DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,211,996

Mặc Lâm - Nhà thơ Trần Vàng Sao và “Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”

Friday, May 11, 20186:15 PM(View: 2665)
Mặc Lâm - Nhà thơ Trần Vàng Sao và “Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”

Nhà thơ Trần Vàng Sao và
“Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”



Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế.


Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Wikivietlit.
Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Wikivietlit. Photo: RFA
(1941-2018)


Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông.

Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương, nhà thơ Thái Ngọc San lúc ấy là thư kí tòa soạn, người chịu trách nhiệm chọn đăng bài thơ phải rời khỏi tờ báo, và nhà thơ Trần Vàng Sao tiếp tục sống với những khó khăn của riêng mình.

Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình

Cũng theo Nguyễn Miên Thảo thì giới chức văn nghệ trong Đảng có thể nghĩ khác về Trần Vàng Sao, cho thơ ông là có vấn đề, nhưng nhà thơ vẫn tự tại. Tự tại sống, tự tại làm thơ, và bạn bè muôn nơi vẫn đến với ông. Bởi vì ông là nhà thơ biết yêu nước mình, thật sự yêu nước mình.



buổi sáng tôi mặc áo đi giầy ra đứng ngoài đường
gió thổi những bông mía trắng bên sông
mùi tóc khô còn thơm lúa mùa qua
bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
tôi yêu đất nước này như thế
mỗi buổi mai
bầy chim sẻ ngoài sân
gió mát và trong
đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng
tôi vẫn sống
                 vẫn ăn
                                vẫn thở
                                             như mọi người
đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu



Những câu thơ đầu tiên trong bài thơ mang tên “Bài thơ của một người yêu nước mình” mà chúng ta vừa nghe đã vẽ lại một hình ảnh quê nhà mà bất cứ ai cũng có. Trần Vàng Sao yêu hình ảnh quê hương của ông bằng gợi nhớ những “bông mía trắng” bên sông khiến người nghe ông kể dễ dàng liên tưởng đến hương vị ngọt ngào của mật, cộng với hơi nước phả lên mát mặt trong những ngày oi bức. Dòng sông trong bài thơ không phải là Thu Bồn, hay Cửu Long hoặc sông Hồng sông Đáy…. không một địa danh cụ thể nào được tác giả nhắc tới nhưng sao ta vẫn thấy chính mình trong đó. Trong chúng ta mấy ai không có một dòng sông ký ức để mà nhớ mà thương? Cho dù hiện sống ở quê nhà hay đang bôn ba mọi nẻo thì dòng sông của riêng ta vẫn chảy thao thiết trong trí nhớ hàng ngày.

Từ những hình ảnh nhẹ nhàng thơ ấu, Trần Vàng Sao xuống hàng với những chi tiết khác, một chút gập ghềnh, một chút dằn sốc nhưng nghe chừng như tiếc nuối và đậm dần lên chất thơ…thơ của buồn bã và đầy hình tượng.



một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu



Trần Vàng Sao sử dụng kỹ thuật của hội họa khi viết “một vết bùn khô trên mặt đá”. Trong câu này ẩn ngữ khó nhận ra. Phía sau của bùn khô là gì và mặt đá khi nhận vết bùn có gì thay đổi trong cấu trúc của nó hay không. Ngưng một chút ở đây. Hãy liên tưởng tới nét sù sì của đá. Vết rạn nứt của bùn khô và vì bùn khô chỉ là một vết nên rất mơ hồ rất mảnh mai. Nhưng lạ chưa, sao mà ám ảnh như một vết cắt, một nhát chém, một đứt lìa?

