DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,710,613

Trương Văn Dân - Lần theo những sợi tơ lòng. (viết về nhà văn Trạch An -Trần Hữu Hội vừa ra đi)

16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 143)
Trương Văn Dân - Lần theo những sợi tơ lòng. (viết về nhà văn Trạch An -Trần Hữu Hội vừa ra đi)
Lần theo những sợi tơ lòng.

THH                     Trạch An - Trần Hữu Hội (trái) và Trương Văn Dân (phải)                          THH 1                                                                            
 Gặp gỡ tại buổi ra mắt tập truyện “Vàng Trên biển đá đen” của Elena Pucillo Truong
              Do Quán Văn tổ chức ngày 8-4-2018 tại cà phê Lọ Lem - Sài Gòn
             

Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng.

            Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.

            Trò chuyện một lát, biết anh cũng làm thơ và viết văn, câu chuyện của chúng tôi trở nên thân mật và cởi mở. Đúng là văn chương xóa mờ ranh giới và giúp con người vượt qua các rào cản.

 Đang nói chuyện với Hội thì thấy ở góc phía bên trái cửa ra vào xao động. Có mấy người đứng lên và di chuyển. Tôi nhìn ra thì thấy Lê Hữu Khóa, mồ hôi nhễ nhại và khuôn mặt mệt mỏi đang từ taxi bước đến. Khóa là giảng viên trường Đại học Charles-de-Gaules – Lille 3 ở Paris, là người mà một năm trước đó cùng người bạn thân của tôi là bs Thiện đã đứng ra mời và xin visa cho đoàn Quán Văn “cõng văn chương qua đất Pháp”. Khóa vừa tham dự các buổi tọa đàm khoa học ở các trường đại học trong thành phố và tranh thủ đến thắp nhang cho bạn vì sáng hôm sau còn có một cuộc họp rồi trưa là bay về Paris. Tôi đến chào Khóa và cùng các bạn QV trong đoàn trao đổi một lát, vì sau đó là anh phải vội đi.

Nghi lễ và tưởng niệm cho anh CTNM  xong thì tôi quay lại chỗ Hội. Nói chuyện một lát  thì tôi mời anh đến tham dự các buổi ra mắt Quán Văn tổ chức hàng tháng. Anh vui vẻ nhận lời và khi từ giã anh có tặng tôi 2 bài thơ “anh về đọc cho vui!”.

&

            Sau đó tôi và Hội thường gặp nhau ở các buổi ra mắt Quán Văn. Tuy không phải lần nào Hội cũng tham dự được vì anh đi lại khó khăn, có những lần sức khỏe không cho phép nên anh đành ngồi nhà tham dự hàm thụ qua các trang phóng sự ảnh của bạn văn Đặng Châu Long trên Facebook. Gặp nhau không nhiều nhưng anh rất được anh em quý mến. Rồi sau khi anh ra mắt tập truyện đầu tay “Hạt Mầm trót vay” ở café Thủy Trúc thì anh đã trở thành một thành viên thân thiết trong gia đình Quán Văn. Nhiều lần tôi quan sát anh bắc ghế ngồi gần khán đài để phụ trách âm thanh cho buổi họp và nụ cười hiền lành luôn nở trên môi.

            Biết Hội sống trong tình yêu thương đùm bọc của gia đình và sự quý mến của bằng hữu văn nghệ nhưng những lần gặp, trong ánh mắt và nụ cười vui hiền hậu của anh tôi vẫn cảm nhận có một cái gì đó, ẩn khuất mà như có hằn lên những nếp gấp, có lẽ là của nỗi niềm tâm trạng hơn là dấu tích của thời gian.

