầy nhái bén kêu
đời thủy sinh sống được mấy ngày
vận nước nổi trôi ngàn năm mấy buổi?

*

Đứng với nhau một vài lần
dưới thân mít quả đơm sát gốc
lắng tai nghe ngọn sóng mất mùa
rát cổ quạ kêu mịt mù mặt đất
tử sinh không biết đâu lần mò
sờ soạng tìm nhau ngày sắp tắt
nhớ ơi, bước chân Trảo Trảo về
cứu được ngai vàng - lưỡi gươm dính máu
nợ đòi, mấy chủ, qua truông cát
bới nắm xương khô vái bốn bề
từ độ mình xa nhau
được mấy năm thì mất nước
bạn phiêu dạt phương nào
còn sống, còn nghe lời Trảo Trảo
đêm khuya nhái bén kêu vang trời

+++

GIỮA RỪNG

@


như giọt mưa ngủ trên lưng người gù
tôi trở về thừa thãi trong xác lá em
bây giờ loài nấm tan hoang cũng đã mọc
và cánh cuối cùng cũng bay tuyệt tăm

khi giọt mưa làm ung thư dòng sông
tôi nhìn thấy khu rừng sương đã dựng
buổi sáng linh-hồn-tuyết đã băng mòn
đôi mắt em cơn dông
của một vùng cây không tiếng chim

khi giọt mưa đan thảm buồn trên suối
tôi trở về trùm kỷ niệm rách
những giọt mưa vừa sinh non
những đứa trẻ ngơ ngáo của rừng
những đứa trẻ đêm trăng nào cũng hát
cho em nghe câu chuyện tình của hai con mối trắng
và khi cơn bão mật về
em cúi nhìn thung-lũng-hồn đã ướt

khi những giọt hồng rơi nhanh
em hãy xót thương chiếc bóng nước cuối cùng
cuộc tình tôi đen điu hơi thở loài ấu trùng trong kén
vẽ ngày yêu em lên từng ngọn mây.


(Văn, tháng 11-1967 Vuông Chiếu đi lại)

+++

THÀNH NỘI


@

Tám cửa thành một mình em đứng đợi
Nhìn trời cao nhớ mấy thuở mây về
Rượu với em mâm tiêc đầy uống cạn
Giọt tình sâu lệ đắng đã bao đời
Đêm Nội Thành một mình em xỏa tóc
Thương câu Nam Ai thất lạt bên đường
Yếm đào phơi em bỏ quên ngoài dậu
Cho trăm khuya,trăng nhớ lá trong vườn
Đêm nguyệt Cầm gió cùng em chải tóc
Soi tình quên đài gương mục trong vườn
Sông từng nngày có về thăm chân núi
Ngàn năm sau, em một chiếc bóng, bên đường


+++


BÀI QUÊ CŨ


@

Nỗi buồn ta còn hơn Vô Kỵ
Ngồi vẽ chân mây lên ngọn song từng ngày
Mai về phố cũ .Qua huyện nhỏ
Đường gió đuổi nhau gió heo mây
Em dỗ dùm ta khi trăng khuyết
Sơn hà có lúc nhớ cũng về
Một mảnh hồn trong từng bụi nắng
Khuất núi .Lòng ơi che khuất rồi.

+++

BÀI TÌNH YÊU

@

Ngàn năm giọt mưa treo đầu bút
Nhỏ xuống đời ta một vết son
Từngtrang quạnh quẽ như đầm biển
Chỉ có sum vầy – em núi non!
Trang giấy nhỏ khôngđủ sức chứa hết
Lòng ta bơi muôm cửa lạ thành này
Khi trùng tu em về qua đền lớn
Ải không em mưa bụi trắng xóa trời.
+++

NỢ


@


rừng cây, ta nợ, vài chiếc lá
nằm đợi bao năm ngựa vía về
lục lạc rung khan triền núi lở
bờm rụng, vó cùn - hết thời hề
lọng người che đồi hoang kín mít
co ro mình ta vạch lá nhìn trời
mới nhớ năm xưa mượn em sợi tóc
tưởng ngàn thu xanh, nay bạc trắng rồi
nợ sông, mấy nhánh, qua cồn cát
thân ta tôm đất có gì vui
xa rong mới biết bùn chua ngọt
đời trôi xuôi, mình bò giật lùi
hoàng hôn, ta nợ vầng mây úa
níu đuôi hạc bay hành hiệp góc đời
ánh trăng ngày ấy, lời thế ấy
trấn nước với ta đuối giữa đìa người
đêm đêm , thao thức, chờ gõ cửa
chẳng còn ai đến đòi nợ về
còng lưng gánh, một mình , khấp khởi
chạy quanh co - đời quanh co hề

(Văn Học Miền Đông Hè 97)

+++

MƯỢN

@


mượn trời, để đội, vài năm nữa
che đỡ nắng mưa lúc bạc đầu
mượn người , tạm bợ, vài thước đất
lấp nắm xương tàn, phơi tình sâu
mượn đêm, bóng tối, ôm vầng trán
nhức buốt gậy ai đánh u đầu
mượn ngày, khuây khỏa, cơn hấp hối
đau ơi, bỏ nước chạy lấy người!
mượn đời, vài dặm, ra tới biển
ngó về tổ quốc, sống xô nhau
hai mươi năm rồi. Nợ...chồng chất
biết mượn gì thêm, mượn ở đâu ?

(tc Văn Học /USA #109 thg 5.1995)

+++

CÂU NAM AI THẤT LẠC
truyện ngắn

@

"Đêm nội thành một mình em xõa tóc
Thương câu nam ai thất lạc bên đường"