Cảnh báo đứt lìa này bắt đầu cho những câu sau:


tôi yêu đất nước này xót xa
mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng
thương tôi nên ở góa nuôi tôi
những đứa bà con hằng ngày chửi bới
chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc như cho một đứa hủi
ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới

 

thắp ba cây hương
với mấy cái bông hải đường
mẹ tôi khóc thút thít
cầu cha tôi phù hộ tôi nên người
con nó còn nhỏ dại
trí chưa khôn chân chưa vững bước đi
tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng



Bắt đầu từ đây, Trần Vàng Sao vén bức màn của mình để dẫn người đọc len lỏi vào đời riêng của ông. Mà lạ, tiếng là riêng nhưng sao chúng ta thấy ẩn hiện hình bóng chính mình trong đó?

tôi yêu đất nước này cay đắng
những năm dài thắp đuốc đi đêm
quen thân rồi không ai còn nhớ tên
dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng
áo mồ hôi những buổi chợ về
đời cúi thấp giành từng lon gạo mốc
từng cọng rau hột muối

 

vui sao khi còn bữa đói bữa no
mẹ thương con nên cách trở sông đò
hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc
đêm nào mẹ cũng khóc



Thì ra chúng ta quen thuộc với câu chuyện mà Trần Vàng Sao đang kể chẳng qua là do hình ảnh một bà mẹ Việt Nam. Mà có bà mẹ nào lại không có hình ảnh tảo tần thương khó. Chỉ khác chi tiết trong đời bà mẹ của Trần Vàng Sao đó là “đêm nào bà cũng khóc”.




tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò
áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
trong bước chân chim sẻ
ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi
hay nói chuyện huyên thuyên
chuyện trên trời dưới đất rất lạ
chuyện bông hoa mọc một mình trên đá
cứ hay cười mà không biết có người buồn



Trần Vàng Sao rất tiện tặn trong khi nói về bóng dáng người yêu của mình. Ông nhắc tới em như người chồng nhắc tới vợ. Đằm thắm, nhẹ nhàng và quen thuộc. Thế nhưng có quen thuộc lắm thì cũng ẩn hiện đâu đó khó khăn, cách trở. Ông ngập ngừng đưa ra hình ảnh: “chuyện bông hoa mọc một mình trên đá” như một dự báo. Một lần nữa ông đem cái lạnh lẽo sù sì của đá vào chuyện vợ chồng. Và nỗi ám ảnh này có trước khi bài thơ thành hình. Ám ảnh chia ly đó ló dạng vào một sớm mai:


sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn
khi xa nhà vẫn muốn ngoái lại
ngó cây cam cây cải
thương mẹ già như chuối ba hương
em chưa buồn vì chưa rách áo



Đâu phải cứ rách áo rồi em mới buồn. Em đã biết buồn từ khi bắt đầu yêu anh. Định mệnh của nhà thơ được tiên tri chỉ qua hai từ “rách áo”. Rách áo chứ không phải áo rách. Rách áo diễn đạt sự thống khổ. Áo rách minh họa sự nghèo nàn. Nghèo và thống khổ khác nhau rất xa. Có nhiều người nghèo nhưng nỗi thống khổ không màng ghé tới. Có người đủ ăn nhưng phiền muộn nhiều nỗi đã làm họ rách áo. Rách áo ở đây rất gần với “rách lòng”.

Bài Thơ Không Đề

“Bài thơ của một người yêu nước mình” bắt đầu từ những thân thiết, vui buồn gói ghém trong một cõi riêng đã mở đầu cho những bài thơ khác nói đến những cái chung của thế hệ nhà thơ mà ông nhặt ra từ những thao thức rất đời thường. Nhưng trong đời thường của Trần Vàng Sao lại bắt đầu bằng những nhận thức và phán xét. Phán xét cái ác xuất hiện trong hoàn cảnh rất bình thường. Ông viết trong “Bài thơ không đề” sau đây:



câu chuyện bắt đầu bằng một chuyện rất tàn ác

kẻ giết con gà con bằng cách thắt một sợi dây chuối treo lên cành cây

và sau đó chẳng có ai nhắc lại

đứa bé lớn lên làm nghề đào huyệt chôn người chết

 

con ngựa hoang không ăn cỏ ngoài đồng xa nữa

con ngựa hoang đứng ngủ trên đống cát đầu biển

tôi đi dắt con ngựa hoang về

rồi lang thang qua hết những cánh đồng những cánh rừng

đi lạc không biết lối ra.