&
 
Nỗi niềm đó tôi chỉ hiểu khi đọc những trang viết về tuổi trẻ của Hội. Nó chẳng khác của mọi người là bao, vì đó là thân phận, chung, của những người Việt Nam sinh ra trong thế hệ chúng tôi. Chiến tranh. Hợp tan. Chia lìa. Mất mát. Chỉ có điều là Hội nhạy cảm hơn, nên “vết hằn” cũng vì thế mà in sâu. Nhuộm vào trong mắt, như lúc anh đành đoạn chia tay những quyển sách mà mình yêu quý:

 “… Mẹ bán luôn đi, con cũng đã đọc những cuốn này rồi.
Bữa cơm trưa có thịt bò nhờ mấy cuốn sách nặng ký, ông thầm nghĩ: bữa ăn gồm: Văn học Nga, Ấn độ, Ả rập, Việt nam và Mỹ mà không thịnh soạn sao được! Ông cười, gắp miếng thịt bò bỏ vào chén mẹ:
 – Thịt bò ngon quá mẹ ạ, mẹ cùng ăn chứ sao con ăn hết được!...”

            Miếng thịt đó chắc đã làm anh nghẹn. Văn chương đổi thịt: “Ông muốn cúi đầu tạ lỗi, tạ lỗi với những ai đã viết, đã dịch, đã bỏ công sức làm nên những cuốn sách!”
            Nỗi buồn đó chắc còn có vị cay!

Vị cay và chua chát ấy âm thầm, nhưng dai dẳng kéo dài theo chiếc thập giá đời anh. Hơn 10 năm trước anh bị cắt chân phải vì bệnh “tắc động mạch chi”. Tưởng sẽ yên thân với cái chân trái và cặp nạng nhưng dường như định mệnh chưa cho anh ngơi nghỉ và những ngày gần đây anh thường phải đến bệnh viện cấp cứu. Tình trạng ngộp thở, đau tức vùng ngực xảy ra  thường xuyên và mới đây các bác sĩ còn xác định anh bị suy tim độ III, có “kèm” thêm món quà viêm phế quản!

            Khi biết về đoạn đường đời của bạn, tôi không mấy ngạc nhiên khi đọc trong đoản văn Thập giá phận người của anh:“Những năm sống chưa có tai ương nào đến với mình, tôi nhìn cuộc đời của những người xung quanh… mà băn khoăn có hay không định mệnh của một con người. Từ khi cầm bút, băn khoăn ấy vẫn không thôi hiện hữu trong tôi. Những truyện ngắn tôi viết phần nhiều là thể hiện băn khoăn ấy.” 

            Và có lẽ vì tai ương đến với anh dồn dập nên anh biết là mình không thể làm gì khác hơn là đón nhận. “…Nếu không chết, thì mọi tai ương đều là hồng ân.” Và dù có thế nào, mệt mỏi, đớn đau nhưng ngày nào còn sống anh sẽ còn cầm lấy bút, vui với mọi người, gia đình và bè bạn: “Tôi vẫn tạ ơn đời, tạ ơn Tha nhân…”  Đọc lướt qua, dễ tưởng đó là câu nói bi quan, nhưng ngẫm lại thì đó mới là sức mạnh tinh thần hiện hữu trong anh: đón nhận, nhưng không đầu hàng.  Niềm vui từ gia đình và bằng hữu chính là điểm tựa để anh sống và viết.

Tuy không phải là người theo đạo Phật nhưng những trang viết đầy tính nhân văn của Hội và các câu chuyện anh viết đều ảnh hưởng sâu sắc từ thuyết nhân quả, duyên nghiệp trong Phật giáo.
            Thử đọc trong tập truyện “Hạt Mầm Trót Vay” phần lớn các truyện viết đều các này hay cách khác, luôn có hàm ý để gieo vào lòng người cái chân lý có vay có trả, vừa như nhận định, vừa như nhắc nhở nhẹ nhàng là hãy sống tốt cùng nhau vì không ai thoát khỏi quy luật này. Người đọc dù có lơ đãng cũng dễ nhận ra, là trong những hoàn cảnh tưởng chừng như không lối thoát vẫn tìm thấy một hạt mầm đang cố vươn lên mà sống.