Thiều Dung và Thiều Hoa là hai chị em sinh đôi. Khi mới sinh, bà mụ gọi là hai hạt ngọc.
Ông Bửu Bình phải thuê người chèo thuyền lên tận đầu nguồn sông Bồ tìm cho được cây lồ ô già có sinh chín cây con (hoặc còn măng) mọc chung quanh về đan nôi cho con.
Lớn lên cả hai chị em đều xinh đẹp lạ thường.
Thiều Hoa có đôi mắt nhìn vào ai thì người đó phải bồn chồn, lo lắng như mình sắp bước vào đường lao đao. Các chàng thanh niên yếu bóng vía chỉ nhìn đôi mắt ấy một lần vội vã về nhà trùm chăn mơ tưởng tới, có khi cả mấy ngày không cần ăn. Còn Thiều Dung có mái tóc khác đời, nếu nàng đi một mình trên vệ cỏ ven sông Hương thì mây phủ trên dòng sông đó đều kéo dồn về phía nàng. Nơi có mái tóc chập chùng ảo ảnh.
Các cụ nhà nho thấy hai cô gái nhà tôn thất, nói với nhau:
- Tổ chim sinh một lần hai chim phượng quý, là điềm sắp đến ngày suy.
Mẹ nghe được câu đó, ghi lòng, chờ đến khi hai con tóc chớm ngang vai, cho trang hoàng hoa lá chiếc thuyền, ban đêm chở lên điện Hòn Chén cúng gửi cho nữ thần và múc nước khúc sông đó cho hai cô tắm gội trừ quỷ tà xâm nhập vào châu thân. Người nam chèo thuyền thấy được hai cô lúc tắm, về đến nhà nổi cơn sốt nằm liệt mấy ngày, người ta gọi là bệnh tương tư cấp tính. Một thanh niên khác nhà gần sông, trèo cây cao nhìn trộm, chân tay bủn rủn rớt xuống đất, may nhờ có lá vàng rụng trải dày phía dưới mà không hề gì. Đó là thời hai cô gái mới lớn, nhan sắc chưa đến hồi phát tiết toàn bích.
Khi hai cô ngồi bên nhau thì trời đất tụ lại thành một khối tinh anh muôn sợi nghìn nhánh vấn vít vào đời. Khi tách ra, tự mỗi cô là một cù lao vời vợi, mặt trời, mặt trăng, ngàn sao chỉ mọc, lặn ở đó.
Mẹ hai cô tên Ánh Thiều, quê ở làng Xuân Ổ thuộc huyện Phú Vang. Cả mấy trăm năm nhà Nguyễn, xứ nầy không ai được tuyển vào cung, nhờ thế mà dân tình yên vui trong những gì họ có. Đến khi Ánh Thiều sinh ra vì đẹp quá nên phải gửi cho bà ngoại ở làng Dương Nỗ nuôi, để tránh cái họa “một ngày dựa mạn thuyền rồng...”.
Từ khi có bé về, đội đua ghe làng phát triển. Bé càng lớn lên, tay đua càng khí thế. Lúa ngoài đồng năm nào cũng chĩu hạt. Cam quýt trong vườn không một trái sâu.
Về sau, ông Bửu Bình trong những buổi nhàn cư thường về cầm chầu cho đội ghe nầy. Nghe có người đẹp ẩn thân, tiếng trống ông vang lên rộn ràng như thúc quân khởi nghĩa. Hết đua, ông ngồi giữa sân đình làng đánh trống, tiếng trống vang như sấm rền, làm cho chim chóc không dám đến đậu chung quanh. Người hoàng phái, chẳng ai phàn nàn ông. Mỗi khi ông đến, đều có thắp nhang, cúng hoa quả trong đình như lời cầu xin trước với đấng thiêng liêng. Nhang ông thuộc loại quý dùng để thắp trong lăng miếu thơm bay phảng phất cả làng. Ông cũng không nói đụng đến ai. Có ông, mọi người đều vui. Đường làng, trường xuân hoa mọc đầy. Màu hồng thắm của hoa làm cho những buổi chiều tà bớt vàng vọt.
Đêm đêm ông trải chiếu dưới mái hiên đình uống rượu, rôm rả ngâm thơ, kể chuyện đời. Người già, con nít kéo đến vui vẻ với ông cho đến khuya. Các cụ già khoái ông vì có rượu ngon, đồ nhắm toàn là thịt bồ câu non nướng, tôm chua kẹp thịt heo cỏ Giạ Lê luộc, cá hấp sông Truồi đang lúc có trứng, chiều nào cũng có người từ Dinh ruổi ngựa mang về còn nóng hổi. Bọn trẻ không biết uống rượu thì nghe ông kể chuyện, chuyện ông kể toàn là trên trời dưới đất, nhưng đoạn kết lúc nào cũng vui, lạ, thấm. Ngoài kể chuyện, chúng còn được nhìn thấy nơi chiếc áo ông mặc in nhiều hình lạ, chuồn chuồn, bướm, mây bay và chi chít hình thạch nhũ treo. Ở ông, một con người gần với vua, thái tử hay hoàng tử mà dễ gì chúng thấy được. Ông rất tốt bụng, tôn trọng người già, thương yêu trẻ thơ, có khi gắp thức ăn đút cho các cụ già, trẻ con. Các cụ nhai lâu vì không còn răng, các em nhai lâu vì tiếc không chịu nuốt. Thấy hai thế hệ đều cơ cực, hồ hởi với miếng ăn cõi phàm, ông rơm rớm nước mắt.
Khi hết người đến, ông mới chịu gối lên mấy quyển sách thánh hiền ngủ. Còn một người cuộc vui vẫn chưa tàn.
Đến mùa đông, ông khăn gói lên. Mùa xuân, chờ nắng ấm lại về, như chim én.
Khi vắng ông, người ta không quét rác nơi chỗ ông nằm, cứ để thế cho gió lùa bay. Thằng mõ cùng đinh của làng đeo toòng teng chiếc mõ tre bụi bặm lảng vảng quanh chỗ ấy cũng không dám đuổi đàn ruồi hay xua lũ kiến đi.
Bỗng một năm, mùa xuân qua lâu không thấy ông trở lại. Vắng ông, không biết tai vạ từ đâu đổ lên đầu dân làng, mùa màng có trồng không có gặt, cây cối trong vườn và đường cái ủ rũ, buồn tênh. Đội ghe không có tiếng trống chầu, thua luôn mấy trận. Cây đa đầu làng chỉ một ngọn gió nhẹ lướt qua đã gẫy mất mấy nhánh to. Đám táo quân dưới gốc cây ấy chim chóc ỉa lên đầu trắng xóa. Trâu bò ra đến cổng làng cong đuôi chạy, lũ mục đồng đuổi theo nửa buổi mới ngồi được lên lưng. Gà nổi lên gáy trưa inh ỏi. Đình làng vắng hoe, hương khói ngày mỗi thưa. Cú đứng nóc đình gào lên từng cơn. Con hói chảy qua phía trước dâng nước lên cao, cóc nhái kêu vang.
Các vị bô lão trong làng họp nhau cố tìm nguyên do. Người nầy nói:
- Mạch đất làng ta xưa nay không có gái đẹp. Nay có, sinh họa chăng?
Người kia nói:
- Đàn bà đẹp như tiên như thánh, đi đến đâu ma quỷ lánh xa. Ngày xưa nhờ bắt được các nàng thục nữ nước Chàm dẫn về Thăng Long mà nhà Trần yên mấy chục năm liền. Tinh hoa các cô ấy còn xóa được uất khí loạn luân trong hoàng cung.
Lý trưởng nói:
- Hay là Bửu tiên sinh, giọt máu vua, bỏ làng ta mà đi?
Lời người chức sắc nói ra coi như kết luận. Họ xúm nhau bàn về vị hảo hán cầm chầu nầy:
- Đúng thế, bất luận giá nào cũng mời ông ấy về.
- Mời về không khó. Khó là cột chân ông ấy lại.
- Phải, tính chuyện cột chân.
- Người cột chân ông ấy không ai làm nổi, ngoài Hoàng Thị Ánh Thiều.