 

Tính chất trừu tượng của bài thơ dẫn người đọc gần như vào rừng thẳm. Bắt đầu từ cái chết của chú gà con, kéo theo sự xuất hiện của con ngựa trắng. Con ngựa hoang một màu lông trắng ẩn dụ hình ảnh của chú ngựa một sừng Unicorn trong thần thoại và Unicorn là một trong những bí ẩn nhất của tất cả các loài động vật. Nó đã được tôn vinh trong cổ tích dân gian, bài hát, bài thơ, và câu chuyện trong nhiều thế kỷ, tuy nhiên cho đến nay nó vẫn là một trong những "bí ẩn lớn chưa giải được" của thế giới.

Bí ẩn đó liên thông với hình ảnh Trần Vàng Sao đi dắt con ngựa trắng về nhấn mạnh đến tính chất trừu tượng của câu chuyện. Con ngựa trắng khi chịu sự dẫn dắt của Trần Vàng Sao bỗng trở thành chú ngựa hoang tội nghiệp. Và tội nghiệp hơn nữa số mệnh của nó và của nhà thơ trở nên làm một. Mệnh đề con ngựa-nhà thơ bắt đầu gắn bó từ đây.

Bài Kính Tặng Mình

Trong bài thơ mang tên “bài kính tặng mình” Trần Vàng Sao bỗng thoát thai thành một người khác. Tự gọi mất trí nhớ trong trạng thái tỉnh bừng nhận thức. Mất trí nhớ nên khi nghe tiếng con người hàng xóm khóc nhà thơ lồm cồm ngồi dậy thắp nhang đọc bài kính tặng mình. Đây có phải một loại mất trí nhớ có điều kiện mà nhà thơ ao ước? Chỉ có ao ước một cách sâu nặng mới có khả năng làm cho giác quan nhận thức của ông bừng nở, đón nhận những dữ liệu phía sau sự việc và từ đó mở ra cánh cửa phạm trù khác của lý trí. Sâu và tối hơn nên chỉ khi nào mất hẳn khả năng suy tưởng mới có thể tiếp cận được.




nửa đêm

người làm thơ mất trí nhớ nghe tiếng ru con bên hàng xóm thức dậy thắp ba cây hương đọc bài kính tặng mình

 

tôi xin mở hết các cửa

kính chào toàn thể mọi người

tôi không còn biết ngày biết tháng nữa

ba ngày trời mưa luôn nước đen không tạnh

sau đó trời nắng châu chấu nhảy trong cỏ

chim bay hết ra đồng ăn lúa rụng

ban đêm ếch nhái kêu đầy ao

cuộc đời có gì vui

người làm xiếc đâm con dao vào bụng

sau đó không nhớ mình phải làm gì nữa

tôi nhìn lên bàn thờ

mệt đắng cuống họng

có người gọi to tên tôi ngoài đường

gió thổi rất nhiều trong lá cây

không thấy mặt trời ở đâu

tôi hút thêm một điếu thuốc

rồi bỏ miếng giấy đang cầm trong tay vào miệng nhai

tôi thấy mình không còn muốn một cái gì hết

thôi tôi đi ngủ cho khỏe



Nhưng nào ông có ngủ được đâu. Tự nhận một lần nữa mình là người điên, nhà thơ chúc mừng chính mình một cách buồn bã, nhà thơ loay hoay với cảm giác chóng mặt tự tìm kiếm lấy mình, hay nói đúng hơn tìm kiếm cái bản ngã mà ông tưởng rằng đã đánh mất.




