DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,217,453

Phan Ni Tấn - Một thời tưởng niệm đen

Thursday, May 24, 20187:31 AM(View: 2348)
Phan Ni Tấn - Một thời tưởng niệm đen

Một thời tưởng niệm đen

 

Chúng tôi nhận được tin buồn nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh vừa qua đời tại quê nhà ngày 23/5/2018. Xin đăng lại một tùy bút của nhạc sĩ Phan Ni Tấn để tưởng niệm người nhạc sĩ tài hoa. (Sáng Tạo)



do_that_kinh
Nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh (1954-2018)



Năm 1979 là năm tệ hại nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ.
Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.

Lang bạt kỳ hồ như vậy mà cái máu văn nghệ văn gừng vẫn không ngừng chảy trong tâm hồn đang khô héo của chúng tôi. Rốt cuộc, qua ngón nghề kẻ nhạc tài tình của họ Đỗ, chúng tôi hình thành được một tập nhạc gần trăm ca khúc mang tên Lưu Đày & Cứu Rỗi, đúng với thân phận nổi trôi của họ Đỗ và họ Phan tôi. Đáng tiếc bây giờ thất bản không biết nó trôi giạt nơi đâu.

Được một thời gian ngắn, sự nghiệp bơ đậu phọng của chủ nhân lỗ vốn, bạn tôi cũng sụp đổ theo. Nhưng, như đã nói, anh bạn trẻ này có thần may mắn theo phò. Đúng lúc đó, anh Phạm Văn Hạng, điêu khắc gia nổi tiếng ở làng báo chi Thủ Đức tìm tới giao cho bạn tôi một công việc có chút dính líu tới nghệ thuật: kẻ mộ bia liệt sĩ ở tuốt trên Đồng Xoài. Một lần nữa tôi lại bám theo.

Nhớ ngày đầu tiên xe đò thả toán thợ năm người chúng tôi xuống tại ngã ba huyện Đồng Phú thì trời trưa trật, nắng đổ lửa. Đường vô Mộ Đất, nơi chúng tôi tới nhận việc không có lộ xe nên mọi người đều cuốc bộ khoảng 10 cây số đường chim bay. Càng đi về hướng rừng nhà dân hai bên đường càng thưa thớt, rừng càng bạt ngàn hơn, âm u, hẻo lánh hơn. Ngọn gió hiếm hoi giữa trưa nồng nã thỉnh thoảng nổi lên như một tiếng thở dài. Đường xa hực nắng, ai nấy đều lặng lẽ bước đi. Đi mãi.
Rồi đột nhiên tôi giựt mình khựng lại, như không còn tin vào mắt mình. Nằm ở cuối lối mòn nhỏ hẹp, cạnh vài cây cổ thụ xum xuê và cây dầu héo khô, mục nát là hàng trăm, có thể là hàng ngàn nấm mồ đất. Mênh mông, trùng điệp, gồ ghề, sạt lở, khô cằn, trơ trụi, nghiệt ngã, uất nghẹn. Mồ mả bạt ngàn, lô nhô hút tầm mắt. Đất đá, cỏ khô đen xạm. Tuyệt nhiên không còn gì khác ngoài mồ mả phơi mình giữa trời và đất.
“Nghĩa trang liệt sĩ Cách mạng” tại Đồng Xoài đấy.

Thì ra lâu rồi, thanh niên miền Bắc đã bị chủ nghĩa Cộng sản nhồi sọ, bị đẩy vào miền Nam chiến đấu và đã bỏ xác tại đây; ngót 14 năm trời họ vẫn nằm đó im lìm giữa một vùng mộ địa tù hãm, âm u. Đứng trước một quang cảnh thê lương, ảm đạm và tàn tạ như thế, dù tôi đã cố gắng nghĩ khác đi với sự xúc động và lòng thương xót những oan hồn đang vất vưởng dưới cõi âm kia, nhưng không hiểu sao tôi lại nhìn thấy địa ngục đang run rẩy bên dưới những gò đất đen sạm gồ lên nứt nẻ trông giống như những vết thương bầm dập, sưng tấy. Có thể vì lẽ đó mà dân chúng địa phương gọi địa danh này là Mộ Đất chăng.
Ban ngày ba người thợ kia đi làm rừng đốn cây, xẻ gỗ,; còn hai anh em tôi lo việc kẻ tên họ các liệt sĩ trên bia mộ. Đứng trước giàn mộ bia đúc bằng xi-măng cao quá đầu người, dựng san sát, trải dài ngút mắt mới thấy ngao ngán làm sao.
Chiếu theo danh sách tên tuổi liệt sĩ đánh máy trên xấp giấy pơ-luya, hai anh em tôi lặng lẽ bắt tay vào việc. Nhớ lại hồi đó lăn lộn giữa đám mồ hoang mả lạnh, bốn bề quạnh quẻ không một bóng người mà chẳng đứa nào biết sợ ma là gì. Hàng ngày cặm cụi làm việc, tối về ngủ trong căn nhà sàn của người Thượng nằm sâu trong một cánh rừng. Người Thượng ở đây gồm có các sắc tộc Jro, Stiêng, Mạ…, đa số sinh sống ở những vùng đồi núi thấp, nằm về phía Đông Nam thị xã Đồng Xoài. Người miền núi ở đâu cũng mộc mạc, giản dị, thuần lương, vui vẻ và tốt bụng.