“Mỗi con người tồn tại trong thế giới này, phải chăng là những hạt mầm, được định mệnh vay mượn từ hư vô, gieo ngẫu nhiên vào trần gian làm nên những số phận buồn đau, hạnh phúc...Rồi một sớm mai kia, bỏ lại sau lưng những hoan lạc, ưu phiền của cõi nhân sinh, trở về đâu đó trong vô cùng.''  (Truyện ngắn: “Số Phận”)

“Văn là người” và đọc những chuyện của anh cứ tưởng như đang ngồi nghe anh nhẩn nha kể chuyện, thỉnh thoảng điểm thêm những nụ cười rất hiền. Ai gặp anh một lần là không thể quên nụ cười ấy. Nó như một nụ hoa tình người nhú lên từ hoang tàn đổ nát, lòng nhân hậu làm lòng ta dịu đi  một lát trong thế giới bất toàn. Ai biết đón nhận, người ấy sẽ bình an. Vì trở lực lớn hơn ta gấp triệu lần.

Ta không thể thay đổi được thế giới, mà chỉ có thể thay đổi cách nhìn:
Anh nghĩ ngợi: Khi đã trót mang thân phận con người, ai cũng có một thập giá, thập giá nào cũng nặng như nhau, nhưng tùy vào thái độ tiếp nhận của người phải mang thập tự ấy, sẽ làm cho nó nhẹ bớt đi hay là nặng nề thêm…”(truyện ngắn “ Giáng sinh” )
  “…Mọi sự theo duyên mà đến, mọi sự theo duyên mà đi…”
“... Con ạ, Duyên- Nghiệp trùng trùng, chớ băn khoăn. Quá khứ thì đã qua…đừng vọng tưởng sinh phiền lụy. Con và vợ, con của con, chưa đủ duyên nên ly tán, khi đủ duyên ắt sẽ hợp.
(Truyện ngắn: “Duyên-Nghiệp”).
             
Với một nhân sinh quan như thế, Hội đã truyền được năng lượng bình an đến những người thân, giúp họ an lành, trong một tuyện ngắn viết như tự truyện:
 “…Thùy vuốt ve phần chân cụt của Thủ qua lớp băng, nói trong nước mắt:
- Ngày mai là Giáng sinh, anh đã không chết, mất một cái chân mà được sống cùng nhau, cùng các con… may mắn lắm rồi anh ạ!
Thủ ôm ngang lưng Thùy:
- Ừ, anh cảm ơn em, cảm ơn em!
Ngoài kia, tiếng còi xe cấp cứu vọng vào phòng, Thủ lại nghĩ và nhận ra rằng:
“Nếu không chết, thì mọi tai ương đều là hồng ân. Vâng, lâu nay anh đã sống chan hòa với tha nhân, từng đón nhận khổ đau và hạnh phúc từ cuộc nhân sinh… bằng tâm hồn của mình chứ không phải bằng đôi chân…” (truyện ngắn “ Giáng Sinh” )
 
Phần lớn những trang văn của Hội đều được viết nhẹ nhàng như kể lại những hoàn cảnh mà anh từng nghe, từng chứng kiến trong thời anh sống. Nguyên mẫu có thể là hình bóng của chính anh hay những người thân, có khi là hình ảnh tổng hợp của những người anh biết, dĩ nhiên những tên tuổi, cá tính và tính cách nhân vật bị hoán đổi, trộn lẫn, để khi đọc chính họ cũng không thể nhận ra mình, mà chỉ thấy… quen quen.

Với cách nhìn của một tâm hồn nhạy cảm, biết yêu vẻ đẹp của ngôn từ, anh cầm lấy bút và viết nên những câu chuyện mà nét chung là hiền lành, nhẹ nhàng, tinh tế. Không đao to búa lớn và bằng câu chữ mộc mạc, anh nhởn nha viết, chia sẻ kỷ niệm buồn vui về mảnh đất quê hương mà anh yêu mến. Giọng kể có lúc thiết tha nhưng cũng có khi chua chát, bất bình về thế sự nhưng không hằn học, dù bản thân đã từng là nạn nhân trực tiếp. Thâm trầm có lẽ là một thứ bản lĩnh mà Hội đã được rèn luyện qua sự từng trải và chiêm nghiệm bản thân.

