DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,382,770

Mặc Lâm - Nhà thơ Trần Vàng Sao và “Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”

Friday, May 11, 20186:15 PM(View: 3803)
Mặc Lâm - Nhà thơ Trần Vàng Sao và “Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”

Nhà thơ Trần Vàng Sao và
“Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”



Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế.


Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Wikivietlit.
Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Wikivietlit. Photo: RFA
(1941-2018)


Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông.

Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương, nhà thơ Thái Ngọc San lúc ấy là thư kí tòa soạn, người chịu trách nhiệm chọn đăng bài thơ phải rời khỏi tờ báo, và nhà thơ Trần Vàng Sao tiếp tục sống với những khó khăn của riêng mình.

Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình

Cũng theo Nguyễn Miên Thảo thì giới chức văn nghệ trong Đảng có thể nghĩ khác về Trần Vàng Sao, cho thơ ông là có vấn đề, nhưng nhà thơ vẫn tự tại. Tự tại sống, tự tại làm thơ, và bạn bè muôn nơi vẫn đến với ông. Bởi vì ông là nhà thơ biết yêu nước mình, thật sự yêu nước mình.



buổi sáng tôi mặc áo đi giầy ra đứng ngoài đường
gió thổi những bông mía trắng bên sông
mùi tóc khô còn thơm lúa mùa qua
bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
tôi yêu đất nước này như thế
mỗi buổi mai
bầy chim sẻ ngoài sân
gió mát và trong
đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng
tôi vẫn sống
                 vẫn ăn
                                vẫn thở
                                             như mọi người
đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu



Những câu thơ đầu tiên trong bài thơ mang tên “Bài thơ của một người yêu nước mình” mà chúng ta vừa nghe đã vẽ lại một hình ảnh quê nhà mà bất cứ ai cũng có. Trần Vàng Sao yêu hình ảnh quê hương của ông bằng gợi nhớ những “bông mía trắng” bên sông khiến người nghe ông kể dễ dàng liên tưởng đến hương vị ngọt ngào của mật, cộng với hơi nước phả lên mát mặt trong những ngày oi bức. Dòng sông trong bài thơ không phải là Thu Bồn, hay Cửu Long hoặc sông Hồng sông Đáy…. không một địa danh cụ thể nào được tác giả nhắc tới nhưng sao ta vẫn thấy chính mình trong đó. Trong chúng ta mấy ai không có một dòng sông ký ức để mà nhớ mà thương? Cho dù hiện sống ở quê nhà hay đang bôn ba mọi nẻo thì dòng sông của riêng ta vẫn chảy thao thiết trong trí nhớ hàng ngày.

Từ những hình ảnh nhẹ nhàng thơ ấu, Trần Vàng Sao xuống hàng với những chi tiết khác, một chút gập ghềnh, một chút dằn sốc nhưng nghe chừng như tiếc nuối và đậm dần lên chất thơ…thơ của buồn bã và đầy hình tượng.



một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu



Trần Vàng Sao sử dụng kỹ thuật của hội họa khi viết “một vết bùn khô trên mặt đá”. Trong câu này ẩn ngữ khó nhận ra. Phía sau của bùn khô là gì và mặt đá khi nhận vết bùn có gì thay đổi trong cấu trúc của nó hay không. Ngưng một chút ở đây. Hãy liên tưởng tới nét sù sì của đá. Vết rạn nứt của bùn khô và vì bùn khô chỉ là một vết nên rất mơ hồ rất mảnh mai. Nhưng lạ chưa, sao mà ám ảnh như một vết cắt, một nhát chém, một đứt lìa?

Cảnh báo đứt lìa này bắt đầu cho những câu sau:


tôi yêu đất nước này xót xa
mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng
thương tôi nên ở góa nuôi tôi
những đứa bà con hằng ngày chửi bới
chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc như cho một đứa hủi
ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới

 

thắp ba cây hương
với mấy cái bông hải đường
mẹ tôi khóc thút thít
cầu cha tôi phù hộ tôi nên người
con nó còn nhỏ dại
trí chưa khôn chân chưa vững bước đi
tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng



Bắt đầu từ đây, Trần Vàng Sao vén bức màn của mình để dẫn người đọc len lỏi vào đời riêng của ông. Mà lạ, tiếng là riêng nhưng sao chúng ta thấy ẩn hiện hình bóng chính mình trong đó?

tôi yêu đất nước này cay đắng
những năm dài thắp đuốc đi đêm
quen thân rồi không ai còn nhớ tên
dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng
áo mồ hôi những buổi chợ về
đời cúi thấp giành từng lon gạo mốc
từng cọng rau hột muối

 

vui sao khi còn bữa đói bữa no
mẹ thương con nên cách trở sông đò
hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc
đêm nào mẹ cũng khóc