Mọi người thở ra nhẹ nhõm, về nhà. Hôm sau, làng mổ trâu, giết lợn mở tiệc lớn, cái đầu lợn to nhất mang tới nhà bà ngoại Ánh Thiều.
Ánh Thiều trở thành vợ Bửu Bình khó khăn đến thế. Người mai mối là cả làng, đưa dâu cũng cả làng. Sau khi Bửu Bình lập kế lấy được vợ đẹp, hằng tháng ông về thăm lại làng nầy, cúng tiền bạc cho họ làng, thăm hỏi người cao niên, thân mật vỗ vai trẻ con, nhưng thần sắc ông như lạc lõng vào chốn hoang tàn, chẳng bao giờ cầm chầu cho đội đua ghe nữa. Vợ ông nói:
“Đàn ông cầm chầu vừa tổn thọ, vừa tổn đức. Hai bàn tay con dòng của giống không phải để cầm dùi. Nay có tôi rồi, anh không nên cầm cái gì khác hơn.”
Ông cười, chỉ ngón tay vào ngực vợ:
“Khi xưa, cầm cái dùi là để giục vào lòng nầy. Nhờ tiếng giục động đến trời mà tôi có bà. Cả hai bàn tay tôi nắm chặt cái đang có, không nắm cái khác.”
Lấy nhau hơn ba năm, không có con. Ánh Thiều nói:
- Tuyệt tự là tội nặng, anh nên lấy thêm người vợ lẽ để kiếm mụn con.
Bửu Bình ngơ ngác:
- Biết lấy ai?
- Tôi có người em họ sinh bọc điều. Trên mặt có đến ba đồng tiền, hai ở má, một ở cằm.
- Đàn bà có đồng tiền là tướng quý, nhưng sinh trong bọc điều thì khôn, không nên cưới người quá khôn làm vợ. Người vừa phải ít phản bội nhau.
Bà Ánh Thiều nguýt chồng:
- Thế em hạng người nào?
Ông Bình cười tươi:
- Em dại ngoài đời, khôn trong anh. Người ta thường “khôn nhà dại chợ”, em ngược lại.
- Phải. Ở đời khôn quá thì dễ bị tai họa. Thói đời, ai cũng thích người khác ngù ngờ.
Thời gian sau, Ánh Thiều lại đề nghị:
- Hay là em ra ngoại ô tìm mối cho anh, nghe ở làng Kim thời nào cũng có gái đẹp.
Bửu Bình ngần ngừ chưa quyết thì Ánh Thiều đã mang mấy thoi bạc đi. Gái làng Kim có thói tục thích làm vợ bé người giàu hơn làm vợ chính kẻ nghèo. Chỉ đi một vòng có hơn mười người xin theo, bà Thiều chọn hai, đưa lên xe kéo về cho chồng chọn. Thấy người nào cũng cao to, nõn nà, thắt đáy lưng ong, lông mày rậm, mắt lá răm, da bánh mật, là hạng gái đa tình, dễ sinh con, ông muốn cả hai. Bà Thiều không chịu. Sợ vuột mất cái đã nắm được trong tay, ông nghe theo, lấy một.
Tục làng Kim, đêm tân hôn, cô dâu chú rể phải đem nhau lên một ngọn đồi nhỏ có cây cối rậm, cả hai cùng chỉ vào mặt trăng (nếu không có mặt trăng thì một vì sao lớn nhất) mà đọc lời khấn nguyện “ngọn đèn hoa chúc do trời thắp nầy cả đời không tắt”, rồi trải chiếu, làm việc gieo giống. Ông Bửu Bình không chịu vì dòng họ rồng mây, làm như vậy, nếu sinh con sẽ hóa rắn rết chui vào gia thế. Cơ đồ nhà Nguyễn không khéo lẫn lộn với đám lông đuôi của chúa Trịnh mất. Trên mái nhà lợp ngói lưu ly của ông cũng có trăng sao, cần thì chỉ lên đó. Thế là cô gái khóc đòi về. Cô về, bị bọn hào lý trong làng phạt vạ hai thùng rượu lớn, ba con lợn, một mâm trầu cau vì cái tội trở về tay không. Số tiền ấy gia đình ông Bình chịu hết.
Mùa đông năm đó lụt to, nước thượng nguồn đổ về lên đến kèo nhà, dân làng Kim chạy lên núi không kịp trôi mất tám mạng. Bọn hào lý lại đổ tội cho cô gái làm vợ hụt người khác xứ mang con ma ế về làm hại làng xóm. Chờ khi nước rút, họ nọc cô ra đánh đòn trên bãi đất bờ sông, nơi nhìn qua bên kia điện Hòn Chén, ngày đó cũng lắm người đến lên đồng, nhảy múa chầu văn để xin thánh nữ phù trì che chở. Tiếng khóc của cô gái chao trên mặt sông, có đến trộn vào đám thanh âm đó.
Số người làng Kim kéo đến xem trận đánh không nhiều, họ tin xem đàn bà trần truồng nơi thanh thiên bạch nhật là điều không phải. Đàn bà bị phơi bày ra đã đền tội rồi, cần gì phải đánh bằng đòn gánh củi, than.
Cọc gỗ trói cô gái sau không ai nhổ đi, không ai dám đến gần. Nghe đâu đêm khuya đom đóm tụ về trên vạt đất đó như bè lưỡi lửa và cọc trói cô có phát ra mùi thơm bồ kết và ánh lân tinh.
Mùa lụt năm sau, nước lên, cuốn cọc gỗ trôi ra giữa dòng. Trong làng có chàng đàn ông mạnh khỏe, góa vợ, chạy đuổi theo, nhưng nước lũ trôi nhanh, không tài nào đuổi kịp.
Chuyện ông Bửu Bình cưới vợ lẽ để sinh con nối dòng bất thành còn kéo theo nhiều hậu quả không hay. Ít năm sau, bà Ánh Thiều nghĩ ra kế khác:
- Anh để em về quê một thời gian, chúng ta tạm chia tay, rồi sẽ về làm vợ anh như lúc đầu, biết đâu mình lại có con với nhau. Sự đời xưa nay vẫn thế, lúc đầu tròn vẹn hơn.
Chí lý, ông Bình nghe. Vợ ông về làng Dương Nỗ một tuần, nhớ quá, ông mò về. Hai người đem nhau ra cồn cỏ ngồi dưới gốc vông vang.
Ông nói:
- Xa em, chẳng mấy ngày mà tôi thấy lâu. Đêm năm canh trằn trọc, nghe thằn lằn kêu trên mái nhà, buồn da diết.
Bà nói:
- Mình buồn một, em mười. Đêm khuya nghe tiếng dế kêu ngoài vườn, nước mắt chảy lúc nào không hay.
Rồi họ ân ái với nhau nồng nàn như ngày mới cưới. Lá hoa vông hình trái tim cùng với màu hoa vàng nhạt đang toát ra mùi xạ hương giúp họ chìm đắm. Ánh Thiều nhớ đến cô gái làng Kim, nhìn lên trăng mà xin lời cầu tự. Lâu lắm, ở quê bà mới có được một vầng trăng không mây che.
Bà mang thai, sinh ra hai chị em Thiều Dung, Thiều Hoa, một lần.
*
Hai chị em giống nhau như hai giọt nước. Chỉ khác nhau mái tóc và đôi mắt. Cả hai cô đều ít nói, khi nói ra toàn những lời không thừa. Càng lớn hai cô càng khác đời, từ lúc vào tiểu học đã có người lẽo đẽo dòm ngó. Đến tuổi dậy thì, cha mẹ phải nuôi một người đi theo gìn giữ, canh chừng. Người nầy không ai khác là người đàn ông làng Kim hồi trước chạy đuổi theo cột trên dòng nước lũ, tên Bùi Thìn.
Ngôi nhà hai cô ở không bao giờ được yên. Lúc nào cũng có đủ hạng người, đủ thành phần lai vãng. Ông bảo vệ hai cô buộc phải lên tiếng:
- Bọn ngươi nên ai về nhà nấy. Tao đây hồi xưa, cũng mê sắc, nhưng có mức độ, việc dòm ngó chẳng đem lợi ích chi. Nay mới biết mình làm như thế là ngu. Chỉ cái việc lũ chó trong xóm sủa ầm lên thì ai ngủ nghê gì được.