Một buổi chiều đi làm về, toán thợ chúng tôi được một người đàn ông Jro ghé ngang vui vẻ tặng cho một miếng thịt heo rừng. Nguyên phần đùi nặng ký còn tươi rói, máu đỏ lựng, bự chảng. Lâu ngày không có dịp đụng tới thịt rừng nên ai nấy đều thèm thuồng, nao nức, xăng xái nhúm củi nướng thịt, mùi thơm bay cả một góc rừng.

Sống bụi ở đây dĩ nhiên chúng tôi giấu nhẹm thân thế của mình. Đêm đêm ngả lưng xuống sàn tre, tôi thường nhớ tới mặt trận Đồng Xoài.Tôi không biết chắc liệu những trận đánh khốc liệt của 15 năm trước đã từng xẩy ra ngay tại cụm rừng này, dưới chân tôi đứng hay không, nhưng ban ngày vô rừng tôi hay lớ ngớ tìm kiếm những vết tích của trận đánh, và dĩ nhiên tôi chẳng tìm được gì ở phía quốc gia ngoài những nấm mồ trùng trùng u uất của những người lính bên kia. Thời gian không để lại dấu vết. Thời gian xóa nhòa tất cả. Chỉ còn lại mặt đất và cụm rừng âm u chìm sâu trong tịch lặng.

Trước 1975, Đồng Xoài thuộc quận Đôn Luân, là một cứ điểm quan trọng của tỉnh Phước Long, nằm ở phía Bắc chiến khu D. Nói đến Đồng Xoài ta thường nhớ đến trận đánh Đồng Xoài năm 1965. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đây là một trận đánh lớn do Việt Cộng (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) tấn công vào thành phần chính qui của QLVNCH. Trận Đồng Xoài là một thất bại nặng nê cho phía quân đội VNCH (gần 1 Tiểu Đoàn chống cự 2 Trung Đoàn chính qui Bắc Việt). Mặc dù địch quân bỏ xác tại chiến trường nhiều hơn, nhưng số thương vong của dân và quân miền Nam cũng không ít.

Bây giờ ngồi đây, tôi càng xa quê hương bao nhiêu thì trận đánh Đồng Xoài càng trở nên mơ hồ như một truyền thuyết. Nhưng câu chuyện của tôi hôm nay không phải là câu chuyện nhớ về trận đánh năm xưa ở Đồng Xoài với biết bao xương máu và nước mắt của những người đã hy sinh, mãi mãi vùi thây nơi tử địa, mà rưng rưng nhớ lại cái thời sống bụi của tôi và người bạn trẻ họ Đỗ ở Đồng Xoài sau ngày mất nước. Tính từ năm 1965 đến nay cũng ngót 51 năm rồi còn gì.

Giữa cuộc sống xô bồ, hỗn độn, trần ai, những vết tích ngày xưa hoàn toàn chìm khuất trong thăm thẳm thời gian. Ngày nay chỉ còn lại tiếng hát. Tiếng hát của mặt đất và rừng cây trong mưa nắng Đồng Xoài.