tôi chúc mừng tôi buồn bã khô héo

như thằng điên soi gương thấy mình người lạ

tôi nhìn lại sau lưng

 

không còn có ai khác tôi

một thời chiến tranh đã đi qua

người lính nhớ tiếng súng nổ và tiếng máy bay ngang đầu

mọi người bây giờ có khi ôm nhau nhảy múa ngoài ngã ba đường

lũ trẻ hoảng hốt la hét bỏ chạy

tôi cười không được

muôn năm những người anh hùng được đúc tượng

muôn năm tôi đã chết

tôi chúc mừng tôi anh hùng không được thờ phụng trong am miếu

tôi lang thang trên các cồn mã

tiếng người tình gọi tôi bốn bề trong cây cỏ

lúc đó tình cờ tôi đã hôn em rất lâu ngoài đồng trống

rồi em xỏa tóc chạy như bay về phía mặt trời đỏ rực

 

bây giờ em hãy ngồi lại đây

tôi xin em thôi đừng nói nữa

bởi vì tôi không còn nhớ gì hết




Chúng tôi vừa giới thiệu một vài nét trong tập thơ mới nhất của Trần Vàng Sao được nhà xuất bản Giấy Vụn xuất bản vào tháng 11 năm 2009. Tập thơ mang tên “Bài thơ của một người yêu nước mình”được ra mắt lần đầu tiên tại Sài Gòn sau nhiều chục năm nằm im ắng trong ngăn kéo của tác giả. Tuy nói là ra mắt nhưng chính bản thân nhà xuất bản Giấy Vụn cũng chỉ là một nhà xuất bản chui không được thừa nhận chính thức của nhà nước cho nên số phận của tập thơ không thua gì số phận của người sinh ra nó. Theo lời giới thiệu của Nguyễn Miên Thảo thì Trần Vàng Sao đã trải qua hơn nửa đời người trong khốn khó đơn độc và bị hắt hủi bởi chính những người đồng chí của mình. Số phận của ông không lạ nhưng tài năng thơ của ông thì không nghi ngờ gì nữa: Vừa đẹp, buồn lại vừa bi tráng, phẩn uất…tất cả tạo nên một Trần Vàng Sao cô đơn và lạnh lẽo, run rẩy trong tài thơ lấp lánh của mình.

Nghe:

https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/LiteratureAndArts/Poet-tran-vang-sao-and-his-selected-work-the-poem-of-a-person-who-love-his-country-mlam-12122009100804.html/vmlam12122009.mp3



                                                                       Mặc Lâm

                                                                                                                                       (RFA, 12.12.09)
                                                                                                từ: sangtao.org


                                       *
                                                                     Mời tìm đọc:

                                     Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                           Click vào:

 https://www.amazon.com/Hon- Nam-Muoi-Lam-Vietnamese/dp/ 1986944972/ref=sr_1_1?ie=UTF8& qid=1524797088&sr=8-1& keywords=hon+nam+muoi+nam+tho