Có người cãi bướng:
- Ông sướng hơn chúng tôi, được thấy gần. Chúng tôi đây, thấy xa. Xa lúc nào cũng thua gần. Ai ngu chứ chúng tôi đây thì không. Còn cái bọn cẩu kia, chỉ quăng cho vắt cơm có trộn thuốc chuột là xong.
Bùi Thìn bặm môi trợn mắt:
- Không nghe lời tao thì có cái đòn gánh nầy.
Bọn người thấy đòn gánh ở cái thế trảm đao ngang mặt nên giải tán. Đòn gánh ấy là loại tre già lên nước bóng, ông mua lại của người ngày trước dùng để đánh cô gái làng Kim. Ông quý nó như gươm báu, dùng làm vật hộ thân, khi ngủ để sát bên mình.
Về già bà Ánh Thiều càng đẹp trong sự mệt mỏi bơ phờ níu kéo tuổi xuân. Cái đẹp của xế chiều lại lộng lẫy như ráng hoàng hôn. Có hôm chồng đi vắng, bà nói với người bảo vệ con:
- Ông là người hoài công chạy đuổi theo cọc gỗ trói người, thế có biết bây giờ cái cọc ấy ở đâu không?
Bùi Thìn trả lời:
- Có lẽ theo dòng nước trôi về biển đông.
Bà Thiều cười, hai hàm răng còn trắng đều, xinh như hồi con gái:
- Nó ở trong nhà nầy.
Bùi Thìn trố mắt ngạc nhiên:
- Bà không đùa?
- Không. Chồng tôi đẽo làm gối, gối đầu.
Bùi Thìn lặng người, nghe thêm:
- Số là nó tấp vô làng ngoại tôi. Có người vớt lên thấy gỗ cứng định đẽo làm mái dầm đua ghe, chồng tôi biết được gốc tích, mua lại với giá cao.
- Thì ra ông chủ cũng là người đa tình.
Bà Thiều cười:
- Không đa tình thì không lấy được tôi.
Thuận đà, Bùi Thìn hỏi:
- Bà là người đẹp không có tì vết mà tôi thấy được. Hai con bà không bằng, bằng chăng sau nầy có chồng, có con... may ra.
Bà Thiều sung sướng:
- Chồng tôi cũng có lần nói như ông. Có tôi, ông ấy trở thành người ích kỷ, vụng về khi đối phó với nghịch cảnh và sơ hở trong cách giao tiếp, kể cả những người mang nặng lễ giáo trong hoàng tộc. Ông ấy là người đàn ông hoàn hảo, chỉ có cái tội đeo dĩ vãng không chịu buông, mà suốt đời chẳng mấy yên vui. Lúc nào ông cũng nhớ đến người vợ hụt làng Kim. Gối cái gối ấy làm chi cho mỏi cổ. Gỗ vô hồn, có gì mà ôm ấp.
- Đàn ông ai cũng thế, bà câu chấp làm chi.
Xét về mặt nội dung thì Thiều Dung giống mẹ hơn. Cô cũng thích những gì viển vông. Mái tóc cô hằng chải chuốt không mong gì hơn là để cho người đời nhìn thấy. Khi mới lớn, cô đã biết con gái Huế có mái tóc thề thường gây cho lòng người bất an. Tóc không lạ, ai cũng có, từ cổ kim đã có, nhưng tóc nàng nhiều quá, mượt, từng sợi óng ánh, rực rỡ. Gió vi vu thổi vào, tức là làm cho lòng người lay động, cuốn theo.
Còn Thiều Hoa, giống cha, thích đi trên những con đường gập ghềnh. Sự chuyển động làm cho hai cha con thấy hiện diện trên cuộc đời phù du nầy có ý nghĩa. Mặt trời đứng yên một chỗ mà người ta vẫn cho là nó đi, bởi vì người ta thích nó đi hơn đứng một chỗ, cứ vận hành mãi trong cõi vô cùng thì mặt đất bớt phần tiêu điều.
Nhà của họ ở bên hồ trồng sen hái để cúng Phật. Sen bao lần mọc rồi tàn. Nơi nhà nàng ngó lên đền Xã Tắc thấy được cả những con cắc kè bò. Em nói với chị:
- Đền một khi hoang thì loài gì lên đó cũng được, không cứ là người.
Chị:
- Phải rồi, lòng em với chị cũng như đền.
Thiều Hoa bùi ngùi:
- Đền không người đến thì thành hoang. Em thương nhất là mấy cây mù u.
- Màu trắng của hoa đẹp quá em à.
Mùa thu năm Sửu, ông Bửu Bình lâm trọng bệnh. Lúc hấp hối ông chỉ trối lại với vợ con là khi tẩm liệm phải nhớ bỏ vào quan tài cho ông chiếc gối gỗ lúc sống kê đầu. Bà Ánh Thiều túc trực suốt ngày đêm bên cạnh chồng trong những ngày cuối, cố gợi cho ông nên xét lại việc làm không phải mà ông đã từng làm khi còn sống, nhưng không thấy chồng đả động đến, nên coi như ông không vướng mắc điều gì, được thong dong ra đi. Khi sờ hai chân chồng ít còn hơi ấm, bà hỏi:
- Mình đi, có cần gì nữa không?
Tiếng ông như từ cõi xa vọng về:
- Em cho ta xin mang theo vài sợi tóc.
Bà Thiều cầm tay chồng, nấc lên:
- Em sẽ cắt một lọn to gửi theo mình.
Đến khi sắp chia lìa, ông Bình ngỏng cổ cao nhìn quanh, thì thào:
- Chiếc nôi hai con treo ở đâu? Gìn giữ nó sau nầy ru cháu ngoại. Tre lồ ô sinh được chín con là thành quế trầm.
Rồi ông dồn hết sức bình sinh, rướn cong người, gào lên:
- Mở cửa trước ra cho ta đi.
Và ông đi.
Ông Bửu Bình chết không bao lâu thì Bùi Thìn xin nghỉ việc. Bà Thiều hỏi nguyên do, ông nói:
- Ngày còn sống, ông anh không hề nghi tấc lòng tôi, nay ông anh đi rồi, thiên hạ có thể nghi.
- Ông đừng ngại, không có ông ai đón đưa hai cháu đi về?
- Không cần đến tôi nữa, tuổi ấy không cần đến ai giữ gìn.
Biết không cầm chân được, bà Thiều nói:
- Tôi biếu ông một ít tiền để về quê bớt khổ.
Làng Kim với đây không xa, thỉnh thoảng ông nhớ đến thăm mẹ con tôi. Vắng chồng, vắng ông thì ngôi nhà nầy thành miếu.
Bùi Thìn buồn bã:
- Tôi đơn lẻ một đời, chịu đựng quen rồi. Nếu còn chân cứng đá mềm, tôi không quên ngôi nhà nầy. Tiền tôi xin gửi lại, chỉ cho tôi xin cái gối ông anh gối đầu.
Bà Thiều lấy dao rựa chặt đôi cái gối, gói một nửa vào tấm lụa điều đưa cho ông. Nửa còn lại, bà cũng bọc lụa điều, đặt lên bàn thờ chồng. Hôm liệm, bà không cho theo, sợ rằng có gối ấy, linh hồn chồng bị luẩn quẩn, khó siêu thoát. Đó là lần duy nhất trong đời làm vợ, bà không nghe lời chồng. Khi chặt đôi khúc gỗ, những đường vân sáng bừng, cựa quậy, muốn bay lên.
Ngày ông Thìn đi, hai cô gái khóc tiễn ra tận cửa Ngăn, Thiều Dung nói:
- Bác đi, hai cháu sợ gặp điều không may.
Ông Thìn bùi ngùi:
- Không sợ gì, cứ đường đường mà sống. Ngày nào hai cháu lấy chồng, bác về. Vườn nhà bác có nhiều thanh trà, đến mùa chín bác hái mang về thăm.
Thiều Hoa nói thêm:
- Nay mai hai cháu cũng lên thăm bác thôi.
Từ độ cha chết, không người đưa đón, hai chị em Công Tằng Tôn Nữ đi về một mình. Con đường nào ở nội thành cũng buồn bã, đầy lá vàng rơi.