Hội là người rất yêu văn chương và tôi tin là anh sẽ viết và viết mãi. Mỗi lần thấy bài của anh trên QV tôi thường nhớ đến câu nói của nhà thơ Pablo Neruda: “Với tôi, viết là hít thở. Tôi không thể sống mà không hít thở và tôi không thể sống mà không viết”. Đời đã gian truân, thế mà chừng 10 năm nay anh còn tự nguyện vác thêm cái thánh giá bằng bút để trải lòng và nói lên tâm trạng cùng những suy nghĩ của mình. Viết văn là một nghiệp dĩ, một chọn lựa chứ không bao giờ là một nghề để kiếm ăn, để mua danh, vì dù thế nào thì  vẫn tiếp tục sống chết với ngòi bút và đem tâm hồn mình để làm đẹp cho đời.
Từ khi gia nhập làng văn… tôi có biết và quen một số người mà thời trẻ họ có viết, rồi dừng. Bỏ mấy chục năm không viết. Thời đó dù họ cũng có chút tiếng tăm nhưng theo tôi thì có lẽ họ chưa phải là nhà văn đúng nghĩa. Đơn giản chỉ vì họ đã ném bút rồi chuyển hướng theo một mục đích khác và hoàn toàn quay lưng với văn chương.

Còn Trần Hữu Hội thì không! Anh yêu văn. Yêu cuộc sống. Và anh đã và đang trút hết vào những trang sách toàn bộ tinh lực của mình. Trong các câu chữ của anh, có lúc tôi như nghe thấy hơi thở phập phù của buồng phổi đang yếu dần, nghe thấy cả tiếng đập bồi hồi của con tim bệnh tật… chắc chắn là viết xong mỗi câu chuyện anh phải mệt mỏi như một vận động viên vừa chạy lên một ngọn núi cao.

            Nhưng tôi biết và mong anh không dừng lại. Sự sảng khoái và hạnh phúc có lẽ chỉ có của người cầm bút sau khi nhìn những câu chữ của mình hoàn thiện trên trang giấy chính là sức mạnh giúp anh đi tiếp. Châm một điếu thuốc, rít một hơi sảng khoái, nhìn khói bay và lòng lơ lửng lên mây. Thuốc lá có lẽ là điều anh nên tránh, nhưng oái ăm thay nó là chất xúc tác để cảm xúc thăng hoa.

Những tháng gần đây chúng tôi đều thấy sức khỏe Hội yếu dần… Thế nhưng anh vẫn giữ được sức viết, miệt mài và mê mải. Là con tằm tiếp tục nhả tơ. 
Tuy không có sức khỏe bạt sơn cử đỉnh, nhưng cây bút trong tay Trần Hữu Hội là phương tiện  để chiến đấu cho khát vọng Chân - Thiện - Mỹ . Trên mỗi câu chữ, mỗi trang văn của Hội đều ít nhiều đều gửi gắm một ước mơ là “Từ đây người biết yêu người” như trong một khúc hát của Văn Cao.
 

Trương Văn Dân
Sài gòn 9-4-2018




*
Mời tìm đọc:

                    Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                Click vào:

 https://www.amazon.com/Hon- Nam-Muoi-Lam-Vietnamese/dp/ 1986944972/ref=sr_1_1?ie=UTF8& qid=1524797088&sr=8-1& keywords=hon+nam+muoi+nam+tho

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện

Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ

 

 

 

 

    

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 86)
Năm 1979 là năm tệ hệ nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ. Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 233)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 329)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 236)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương
10 Tháng Năm 20186:11 CH(Xem: 206)
Tôi đọc bài thơ “Tau chưởi” dưới đây, và nghĩ rằng có lẽ trong văn học VN (và thế giới?!) khó tìm ra một bài thơ nào kinh dị, khốc liệt như bài thơ này. Điều gì làm cho tâm hồn con người – thi sĩ – phải đau đớn, quằn quại, căm hận, phẫn nộ đến vậy? Hai Bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” và “Bài thơ của một người yêu nước mình” làm cho Trần Vàng Sao nổi tiếng, nhưng theo tôi, bài “Tau chưởi” mới là bài đáng kể nhất trong thơ của ông.