Thì ra chúng ta quen thuộc với câu chuyện mà Trần Vàng Sao đang kể chẳng qua là do hình ảnh một bà mẹ Việt Nam. Mà có bà mẹ nào lại không có hình ảnh tảo tần thương khó. Chỉ khác chi tiết trong đời bà mẹ của Trần Vàng Sao đó là “đêm nào bà cũng khóc”.




tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò
áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
trong bước chân chim sẻ
ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi
hay nói chuyện huyên thuyên
chuyện trên trời dưới đất rất lạ
chuyện bông hoa mọc một mình trên đá
cứ hay cười mà không biết có người buồn



Trần Vàng Sao rất tiện tặn trong khi nói về bóng dáng người yêu của mình. Ông nhắc tới em như người chồng nhắc tới vợ. Đằm thắm, nhẹ nhàng và quen thuộc. Thế nhưng có quen thuộc lắm thì cũng ẩn hiện đâu đó khó khăn, cách trở. Ông ngập ngừng đưa ra hình ảnh: “chuyện bông hoa mọc một mình trên đá” như một dự báo. Một lần nữa ông đem cái lạnh lẽo sù sì của đá vào chuyện vợ chồng. Và nỗi ám ảnh này có trước khi bài thơ thành hình. Ám ảnh chia ly đó ló dạng vào một sớm mai:


sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn
khi xa nhà vẫn muốn ngoái lại
ngó cây cam cây cải
thương mẹ già như chuối ba hương
em chưa buồn vì chưa rách áo



Đâu phải cứ rách áo rồi em mới buồn. Em đã biết buồn từ khi bắt đầu yêu anh. Định mệnh của nhà thơ được tiên tri chỉ qua hai từ “rách áo”. Rách áo chứ không phải áo rách. Rách áo diễn đạt sự thống khổ. Áo rách minh họa sự nghèo nàn. Nghèo và thống khổ khác nhau rất xa. Có nhiều người nghèo nhưng nỗi thống khổ không màng ghé tới. Có người đủ ăn nhưng phiền muộn nhiều nỗi đã làm họ rách áo. Rách áo ở đây rất gần với “rách lòng”.

Bài Thơ Không Đề

“Bài thơ của một người yêu nước mình” bắt đầu từ những thân thiết, vui buồn gói ghém trong một cõi riêng đã mở đầu cho những bài thơ khác nói đến những cái chung của thế hệ nhà thơ mà ông nhặt ra từ những thao thức rất đời thường. Nhưng trong đời thường của Trần Vàng Sao lại bắt đầu bằng những nhận thức và phán xét. Phán xét cái ác xuất hiện trong hoàn cảnh rất bình thường. Ông viết trong “Bài thơ không đề” sau đây:



câu chuyện bắt đầu bằng một chuyện rất tàn ác

kẻ giết con gà con bằng cách thắt một sợi dây chuối treo lên cành cây

và sau đó chẳng có ai nhắc lại

đứa bé lớn lên làm nghề đào huyệt chôn người chết

 

con ngựa hoang không ăn cỏ ngoài đồng xa nữa

con ngựa hoang đứng ngủ trên đống cát đầu biển

tôi đi dắt con ngựa hoang về

rồi lang thang qua hết những cánh đồng những cánh rừng

đi lạc không biết lối ra.


 

Tính chất trừu tượng của bài thơ dẫn người đọc gần như vào rừng thẳm. Bắt đầu từ cái chết của chú gà con, kéo theo sự xuất hiện của con ngựa trắng. Con ngựa hoang một màu lông trắng ẩn dụ hình ảnh của chú ngựa một sừng Unicorn trong thần thoại và Unicorn là một trong những bí ẩn nhất của tất cả các loài động vật. Nó đã được tôn vinh trong cổ tích dân gian, bài hát, bài thơ, và câu chuyện trong nhiều thế kỷ, tuy nhiên cho đến nay nó vẫn là một trong những "bí ẩn lớn chưa giải được" của thế giới.

Bí ẩn đó liên thông với hình ảnh Trần Vàng Sao đi dắt con ngựa trắng về nhấn mạnh đến tính chất trừu tượng của câu chuyện. Con ngựa trắng khi chịu sự dẫn dắt của Trần Vàng Sao bỗng trở thành chú ngựa hoang tội nghiệp. Và tội nghiệp hơn nữa số mệnh của nó và của nhà thơ trở nên làm một. Mệnh đề con ngựa-nhà thơ bắt đầu gắn bó từ đây.