Cả hai nàng trong tang chế càng đẹp hơn, không ai dám đến gần. Có trên đầu hai mảnh khăn tang, cả hai cô u tịch như tháp cổ.
Người bàng quan qua đường thấy hai cô chặc lưỡi: “Đẹp như trong tranh.” Người đứng trong cửa nhìn ra nói: “Hoa nầy bẻ cắm vào bình thì bình vỡ.” Ngày theo mẹ lên chùa, đại đức nói: “Lần sau nữ tín hữu không nên đem hai con gái theo.” Chủ Nhật hai cô đi dạo phố, có nhạc sĩ tài hoa xứ Huế, ngồi trong quán cà phê, bỏ uống, lên xe xích lô về căn gác nhỏ, đặt nhạc:
...
Chiều một mình qua phố.
Âm thầm nhớ, nhớ tên em
Có khi nắng khuya chưa lên
Mà một loài hoa chợt tím...
Lời ca nầy có một anh chàng sinh viên nắn nót chép lại, gửi qua đường dây bưu điện tặng Thiều Dung, kèm theo dòng chữ: “Tự thân, văn chương không đủ diễn đạt, mượn lời nầy để tặng người”.
Dung đưa cho em xem, em nói:
- Anh chàng nầy liều mạng.
Thiều Dung đùa vui:
- Thế là mình phải đương đầu, có khi cần phải mượn đòn gánh bác Thìn.
Một tháng sau, người gửi thư nầy đến nhà. Anh tên Hoài Khanh, đẹp trai, học giỏi, con nhà gia giáo. Luôn đeo lòng kiêu hãnh về dòng họ nhà mình có công nâng cao lịch sử dân gian lên một nấc. Ông cố anh, không sợ nguy hiểm tính mạng tự nguyện xin nhặt từng rẻo thịt của nữ tướng Bùi Thị Xuân bị Gia Long trả thù. Ông nội anh, trèo lên cây gạo lởm chởm gai, mở dây thòng lọng và dùng hết sức lực để bồng xác Hoàng Diệu xuống, khi thành Hà Nội thất thủ. Đến phiên cha anh, thời bình, cũng nhanh chóng giữ lại được một chàng công tử thất tình nhảy xuống sông An Cựu quyên sinh. Nương theo cơ nghiệp vẻ vang như thế, anh mạnh dạn đến thăm một người mà chưa ai dám đến.
Hoài Khanh dùng lời văn hoa nói với Thiều Dung:
- Tôi là kẻ chiều nào cũng đứng dưới gốc sung để nhìn trộm cô về trên con đò Thừa Phủ và phân biệt rất rõ giữa cô và người khác, ở xa. Khi đò chở cô qua bên kia bờ, tôi mới thấy phía bên nầy, cuộc đời chẳng có nghĩa gì nữa. Nếu cứ như vậy, năm tháng trôi qua, không chừng tôi trở thành kẻ hèn nhát mất. Nên tôi đường đột đến đây, mong cô giúp tôi làm người không hèn nhát.
Thiều Dung nghe không bỏ một lời nào, rồi nói:
- Tôi cũng như những người con gái Huế khác thôi, có gì phiền anh đến thế?
- Thời đại nào sản sinh được một mỹ nhân là cả thiên hạ đều mừng.
- Tôi không dám nhận điều ấy. Có thể là anh cố ý tô bồi thêm.
Hoài Khanh nói:
- Đến thăm cô, không có nghĩa là mong cho mình được tình yêu đáp lại. Nhưng tôi muốn, dù một lần gần để thấy được người đẹp mình thầm nhớ, xem nó động lòng như thế nào, chỉ mong chừng đó thôi.
Đăm chiêu giây lát, Thiều Dung hỏi:
- Giả dụ như tôi có được điều anh vừa nói. Nay thấy rồi, anh về đã yên lòng chưa?
- Yên rồi.
Tình yêu của họ đến với nhau như thế.
*
Hoài Khanh và Thiều Dung yêu nhau. Người bạn thân của Hoài Khanh biết được, nói:
- Người sinh đôi chỉ có một nửa, lênh đênh giữa đời một nửa. Trói người ấy tức là trói một nửa, nửa còn lại làm sao biết dạt trôi về đâu. Hai người sinh đôi ruột nối ruột, tim nối tim, đường nối ấy chạy dài xuyên trong cõi vô hình.
Khi đang yêu, Hoài Khanh thiết gì những lời như thế.
Hoài Khanh cưới được Thiều Dung, hai người đem nhau lên Đà Lạt, trốn xa cái thành phố mà lúc nào cũng có người tiếc rẻ một bóng hồng sa vào chốn cá chậu chim lồng.
Đêm tân hôn, Hoài Khanh vừa hôn lên mái tóc thì Thiều Dung kêu đau, ôm bụng la:
- Anh đem em đi bác sĩ ngay, đau không chịu nổi nữa rồi.
- Có thể là lạ nước. Em uống viên thuốc chống nước độc là êm.
Đưa thuốc cho vợ uống, anh ôm vợ. Thiều Dung lại oằn người lên kêu đau. Sau cùng phải gọi xe xích lô chở đi bác sĩ. Bằng phương pháp hiện đại khám nghiệm cũng không thấy gì. Bộ máy tiêu hóa hoàn chỉnh đang trên đà thuận lợi xay thức ăn. Bác sĩ chỉ cho thuốc an thần.
Về nhà uống thuốc thấy dịu, nhưng mỗi lần Hoài Khanh đụng đến nơi nào trên cơ thể, nàng cũng kêu đau. Mà nàng đau thật.
Sợ chết không gặp mẹ, sáng hôm sau, hai người phải tức tốc ra xe đò về Huế.
Đến nhà, Thiều Dung được mẹ báo cho biết Thiều Hoa mới xuống tóc, vào chùa.
Ngày xưa, vị đại đức khuyên mẹ không nên đem con gái đẹp vào chùa, thì nay chính vị ấy vui vẻ tiếp nhận cô gái nầy khi sa vào bước lỡ lầm. Thiều Hoa quyết tâm đi tu vì bị người tình lường. Cô là một trong nhiều người bị hắn xóa thời vàng son. Không ai xa lạ, chính là họa sĩ dạy vẽ cho cô ở trường trung học. Hắn đã bỏ ra hơn một năm trời để vẽ mấy trăm bức tranh thiếu nữ có tầm cỡ, vóc dáng, màu sắc khác nhau. Nhưng cô nào cũng có đôi mắt tuyệt đối giống Thiều Hoa. Phải công nhận hắn là một thiên tài. Đường vẽ hắn bao trùm mơ ước cấp bách của giới mày râu. Khi đem số tranh ấy ra bán, thiên hạ đến mua nườm nượp đắt hơn tôm tươi. Thiều Hoa yêu và thất thân vì nằm trong sự hâm mộ đó.
Khi thấy Thiều Dung thất thểu về, bà mẹ biết ngay sự việc xẩy ra, hỏi:
- Tuyệt vọng lắm phải không?
- Dạ.
- Mẹ ở đây cũng biết, khi em con xuống tóc thì gốc tóc con cũng không còn gốc dính đầu nữa. Lòng em quặn thắt thì con làm sao yên.
Thiều Dung đau đớn:
- Biết làm sao, hở mẹ?
Người mẹ không biết trả lời làm sao, lòng tan nát. Mấy ngày sau, ông Bùi Thìn nghe tin về thăm, gánh theo hai thúng thanh trà mới chín. Thiều Dung thấy đòn gánh ngày nào ông cầm để canh chừng chị em, nay bụi bặm bám đầy, òa lên khóc.
Trên đường về, ông Bùi Thìn tạt qua chùa thăm Thiều Hoa.
Chiều xuống, mây trên núi kéo về, sương dưới sông đùn lên nhiều quá làm cho ông đi chậm lại. Đến cổng chùa trời tối hẳn, ông chợt nhớ ra cửa thiền không nên cầm đòn gánh vào theo. Bỏ lại ở ngoài chắc chi không có người lấy, ông quay lại về nhà.
Mái chùa, nơi Thiều Hoa nương thân, ở bên con suối nhỏ, hai bên bờ thông già, thông non cùng với bòn bọt, bời lời chen nhau mọc đầy. Dòng suối xuất phát từ một khu rừng thấp tịch lặng quanh năm.