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện

Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

                                        Amazon Mẫu Hệ





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, February 16, 20207:21 AM(View: 54)
Hồ Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ. Nhưng Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu... mới nghe tưởng là tôn vinh, thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái. Tên thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt. Hồ Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này "phải là" con cháu Hồ Biểu Chánh. Hồ Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải),
Wednesday, February 12, 20209:06 PM(View: 202)
Ngày 31 tháng 1, năm 2020 Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh của Báo Người Việt phổ biến một thông báo với nội dung: Thông báo gửi toàn thể nhân viên NV. Xin thông báo cùng các bạn, kể từ ngày Jan 15, 2020, ông Đinh Quang Anh-Thái. và kể từ ngày Jan 24, 2020, ông Đỗ Quý Toàn, hai ông sẽ không còn làm việc với công ty NV dưới bất cứ mọi hình thức nào khác! Như thế là thế nào? Dẫu không phải là nhân viên hoặc cộng tác viên của NV, nhưng do một cơ duyên đã cho bản thân cá nhân dịp tìm hiểu, giao tiếp với người sáng lập Người Việt, Đỗ Ngọc Yến từ những năm 50, 60 qua các hoạt động Báo Ngàn Khơi (1957), Trại Hướng Đạo Trãng Bom (1958); mối giao tiếp càng chặt chẽ hơn trong thập niên 70 khi cộng tác với Đỗ Ngọc Yến qua Báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc ở Sài Gòn. Sau hơn nửa thế kỷ quen thân từ Đỗ Ngọc Yến, bản thân dần biết thêm Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và hiểu ra giữa họ có một Giây Liên Lạc – Mối Ân Tình Huynh Đệ Rất Chặt Chẽ. Vậy tại sao có lần đỗ vỡ quá đổi bất ngờ và ngạc nhiên như vậy đã
Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 69)
Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch… Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp. Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào. Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được? Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi: - Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô
Monday, February 3, 20208:06 PM(View: 121)
Sau này nghĩ đến chị Ngát làm tôi nhớ đến cả miền Bắc mà tôi đã xa nó từ năm 1952. Cái tên của chị quả hăm mốt năm ở miền Nam tôi rất ít hoặc không hề nghe, nó như một cái tên đặc trưng của gái miền Bắc. Khi tản cư qua Điền Hộ mùa hè năm ấy, tôi mới tám chín tuổi. Dọc đường, nhiều khi gia đình còn phải thuê người gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu. Những dòng sông, con đê, những thửa ruộng nứt nẻ, những đứa trẻ cỡ tôi vỏn vẹn với cái quần đùi, chăn trâu trên những cánh đồng cỏ cháy, những mẹ già mặc váy đụp lúp xúp quang gánh đi bên đường, những chiếc xe đò chạy bằng lò than chết máy dọc đường đang được đám lơ tài quay cho máy tái nổ, những ngôi nhà vách rơm trộn bùn, những thánh đường lỗ chỗ dấu đạn… Điền Hộ cuối thời chống Pháp, sang thời Việt Minh kiểm soát trong mắt tôi là như thế. Những sản phẩm từ mạn ngược, xứ Thanh của tôi, từ những chum vại Lò Chum cho đến nước mắm Kẻ Bạng Ba Làng, qua cửa Thần Phù, đem vào đây để phân phối đi xuống phương Nam gần như vắng bóng. Hơn một
Friday, January 31, 20207:20 AM(View: 137)
Đầu thập niên 70, tôi đã sống hơn một năm tại một căn phòng trên lầu ngôi biệt thự ở đường Hoàng Diệu, Sài Gòn. Phòng không có máy lạnh, cửa sổ mở tối ngày cho thoáng, trên trần lúc nào cũng có vài ba con thạch sùng, trông rất ngứa mắt. Một hôm, bạn thân Lê Triết đem cho khẩu súng bắn hơi “baby gun”, với một hộp đạn chì 500 viên, nói là để thỉnh thoảng bắn thạch sùng cho đỡ buồn. Nhưng tôi chỉ bắn thử vài con, rồi thôi. Vì xác chúng rơi xuống, cái đuôi vẫn còn giãy một hồi, ớn lắm. Có khi chỉ có đuôi rớt xuống, còn nạn nhân cụt đuôi chạy mất tiêu. Cách phòng tôi chừng bốn mét, là dãy nhà phụ phía sau, nối với nhà chính bằng lối đi ở cả tầng trệt và tầng lầu. Đối diện với cửa sổ phòng tôi là một sân thượng nhỏ, đầu dãy nhà phụ, bên hông nhà bếp của tầng lầu. Góc sân thượng có thùng rác. Hàng ngày, tôi chứng kiến một đàn chuột khá đông, con nào cũng lớn bằng cổ tay, kéo tới kiếm ăn bên trong, hoặc quanh thùng rác. Khi chúng tới, có một con đi đầu, chắc là lãnh tụ. Nhưng khi chúng bới