***


blank



Đỗ Thất Kinh tên thật là Đỗ Kinh Châu, quê ở Nam Định, Bắc Việt. Di cư vào Nam 1954, cùng gia đình sinh sống trên cao nguyên Ban Mê Thuột cho đến ngày nay. Đỗ Thất Kinh là một người đa tài: viết nhạc rất hay, soạn hòa âm rất tới, vẽ vời không thua ai, móc trémolo classical guitar hay hết chỗ nói.
Ngoài 5 tác phẩm thơ và nhạc đã tự xuất bản, còn có khoảng 100 ca khúc về Tình Yêu và Phận Người.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, February 19, 20208:21 PM(View: 67)
Tuệ Sỹ ngồi đó, chiếc bóng sậy gầy. Sững như một ngọn gió. Đôi mắt tròn to, long lanh. Mãi long lanh với miệng cười. Như Niêm Hoa Vi Tiết. Bỗng ông bật dậy đi rót cốc nước lọc cho tôi, cho ông. Tôi im lặng dõi theo dáng nguòi nhỏ bé di động, lắng nghe tiếng vạt áo lam phất phất trong căn phòng nhỏ một buổi chiều. Rồi chắp tay cung kỉnh, thưa Thầy khoẻ không? Miệng cười nở rộ hơn, ánh mắt tinh nghịch hơn, Tuệ Sỹ đáp như reo, anh thấy tôi khỏe không hè? Tôi cười nheo mắt, Thầy khoẻ con mừng. Trông ông khỏe hơn mấy năm trước thật, lúc mới ra tù được đúng một tháng. Ngày ấy đầu ông như đóng trốc, da bọc sát sọ, mường tượng như Thế thân Thiền sư Vũ Khắc Minh, không ngồi kiết già nhập đại định ở chùa Đậu nữa, mà đi lại, mà nói cười, nhập vào cơn huyễn mộng. Nay da đầu đã nhuận thắm, những vết chốc ghẻ biến mất, nhưng cái ót sọ ông vẫn nhô ra quá khổ với thân mình. Quá khổ đối với thế tục. Chắc nó phải cứng, khiến bạo quyền lui lại. Tuệ Sỹ luôn cười, bằng “đôi mắt ướt tuổi vàng cung
Sunday, February 16, 20207:21 AM(View: 134)
Hồ Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ. Nhưng Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu... mới nghe tưởng là tôn vinh, thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái. Tên thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt. Hồ Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này "phải là" con cháu Hồ Biểu Chánh. Hồ Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải),
Wednesday, February 12, 20209:06 PM(View: 315)
Ngày 31 tháng 1, năm 2020 Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh của Báo Người Việt phổ biến một thông báo với nội dung: Thông báo gửi toàn thể nhân viên NV. Xin thông báo cùng các bạn, kể từ ngày Jan 15, 2020, ông Đinh Quang Anh-Thái. và kể từ ngày Jan 24, 2020, ông Đỗ Quý Toàn, hai ông sẽ không còn làm việc với công ty NV dưới bất cứ mọi hình thức nào khác! Như thế là thế nào? Dẫu không phải là nhân viên hoặc cộng tác viên của NV, nhưng do một cơ duyên đã cho bản thân cá nhân dịp tìm hiểu, giao tiếp với người sáng lập Người Việt, Đỗ Ngọc Yến từ những năm 50, 60 qua các hoạt động Báo Ngàn Khơi (1957), Trại Hướng Đạo Trãng Bom (1958); mối giao tiếp càng chặt chẽ hơn trong thập niên 70 khi cộng tác với Đỗ Ngọc Yến qua Báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc ở Sài Gòn. Sau hơn nửa thế kỷ quen thân từ Đỗ Ngọc Yến, bản thân dần biết thêm Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và hiểu ra giữa họ có một Giây Liên Lạc – Mối Ân Tình Huynh Đệ Rất Chặt Chẽ. Vậy tại sao có lần đỗ vỡ quá đổi bất ngờ và ngạc nhiên như vậy đã
Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 117)
Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch… Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp. Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào. Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được? Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi: - Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô
Monday, February 3, 20208:06 PM(View: 148)
Sau này nghĩ đến chị Ngát làm tôi nhớ đến cả miền Bắc mà tôi đã xa nó từ năm 1952. Cái tên của chị quả hăm mốt năm ở miền Nam tôi rất ít hoặc không hề nghe, nó như một cái tên đặc trưng của gái miền Bắc. Khi tản cư qua Điền Hộ mùa hè năm ấy, tôi mới tám chín tuổi. Dọc đường, nhiều khi gia đình còn phải thuê người gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu. Những dòng sông, con đê, những thửa ruộng nứt nẻ, những đứa trẻ cỡ tôi vỏn vẹn với cái quần đùi, chăn trâu trên những cánh đồng cỏ cháy, những mẹ già mặc váy đụp lúp xúp quang gánh đi bên đường, những chiếc xe đò chạy bằng lò than chết máy dọc đường đang được đám lơ tài quay cho máy tái nổ, những ngôi nhà vách rơm trộn bùn, những thánh đường lỗ chỗ dấu đạn… Điền Hộ cuối thời chống Pháp, sang thời Việt Minh kiểm soát trong mắt tôi là như thế. Những sản phẩm từ mạn ngược, xứ Thanh của tôi, từ những chum vại Lò Chum cho đến nước mắm Kẻ Bạng Ba Làng, qua cửa Thần Phù, đem vào đây để phân phối đi xuống phương Nam gần như vắng bóng. Hơn một