 

+++

GIÁNG SINH NĂM ẤY
truyện ngắn


1.

Giáo xứ của ngài rộng và hoang vu nhất trong giáo phận, điều đó chẳng những không làm cho ngài lo ngại mà ngài còn sung sướng và hãnh diện.
Không ai biết tên thật của ngài, ở đâu người ta cũng gọi ngài bằng cái tên thánh giản dị: cha Gioan.
Trước khi đến nhận giáo xứ nầy, ngài làm linh mục tuyên úy cho một bệnh viện. Trong bệnh viện ấy có một căn phòng dành riêng cho những người điên, nơi ngài chú ý hơn cả và cũng là nơi mà khi xa nó, ngài thấy có nhiều vấn đề cần phải nghĩ tới, dĩ nhiên có một vài kỷ niệm khô khan nào đó thấp thoáng trong cõi lòng mà có người ví như bãi sa mạc về chiều.
Ngày tôi mới đến, ngài đã tâm sự, cách đây không đầy một tháng cha đã ở với những người mắc bệnh điên, có một điều cha không thấy họ mắc bệnh gì cả. Tại sao gọi điên là một cơn bệnh, một cơn bệnh tại sao không có bệnh trạng, không có thuốc chữa. Cha coi họ như những con chiên... Tôi cũng góp ý kiến, con cũng đồng ý với cha, nên coi họ như những con chiên, dù là chiên ghẻ, chiên lạc đàn. Ngài điềm tĩnh, tiếng nói nghe xa vời, đã là chiên thì dù hoàn cảnh nào cũng mang linh hồn một con chiên, con chiên có nhiều ghẻ cũng không phải con chồn, con cáo được... Nói xong, ngài gọi chú giúp việc pha hai ly cà phê và trải ra trước mắt tôi một tấm bản đồ, ngài nói:
- Con thấy đây, những vòng chì đỏ là thuộc về giáo xứ của cha, đây là đầm, đây là cồn cát, đây là đồng ruộng hy vọng cha về là không để cho lau lách mọc, đây là những hố bom, đây là nghĩa địa, đây là làng mạc, người ta không đánh dấu số lượng của các ngôi mộ trong nghĩa địa nầy nhưng cha đoán là nhiều lắm, con hiểu chứ?
Tôi gật đầu vui vẻ tiếp nhận, cám ơn cha, con hiểu.
Đặt ly cà phê lên môi, uống từng ngụm nhỏ, mắt cha không rời vạt nắng đan chiếc lưới vụng về trên bãi cỏ non, hẳn trí cha lúc đó còn nghĩ tới những đám mây bay trên trời, những con chim sâu chuyền từ cành hoa giấy nầy đến cành hoa giấy khác. Tôi cũng đặt ly cà phê lên môi. Chiều xuống, ngày thoi thóp thở.
Nhìn tôi uống một cách ngon lành, ngài hỏi:
- Con hút thuốc không, cho cha một điếu.
Tôi mời ngài và bật hộp quẹt. Ánh lửa soi sáng một phần căn nhà vừa mới quét vôi và làm rạng rỡ thêm vầng trán cao rộng của ngài. Nhả khói lên trần nhà, ngài nở một nụ cười:
- Lúc nào cha cũng yêu tuổi trẻ, thích chan hòa với nó. Con đừng có ý nghĩ là tâm hồn cha đã già cỗi nhé. Hồi còn ở đại chủng viện, thỉnh thoảng cha về phố, thế nào cũng tìm cách vào tiệm uống một tách cà phê, ngồi ngắm cảnh phố phường, tiệm nào ở bên bờ sông cũng tốt, cha thấy Chúa ở trên sông, trên lá cây. Chúa ở khắp mọi nơi mà. Ngày lên thầy sáu, khi nhận thấy mình khó lòng mà về đời được, cha bắt đầu làm thơ, dĩ nhiên là trước đó cha thuộc lòng hầu hết những bài thơ tiền chiến. Thơ cha làm chỉ để ca ngợi mấy con đường trong nghĩa địa nhà dòng, tặng cho các cha chết già những bài kinh mà hội thánh chưa làm để đọc. Tóm lại, cha là một người nghệ sĩ, chính vì thế mà cha viết thư yêu cầu con về đây ở với cha, trước phụ giúp cha trên đường truyền giáo, sau...
2.
Ngài ngừng lại đột ngột và tôi cũng không muốn ngài nói hết câu. Tôi cắt ngang:
- Thưa cha, con là một người ngoại, làm sao con giúp cha truyền giáo được?
Ngài cười nhẹ nhàng:
- Điều đó, cha sắp sửa nói với con. Chính những lúc con ở bên cạnh cha, ăn cơm với cha, đi với cha, bàn bạc việc đời với cha, đó là những lúc con đại diện cho cha, nói lên tiếng nói của cha, chắc con cũng đồng ý với cha rằng, cái thế gian tuy rộng lớn này nhưng chỉ có một bầu trời, tất cả đều ở dưới mái nhà khổng lồ ấy, tất cả là anh em. Có ai trong loài người dám nói mình không phải là con của Adam đâu.
Tôi trình bày tiếp:
- Và thơ con, chỉ để ca ngợi những cuộc tình.
Ngài thoáng một chút ngạc nhiên:
- Tình đẹp đẽ hay tình dở dang?
- Thưa cha, loại nào cũng có. Thơ con diễn biến tính chất những cuộc tình đến rồi đi trong đời con.
Suy nghĩ một lát, ngài gật gù:
- Cũng tốt. Tình yêu vun xới cho mặt đất tốt tươi thêm. Rất tiếc, trong kinh thánh không nhắc đến những mối tình của Chúa Giê-Su nhưng cha tin chắc chắn ngài là một người giàu tình cảm.
Nhìn những cụm núi đứng xa mờ, sương chiều cắt ra từng mảnh, ngày như còn trình diễn một bản nhạc cuối cùng ở đâu đó. Nét mặt người linh mục bỗng trở nên cằn cỗi:
- Mấy mươi năm về trước, khi chưa thọ phong chức cha, một mối tình chợt đến với cha, nhưng con biết những gì xảy ra sau đó không... cha phải tự đào một cái huyệt để chôn nó...
Ngài cũng nhìn ra ngoài hàng hiên như tìm kiếm lại những cảnh vật ban chiều. Bóng tối thì thầm bắt đầu nỗi hân hoan của đêm. Một hồi chuông khởi đầu bằng mấy tiếng rời rạc. Nền trời thấp thoáng sao. Đôi mắt ngài đốt cháy sâu thẳm, con còn thuốc không, mồi cho cha một điếu nữa, trời đã bắt đầu có gió mùa thu sao, suốt cả tuần nay cha không nghe một tiếng chim hót, con đợi cha một chút, cha đọc vài lời kinh cảm tạ rồi ăn cơm.
Ngài bước vội ra hành lang. Chút ánh sáng đầu điếu thuốc không đủ sức cản nổi đám bóng tối quái đản chạy đuổi theo ngài. Gió thổi mạnh lay động hầu hết những thân cây bên ngoài. Một cơn mưa lại đến, cũng như hồi chuông mai táng một ngày, khởi đầu bằng những giọt lơ đãng. Tôi lắng tai nghe, tiếng gì nức lên trong gió, vĩnh biệt em... vĩnh biệt cõi đời này... kiếp sau xin em nhìn ra tôi... Rồi những tiếng sau đó mất hút đi, vời vợi. Và, ngài trở vào, dưới ánh nến mới đốt lên, đôi mắt ngài như có những hạt mưa tinh khiết vừa đậu xuống.
Ở với ngài, ngoài việc dạy dỗ đám học trò quê mùa, thơ ngây, tôi còn đi theo ngài về những vùng thôn quê hẻo lánh. Những chuyến đi mà ngài thường ví, đem hạt giống tới cho cánh đồng đang bỏ hoang. Một học sinh vừa rời ghế nhà trường, sinh trưởng nơi thành thị, hẳn tôi chọn lựa và mến yêu cuộc sống của dân lành, hay ít ra cũng gần gũi được họ. Và cũng từ giai đoạn đó, tôi chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện làm thơ nữa. Cha Gioan đã nhiều lần thôi thúc tôi nên làm thơ, ngài nói, giục giã lên kẻo ngày tháng sẽ hết. Tôi hiểu ý ngài muốn nói đến tuổi trẻ, sợ tuổi trẻ sẽ qua đi. Để cám ơn cha, tôi cố làm sống lại cảm xúc của mình giữa thiên nhiên, nhưng nỗi cảm xúc đó không bao giờ thành những vần thơ được. Rồi chiến sự xẩy đến. Khởi đầu bằng một câu chuyện vào đêm Giáng Sinh năm ấy...
3.
Cũng như hàng năm, bầu trời đen đặc mây mù. Có những đám mây về lợp mái trắng cho tháp chuông từ buổi chiều. Khí trời lành lạnh vừa đủ để cho cây cối cảm thông với người. Thời tiết như chỉ có một bổn phận duy nhất để nhắc nhở cho đời người vạch những đường ranh giới quá rõ rệt cho từng giai đoạn cuộc sống. Chúng con có nhìn thấy không, bóng hoàng hôn đang chạy đuổi theo sau lưng ta. Có một bàn tay nào đó đang cầm cái cọ với lon sơn trắng chờ quét lên mái tóc ta... Trong thánh đường cũ kỹ này có ai nghe những lời tha thiết của ngài thì bây giờ chắc chắn phải dừng lại một giây phút nào đó trước thánh đường để nhìn lớp sương mù đậu phủ trên máng cỏ lộ thiên, ở đó người họa sĩ có ẩn ý cho mọi người thấy rằng, ngay trên cánh đồng Bê-lem lịch sử, thời tiết vẫn là yếu tố quan trọng để nhắc nhở đến đoạn chót của cuộc sống nhân loại.
Bên trong căn nhà của cha bổn sở nhờ những ngọn đèn nến tỏa chiếu êm dịu, chúng tôi tìm lại không khí hân hoan xa cách với màu trời bên ngoài.
Sau lễ nửa đêm, chúng tôi đang quây quần ăn réveillon thì đột ngột ngay giữa cửa chính hiện ra một người.
Tất cả chúng tôi đều đứng phắt dậy ngạc nhiên, chờ đợi.
Dường như tôi là người đầu tiên có cảm giác mình đang đối diện với một địch thủ, hay ít ra là đang nhìn thấy một kẻ thù.
Không hiểu cha Gioan nghĩ thế nào trong một thái độ vô cùng điềm tĩnh khi ngài nở một nụ cười hướng về người lạ, mà người ấy đang mang trên mình một khẩu súng AK và nhiều đạn dược trang bị.
Mấy phút nặng nề trôi qua, người lạ cất tiếng:
- Thưa cha tôi muốn gặp cha.
Không do dự, ngài vui vẻ:
- Mời anh cứ vào.
Người lạ vừa bước chân lên bậc tam cấp thứ nhất bỗng trụt xuống ngay:
- Thưa cha, tôi muốn gặp cha ở ngoài.
- Vâng.
Trước khi đi theo người lạ mặt, ngài ân cần dặn chúng tôi:
- Các con cứ tiếp tục nhé. Trong phòng ngủ cha còn nhiều đèn cầy, lấy đốt lên chờ cha.
Khi hai người tan vào đêm, chúng tôi mới kết luận đại khái rằng, đó là một người cán binh cộng sản, tuổi quá trẻ, nói giọng Bắc, v.v... Và, mỗi người đưa ra một lập luận, có người lo sợ cho số phận của cha Gioan, hoặc bị thủ tiêu, hoặc bị bắt đi, hoặc bị đấu tố, cảnh cáo, có người kinh nghiệm thời cuộc hơn cho rằng đã đến lúc phía bên kia bày tỏ thái độ, ít ra cũng buộc ngài rời khỏi giáo xứ này, trả lại ngôi thánh đường cho hoang vu, cỏ lác. Nhưng tất cả chúng tôi đều tin tưởng ngài trở về trong đêm. Những ngọn nến hồng tiếp tục đốt lên để chờ ngài. Con chim sáo trong chiếc lồng treo ở hàng hiên cất tiếng, đây là lần đầu tiên tôi nghe nó hót trong đêm. Mưa rơi xuống và ở xa tiếng súng vọng về.
4.
Đúng như lòng mong ước của chúng tôi, gần một giờ sau, cha Gioan trở về bình an vô sự. Áo quần và tóc cha ướt đẫm mồ hôi và nước mưa. Bước vào nhà với nụ cười bình thường, ngài kêu chúng tôi đốt thêm vài ngọn nến nữa. Chúng tôi xúm lại bên ngài hỏi han tin tức. Ngài nói, hãy thong thả, không có gì quan trọng, các con hãy tiếp tục bữa tiệc, đêm nay phải là đêm cứu rỗi.
Gần mãn tiệc, ngài mới bắt đầu:
- Anh ta đúng là một cán binh cộng sản xâm nhập, năm nay 17 tuổi, còn một mẹ già ở ngoài Bắc, anh gặp cha để xin xưng một vài tội mà suốt thời gian ở giữa rừng sâu không biết xưng với ai. Cha dĩ nhiên không thể tiết lộ cho ai biết những tội của anh. Cha cũng đã nhân danh Chúa để giải tội cho anh và cha chúc anh may mắn. Dù sao cha vẫn lấy thiên chức của một linh mục để cư xử.
Tôi hỏi chen vào:
- Thưa cha, rồi người cán binh ấy đã đi đâu?
- Cha không biết được nhưng anh ta có hẹn sẽ ghé thăm cha trong tòa giải tội.
Một lúc sau, ngài hỏi:
- Chúng con có nghe con sáo hót không?
- Chúng con đâu có nghe.
- Lúc ở trong tòa cha cũng có nghe nó hót. Lạ quá nó cất tiếng hót cùng một lúc người cán binh khóc. Anh ta có hỏi cha một câu: “Trong Cựu Ước có nhiều đoạn cổ võ chiến tranh phải không cha?” Cha chưa kịp trả lời thì anh đã từ giã ra đi. Như vậy, cha phải mang một món nợ.
Nhìn lại một lượt mấy ngọn nến, ngài tiếp:
- Trời chắc cũng đã gần sáng, đêm nay dài thật. Rồi ngài đứng dậy bước vội ra ngoài khi trở vào ngài xách theo chiếc lồng chim trong ấy có xác con chim sáo đã chết. Mấy giọt máu còn nguyên màu, chưa khô đọng trên nền lồng sắt.
Trước những đôi mắt ngạc nhiên của chúng tôi, cha Gioan vẫn bình tĩnh như không xẩy ra chuyện gì.
- Thưa cha, tại sao cha giết nó? - Tôi hỏi.
- Không, cha không giết nó.
- Hay là người cán binh trở lại giết nó? - Bạn tôi đặt nghi vấn.
Cuối cùng ngài mỉm cười:
- Trời lạnh quá nó phải chết. Chúng ta cứ tin như vậy.
Ánh nến tàn cuối soi vào những giọt máu long lanh như đổ thêm vào đó một màu đỏ thật tươi.