Bài Kính Tặng Mình

Trong bài thơ mang tên “bài kính tặng mình” Trần Vàng Sao bỗng thoát thai thành một người khác. Tự gọi mất trí nhớ trong trạng thái tỉnh bừng nhận thức. Mất trí nhớ nên khi nghe tiếng con người hàng xóm khóc nhà thơ lồm cồm ngồi dậy thắp nhang đọc bài kính tặng mình. Đây có phải một loại mất trí nhớ có điều kiện mà nhà thơ ao ước? Chỉ có ao ước một cách sâu nặng mới có khả năng làm cho giác quan nhận thức của ông bừng nở, đón nhận những dữ liệu phía sau sự việc và từ đó mở ra cánh cửa phạm trù khác của lý trí. Sâu và tối hơn nên chỉ khi nào mất hẳn khả năng suy tưởng mới có thể tiếp cận được.




nửa đêm

người làm thơ mất trí nhớ nghe tiếng ru con bên hàng xóm thức dậy thắp ba cây hương đọc bài kính tặng mình

 

tôi xin mở hết các cửa

kính chào toàn thể mọi người

tôi không còn biết ngày biết tháng nữa

ba ngày trời mưa luôn nước đen không tạnh

sau đó trời nắng châu chấu nhảy trong cỏ

chim bay hết ra đồng ăn lúa rụng

ban đêm ếch nhái kêu đầy ao

cuộc đời có gì vui

người làm xiếc đâm con dao vào bụng

sau đó không nhớ mình phải làm gì nữa

tôi nhìn lên bàn thờ

mệt đắng cuống họng

có người gọi to tên tôi ngoài đường

gió thổi rất nhiều trong lá cây

không thấy mặt trời ở đâu

tôi hút thêm một điếu thuốc

rồi bỏ miếng giấy đang cầm trong tay vào miệng nhai

tôi thấy mình không còn muốn một cái gì hết

thôi tôi đi ngủ cho khỏe



Nhưng nào ông có ngủ được đâu. Tự nhận một lần nữa mình là người điên, nhà thơ chúc mừng chính mình một cách buồn bã, nhà thơ loay hoay với cảm giác chóng mặt tự tìm kiếm lấy mình, hay nói đúng hơn tìm kiếm cái bản ngã mà ông tưởng rằng đã đánh mất.




tôi chúc mừng tôi buồn bã khô héo

như thằng điên soi gương thấy mình người lạ

tôi nhìn lại sau lưng

 

không còn có ai khác tôi

một thời chiến tranh đã đi qua

người lính nhớ tiếng súng nổ và tiếng máy bay ngang đầu

mọi người bây giờ có khi ôm nhau nhảy múa ngoài ngã ba đường

lũ trẻ hoảng hốt la hét bỏ chạy

tôi cười không được

muôn năm những người anh hùng được đúc tượng

muôn năm tôi đã chết

tôi chúc mừng tôi anh hùng không được thờ phụng trong am miếu

tôi lang thang trên các cồn mã

tiếng người tình gọi tôi bốn bề trong cây cỏ

lúc đó tình cờ tôi đã hôn em rất lâu ngoài đồng trống

rồi em xỏa tóc chạy như bay về phía mặt trời đỏ rực

 

bây giờ em hãy ngồi lại đây

tôi xin em thôi đừng nói nữa

bởi vì tôi không còn nhớ gì hết




Chúng tôi vừa giới thiệu một vài nét trong tập thơ mới nhất của Trần Vàng Sao được nhà xuất bản Giấy Vụn xuất bản vào tháng 11 năm 2009. Tập thơ mang tên “Bài thơ của một người yêu nước mình”được ra mắt lần đầu tiên tại Sài Gòn sau nhiều chục năm nằm im ắng trong ngăn kéo của tác giả. Tuy nói là ra mắt nhưng chính bản thân nhà xuất bản Giấy Vụn cũng chỉ là một nhà xuất bản chui không được thừa nhận chính thức của nhà nước cho nên số phận của tập thơ không thua gì số phận của người sinh ra nó. Theo lời giới thiệu của Nguyễn Miên Thảo thì Trần Vàng Sao đã trải qua hơn nửa đời người trong khốn khó đơn độc và bị hắt hủi bởi chính những người đồng chí của mình. Số phận của ông không lạ nhưng tài năng thơ của ông thì không nghi ngờ gì nữa: Vừa đẹp, buồn lại vừa bi tráng, phẩn uất…tất cả tạo nên một Trần Vàng Sao cô đơn và lạnh lẽo, run rẩy trong tài thơ lấp lánh của mình.