Hồ Minh Dũng

Nguồn: Thư Quán Bản Thảo số 49 tháng 12-2011



                                                         Luân Hoán
                                                                                                   (từ: FbLH.11.3.2018)



                                      *
                            
Mời tìm đọc:

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện

Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

                                                            Amazon Mẫu Hệ

 

*

Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

*


Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.

- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.

Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:

Marvin Trần

(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình

Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý



scan_pic0296-content




*


Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S

Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín

Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại

Gọi ngay:

Hoàng Anh


        (714) 724-5699


scan_pic0035-contenthoang_anh_1_0-content











Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Tám 20188:49 SA(Xem: 37)
Đã có nhiều người viết về thơ và đời Bùi Giáng, tôi chỉ xin kể một vài kỷ niệm
13 Tháng Tám 201810:56 SA(Xem: 86)
Phạm Xuân Đài là một con người trầm lặng, khiêm cung, ăn nói nhỏ nhẹ. Hình như toàn sức sống của ông đều dồn vào nội tâm.
08 Tháng Tám 20189:54 SA(Xem: 140)
Nhà văn Lê Lạc Giao lại một lần nữa thẩm sát chủ đề muôn thuở của nhân loại (tình yêu và chiến tranh) dưới dạng truyện dài
07 Tháng Tám 201811:16 SA(Xem: 219)
Nhưng ít người biết những trang thơ của người lính
31 Tháng Bảy 201810:55 CH(Xem: 194)
LVN: Sinh ở Quảng Điền, Thừa Thiên. Năm sinh: 15/1/1944. Năm mất: 27/2/2015 tại Qui Nhơn. Trước 1975, ông có thơ đăng trên các tạp chí VIỆT, Ý THỨC, ĐỐI DIỆN