Nghe:

https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/LiteratureAndArts/Poet-tran-vang-sao-and-his-selected-work-the-poem-of-a-person-who-love-his-country-mlam-12122009100804.html/vmlam12122009.mp3



                                                                       Mặc Lâm

                                                                                                                                       (RFA, 12.12.09)
                                                                                                từ: sangtao.org


                                       *
                                                                     Mời tìm đọc:

                                     Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                           Click vào:

 https://www.amazon.com/Hon- Nam-Muoi-Lam-Vietnamese/dp/ 1986944972/ref=sr_1_1?ie=UTF8& qid=1524797088&sr=8-1& keywords=hon+nam+muoi+nam+tho

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện

Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

                                        Amazon Mẫu Hệ





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, September 29, 20207:59 AM(View: 120)
Đến năm thứ hai thì (hình như) Bộ Chỉ Huy nhà trường, thấy cần thay đổi chỗ ở cho anh em, nên đã "xào bài". Một số anh em từ TĐ 2 được đổi xuống TĐ 1. Và ngược lại. Tôi được đổi xuống TĐ 1 ở trung đội 1, Đại Đội A, Tiểu Đoàn 1. Tôi đành chia tay với người bạn thân là Trần Thanh Ng. mà tôi đã kết từ ngày vào Trung Tâm 1/ Tuyển Mộ Nhập Ngũ, cho đến bây giờ. Tuy ở 2 TĐ, nhưng khi đi phép chúng tôi vẫn cặp kè nhau đi chung. Và trong mọi sinh hoạt chúng tôi đều có nhau. Nói thì nói vậy, nhưng xa mặt thì cách lòng, ở 2 tiểu đoàn riêng lẻ nên mỗi người đều có sinh hoạt riêng, và có những người bạn mới riêng. Xuống TĐ 1, tôi có những người bạn mới như Lê Văn N, Trần Phát Đ. Lại cặp kè đi phép chung, đi ăn chung và có những "phi vụ" tán gái. Như khi đi chới với Trần Phát Đ. (Đ. người nam, đô con, đẹp trai) nên ra đường mấy em nữ sinh Đà Lạt "rất mê". Tôi đi theo Trần Phát Đ. nên cũng làm quen được với một em tên Niệm, học sinh Couvent Des Oiseaux. Thật ra hai em còn rất nhỏ, nên chúng tôi
Saturday, September 26, 202012:41 PM(View: 73)
Chỉ cần nói “West Point”, ai cũng biết đó là chi rồi. West Point là cái tên…dân gian, nói ra ai cũng hiểu. Tên chính thức của ngôi trường này là United States Military Academy (Học Viện Quân Sự Hoa Kỳ). Nhưng nếu lười biếng, chỉ cần nói The Academy hay The Point thì cũng biết liền chính là hắn! Được Tổng Thống Thomas Jefferson thành lập vào năm 1802, đây là học viện quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ. Ngày nay mỗi năm trường thâu nhận khoảng 1300 sinh viên nhập học. Thời gian huấn luyện là 4 năm. Như vậy trong trường luôn luôn có 4 khóa tổng cộng khoảng trên 4 ngàn sinh viên. Chính ra con số này phải hơn nhưng vì mỗi khóa có khoảng 2% sinh viên bị loại mỗi năm, nên vào thì nhiều, ra thì ít, khoảng trên dưới một ngàn tân khoa mỗi khóa. Đây là một quân trường nhưng muốn vào học còn khó hơn vào những đại học danh tiếng. Tỷ lệ được chọn chỉ khoảng 9%, có nghĩa là trong 100 lá đơn xin học, chỉ có 9 thí sinh được nhận. Sở dĩ khó như vậy vì West Point chọn lựa sinh viên không chỉ dựa vào thành
Thursday, September 24, 20207:11 AM(View: 109)
Tôi qua Mỹ năm 11 tuổi tức là thuộc thế hệ Việt – Mỹ, sinh ở Việt Nam nhưng trưởng thành ở Mỹ. Trước năm 75 tôi sống ở trong khu nhà dành cho sĩ quan trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau 75, nhà của tôi bị tịch thâu, bố tôi đi tù cải tạo, mẹ tôi dẫn ba đứa con còn thơ dại lên trên Sài Gòn ở nhờ nhà người anh ruột. Đứa lớn nhất là tôi lúc đó được năm tuổi và cô em út của tôi lúc đó mới được một tuổi. Năm tôi lên bảy tuổi đã biết đọc thành thạo và đọc ké sách mà các anh chị họ con của bác tôi họ mượn của bạn bè. Tôi luôn luôn là đứa được đọc sau cùng mà phải đọc cho lẹ để mấy anh chị mang đi trả. Thủa ấy mấy anh chị của tôi cũng còn đang học dưới trung học nên toàn thích coi truyện kiếm hiệp và sách Tuổi Hoa. Phần tôi, vớ được cuốn truyện nào là tôi đọc và mê hết không kể thể loại. Từ năm tám tuổi tôi đã được đọc “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, “Liêu Trai Chí Dị” luôn cả truyện tình cảm của Dung Sài Gòn và Võ Hà Anh. Nghĩ lại tôi thấy buồn cười vì mẹ tôi không cấm mà chỉ cười khi tôi
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 342)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 258)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở