DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,751,149

Đặng Tiến - Đọc Thơ Cao Tần.

29 Tháng Sáu 20189:52 SA(Xem: 188)
Đặng Tiến - Đọc Thơ Cao Tần.

                   Đọc Thơ Cao Tần


blank
 


Cao Tần là một nhà thơ di tản, rời Việt Nam tháng Tư 1975, hiện sinh sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm Thơ Cao Tần [1] gồm mười bảy bài thơ, không đề, có đánh số, được nhiều người chú ý, vì nghệ thuật vững chãi, diễn tả được niềm khắc khoải của người dân xa xứ. Tập thơ thỉnh thoảng có đôi câu chống cộng, điều đó dễ giải thích trong hoàn cảnh di tản của tác giả và của độc giả mà ông dự kiến. Tôi cần trình bày ngay điều đó để tránh mọi hiểm lầm từ mọi phía. Ở đây tôi chỉ ghi nhận tâm sự chua xót của người dân Việt Nam xa đất nước, còn chuyện chống cộng là của Cao Tần, tôi không bàn đến. 

Tập thơ phác hoạ đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần của người di tản, từ khi còn ở các trại tạm cư: 

Bỗng di tản ra thân lúi xúi 
Trong trại xếp hàng chầu cơm như mơ 

Cho đến ngày tìm được công ăn việc làm bình thường: 

Mai mốt anh về có thằng túm hỏi 
Mày qua bên Mỹ học được củ gì 
Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi 
Nói mày hay ông thượng đẳng cu ly 

Ông rửa bát chỉ hơn bà nội trợ 
Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan 
Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió 
Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan… 

Việc lao động chân tay, ngoài xã hội và nhất là trong gia đình, không có gì đáng tức tưởi. Sở dĩ Cao Tần nước mắt chứa chan là vì những lý do khác, nói chung vì cảnh sống hoàn toàn xa lạ, lạ cảnh, lạ người. Cuộc sống do đó, trở thành cạn hẹp nếu không phải là vô nghĩa: 

Chiều đi bát phố gặp toàn Tây 
Bỗng tiếc xưa không làm quen cả xóm (…) 

Chỉ gặp toàn Tây một chiều bát phố 
Tiếc sao xưa cả nước chẳng quen nhau 
Quen cả nước? Ra đường chào gãy cổ 
Và chắc gì nay nghĩ lại không sầu. 

Về lý luận thì Cao Tần quả là lẩm cẩm. Ở Tây mà không gặp Tây thì gặp ai. Đòi quen cả nước Việt Nam thì quen sao được. Nhưng trong mỗi người Việt Nam xa xứ thỉnh thoảng vẫn có những cái lẩm cẩm như thế! Lãnh lương Tây, ăn cơm Tây, mà gặp nhau thì cứ chửi "Tây ngu", "ngu nhu Tây". Cho hả lòng nhớ nước mà thôi. Cái lẩm cẩm nói được thành thơ, có phần cảm động của nó. 

Cao Tần vẽ lại một ngày lao động của mình: 

Nhà tôi ở toòng teeng đỉnh đồi 
Buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc 
Sau lưng sương ngập cao lưng trời 
Trước mặt thông sầu reo đáy vực (…) 

Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo 
Hồn Việt trong ta ngày mỗi khô 
Dốc mở ra như đời ta trước mặt 
Sương kín như đời ta hôm xưa (…) 

Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực 
Ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn 
Còng lưng gánh nốt đời lưu lạc 
Nặng chĩu nghìn cân nhớ nước non. 

Trong làng văn, Cao Tần là một cái tên lạ. Nhưng người quen đọc thơ thì nhận ra bút pháp già dặn của một người có kinh nghiệm về ngôn ngữ. Đoạn trên cho thấy Cao Tần kết hợp rất khéo những hình ảnh ẩn dụ sau lưng sương ngập, nước mắt thông sầu reo đáy vực, lối ví von bình dân đời xuống dốc, những chữ thông thường toòng teeng, hình ảnh đơn giản tiếng Việt héo, hồn Việt khô… Sự điều chế ngôn ngữ ấy tạo cho toàn tập thơ Cao Tần cái khí hậu vừa lạ vừa thân: tác giả rất có ý thức về kỹ thuật và mục tiêu của mình. Và ông đã đạt mục tiêu đó. 


blank


Nỗi niềm xa xứ trong mỗi chúng ta là một tình cảm cụ thể, làm mình đau nhói. Nhưng nói ra, nó trở thành trừu tượng, chung chung. Cao Tần khéo léo đi từ những hoàn cảnh cụ thể, ví dụ như chuyện một người đi di tản ông đặt tên là Cù Lần: 

Chàng Cù Lần có cái túi nhỏ 
Suốt bốn mùa giấu giếm như điên 
Anh em sùng nghĩ thằng này chơi khó 
Thủ cẳng tí tiền len lén tiêu riêng. 

Một hôm, anh em  bèn đè Cù Lần cướp túi coi chơi, thì khám phá ra một kho tàng vô giá: 

Một chiếc khăn tay cũ xì cũ xịt 
Màu nâu già thêu mấy chữ xanh xanh 
Giẻ rách gì đây hở thằng chết tiệt? 
"Khăn vợ trao ngày khoác áo nhà banh". 

Đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ 
Những tên người tên tỉnh đã xa xưa 
Những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ 
Những đường quen không trở lại bao giờ. 

Khi nhắc đến tình cảm riêng, Cao Tần cũng biết chọn khung cảnh chung để người đọc có thể cùng rung cảm với ông. Nhớ bạn thì ông gợi ra một hình ảnh rộn rã: 

Quán cóc sở ta bạn bè đã đợi 
Rất tưng bừng đấu hót những buồn vui 

Nhớ mẹ thì sâu lắng, kính cẩn: 

Gửi cho anh vài sợi tóc mẹ già 
Rụng âm thầm trên hiên chiều hiu quạnh 

Nhớ vợ thì thực tế, tếu một chút: 

Giờ nghĩ thân ta chỉ còn có vợ 
Vợ chót bỏ quên bên kia bán cầu 
Ngày ngày phất phơ giữa rừng mũi lõ 
Tìm người tình Việt chưa biết tìm đâu 

Cao Tần nắm vững quy luật của ngôn ngữ và sành tâm lý. Người Việt dù có thương yêu, quý trọng vợ đến đâu, khi nhắc đến "bu nó" vẫn có cái giọng rẻ rúng vờ như thế. Chuyện tưởng người dưới nguyệt chén đồng chỉ hay cái hay văn chương. 

Từ một chi tiết rất cụ thể, một thẻ căn cước còn sót lại trong đáy ví, tác giả cũng đựng được những câu thơ cảm động: 

Quanh mình xôn xao chuyện thay quốc tịch 
Ngậm ngùi bày dăm giấy cũ coi chơi 
Thời cũ ố vàng rách rơi mấy mảnh 
Xót xa đau như mình bỗng qua đời 

Hỡi kẻ trong hình mặt xanh mày xám 
Ngươi sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư 
Hỡi thằng chiến binh một thời dũng cảm 
Mày lang thang đất lạ đến bao giờ 

Trước những câu thơ như thế, phản ứng đơn thuần của tôi là cảm động. Cảm động vì tình người. Tình người trong con người. Sau đó mới ưu ái với tình Việt. Tình Việt trong người Việt. Còn chuyện văn chương là cái còn lại. Hay là cái qua đi. Cao Tần nắm vững kỹ thuật. Nhưng thơ ông thành công không phải chỉ vì kỹ thuật, và cũng không phải chỉ vì niềm nhớ cố hương. Bao nhiêu người đã làm thơ nhớ nước trước đây. Tôi nghĩ ông rung cảm được người đọc vì cái tình người. Tôi nghĩ thầm: phải yêu người mới nhớ nước, mới nói được một câu rất thực và rất thật: 

Bài học lớn từ khi đến Mỹ 
Là ngày đêm thương nước mênh mang 

Câu thơ cho ta thấy rằng, vì một lý do nào đó, con người có thể bứt bản thân ra khỏi quê hương, nhưng vẫn không thể bứt quê hương ra khỏi bản thân. Ở niềm nhức nhối sâu xa đó, người Việt kiều đều gặp nhau, dù chính kiến có đối lập. Mà gặp nhau đã là chuyện quý hiếm. 



blank

Để xoa dịu nỗi đau nhức trong cuộc sống, con người tìm quên, hay che giấu. Bằng cách pha loãng cô đơn của mình trong cô đơn của bạn bè, qua chén rượu, qua câu chuyện ngông: 

Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn 
Gánh sơn hà toan chất thử lên vai 
Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn 
Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai (…) 

Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc 
Thấy chiến trường la liệt xác anh em 
Năm tráng sĩ bị mười chai quất gục 
Đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm 

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi 
Những hào hùng uất hận gối lên nhau 
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới 
"Ta làm chi cho hết nửa đời sau?" 

Câu cuối cùng thật là cay đắng, thê thiết. Thơ Cao Tần lay động người đọc vì nó không sướt mướt, không bi lụy. Tâm tình bi thiết của mình, và của cả một cộng đồng đông đảo người Việt xa quê. Cao Tần đem ra nói chơi chơi, nói khơi khơi. Câu thật xen kẽ với câu đùa, chữ thanh lẫn giữa chữ thô, nụ cười tiếp theo tiếng nấc, câu tâm sự tái tê lạc giữa cái giọng kiêu bạc, bơ vơ. Toàn tập gợi ra cái vẻ phúng thế, khinh đời: 

Ông học được Mỹ đất trời bát ngát 
Nhưng tình người nhỏ hơn que tăm 

Chữ "ông" Cao Tần sử dụng thường xuyên, bề ngoài tuy ngông nghênh, bên trong là trống rỗng và thảm hại. Xưng ông là để quên mình đi, chứ không phải để tôn mình lên cao. 

Cái nghênh ngang trong thơ, thường che giấu một tâm hồn bất đắc chí. Do đó người ta dễ yêu vẻ kiêu bạc, khinh người trong thơ hơn là ngoài đời, tuy trên thực tế, trong thơ hay ngoài đời, sự kiêu bạc chắc cùng chung một động cơ tâm lý. Cao Tần tự xưng là "ông" và gọi thiên hạ là chú: 

Chú nào ngồi trước hiên ta chiều nay 
Nghe mưa Sài Gòn rạt rào thơm ngát 
Sau một ngày nắng lóa chín từng mây 
Những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc…
 

Độc giả cười xòa mà nhận cái ngông nghênh đó, vì nó chỉ phản ảnh một tâm trạng bi thương! 

Đời đang bão khi không chìm lặng ngắt 
Như cành khô nằm chết đáy sông sâu (…) 
Tuổi chưa nặng hồn đã chừng ngớ ngẩn 
Lòng vàng khô hơn chiếc lá đưa vèo. 

Qua những đoạn trích dẫn, độc giả cũng thấy được cấu trúc trong từng bài thơ Cao Tần. Đoạn đầu, hoặc chỉ câu đầu, nói lên một hoàn cảnh cụ thể hiển nhiên, để lôi cuốn óc tò mò của người đọc. Sau đó, tác giả tổ chức ý thơ, lời thơ của toàn bài để đưa dẫn tới câu cuối, thường thường rất cô đúc. 

Giọng thơ già dặn tỉnh táo, chừng mực cho ta cái cảm giác Cao Tần chỉ là bút danh của một tác giả đã giàu kinh nghiệm diễn đạt. Cao Tần là ai, kể ra biết cũng vui, không biết cũng không sao. Điều quan trọng là ông đã nói lên một cách hiệu lực niềm nhớ nước đau nhức trong nhiều người Việt, vì lý do này hay lý do khác, phải sống lưu đày nơi đất khách. 

Người Việt ở nước ngoài, rời đất nước vào những giai đoạn và cảnh ngộ khác nhau. Do đó, cùng nhớ chung một đất nước, nhưng niềm ray rứt cũng khác nhau. Buộc mọi tình cảm phải giống nhau, là chuyện viễn vông. Niềm nhớ nước của Cao Tần bi thảm vì nó tuyệt vọng, bế tắc. Dĩ nhiên ta không nên đơn điệu suy ra rằng: trong hoàn cảnh này, hoàn cảnh nọ, thì phải nhớ nước thế nọ, thế kia. Người này thế này thì phải nhớ nước thiết tha hơn người nọ thế kia. Cuộc sống nội tâm không đơn giản như vậy. 

Điều ta có thể nhận thấy là niềm nhớ nước ở Cao Tần đằng sau cái kiêu bạc bên ngoài, nó thê thiết, thê thiết như ít khi ta được thấy ở văn thơ người Việt nước ngoài. Chỉ có điều đó thôi cũng đáng cho tôi ghi nhận và giới thiệu với bạn đọc. Vấn đề tôi muốn nêu lên là: chúng ta có nhớ nước thật tình, nhớ đến cái độ chấp nhận, đùm bọc nhau, khai thông cho nhau những bế tắc hay không. Dĩ nhiên là còn nhiều vấn đề khác có thể nảy ra, còn nhiều kết luận khác còn có thể tỉa ra, còn nhiều suy nghĩ khác có thể bừng sáng, về trách nhiệm chung của chúng ta về sau. 

Còn chuyện văn chương, chỉ là lời chào qua đường 

 

                                                        ĐẶNG TIẾN
                                                                                                            (từ: dutule.com)

Chú thích: [1] Người Việt xuất bản, không ghi nơi và năm in. Theo chúng tôi thì in tại California, 1978, sách gồm 56 trang khổ nhỏ.





                             *
                                                   Mời tìm đọc:

                    Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                                                          Click vào:

 https://www.amazon.com/Hon- Nam-Muoi-Lam-Vietnamese/dp/ 1986944972/ref=sr_1_1?ie=UTF8& qid=1524797088&sr=8-1& keywords=hon+nam+muoi+nam+tho

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện

Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

                                  Amazon Mẫu Hệ

 








Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Bảy 20188:34 SA(Xem: 103)
Tụi bay tưởng rằng mình sống hoài chăng. Mà thiết lập một triều đình oan khốc. Nay tăng giá điện, mai tăng giá xăng. Khiến mỗi chén cơm lưng tròng nước mắt. Tụi bay tưởng rằng mình là vua chắc. Con cái tụi bay du học nước ngoài. Con cái nhân dân lên rừng thiêng nước độc. Lao động oằn người không thấy tương lai.
16 Tháng Bảy 201811:47 SA(Xem: 138)
Biến cố 1975, một cuộc đổi đời lần thứ hai kể từ sau ngày phân chia đất nước với Hiệp định Genève 1954. Sau 1975, vẫn các giáo sư gốc di cư từ miền Bắc vào Nam còn ở lại như Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Hoàng Tiến Bảo, Gs Đào Đức Hoành, Gs Nguyễn Đình Cát... cácThầy nay tuổi đã cao, mỗi ngày phải đi làm bằng xe đạp tới bệnh viện hay xa hơn tới trường Y khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Cũng vẫn các Thầy ngoài việc chăm sóc bệnh nhân và giảng dạy cho sinh viên, từ nay còn phải làm thêm việc của y công như lau quét các phòng vệ sinh và cả đổ rác. Không làm sao mà quên được cảnh tượng một Gs Phạm Biểu Tâm phải lau chùi cầu tiêu bị té ngã bầm dập ở bệnh viện Bình Dân, Thầy Tâm rất sợ Cô lo, nên dặn dò không báo tin cho Cô biết. Như từ bao giờ, trong mọi hoàn cảnh các Thầy vẫn luôn giữ được nhân cách cao trọng của người trí thức, không phát biểu những lời xưng tụng chế độ mới. Các Thầy cũng không thể không não lòng khi hàng ngày phải chứng kiến trình độ dốt nát
14 Tháng Bảy 20186:57 SA(Xem: 113)
Petrus Key cũng đóng một vai trò đáng kể trong cuộc xâm lăng Việt Nam của Pháp. Ông là một trong những thông ngôn người Việt đầu tiên đã hợp tác với Pháp, bên cạnh những giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Hải Ngoại đã tiềm phục trong vương quốc Đại Nam từ nhiều thế kỷ. Cấp chỉ huy Pháp đầu tiên mà Petrus Key phục vụ là Hải quân Trung tá Jean Bernard Jauréguiberry, Chỉ huy trưởng Sài Gòn từ tháng 3/1859 tới tháng 4/1860, người sau này thăng tiến tới chức Bộ trưởng Hải quân & Thuộc địa. Sau đó, Petrus Key làm việc liên tục cho Soái phủ Sài Gòn và rồi chính phủ Bảo hộ Pháp tới trước ngày nhắm mắt. Hầu hết tư liệu Pháp đều công nhận Petrus Key là một "khai quốc công thần" của nền Bảo hộ Pháp, không những tại Nam Kỳ, mà còn trong toàn cõi Đông Dương. Năm 1876, chẳng hạn, Petrus Key làm một chuyến viễn du Bắc Kỳ, cung cấp tài liệu tại chỗ cho Thống đốc Duperré mưu chiếm miền Bắc, nhưng kế hoạch này không được Paris chấp thuận. Năm 1886, "ẩn sĩ" Petrus Key ra Huế, làm trong Cơ Mật Viện
13 Tháng Bảy 20189:52 CH(Xem: 459)
Sự thành lập ngôi trường thật sự chỉ là một cơn nứng c. của tên tướng không quân, từ lò lính Pháp ấy, văn dốt võ dát ấy, ký sắc lệnh thành lập, rồi sau đó cho một tên đại tá hải quân tốt nghiệp từ thương thuyền qua chỉ huy. Tên đại tá hải quân mê gái, không biết cách chỉ huy bộ binh, không biết cách phòng thủ trường, chỉ biết "rếch lô" khám giường, tủ, súng ống cho không có một hạt bụi, một vết dơ. Sau đêm địch đánh vào trường, không có chiến thuật nào phòng thủ, đánh trả, khiến trên 30 tu sĩ đang theo học ở đây chết, thêm 10 sinh viên sĩ quan chết và bị thương. Trường u sầu như khóc than thân phận, và hờn oán cho những tên cai thầu chiến tranh, đứng ngất ngưỡng trên cao rung đùi, sắp đặt âm mưu chiếm quyền, chiếm ghế. Tay chỉ huy trưởng, đại tá hải quân, dốt đặt cán mai về chỉ huy bộ binh, đã làm chết hơn bốn mươi học viên, không bị đưa ra tòa án quân sự, không bị tù, không bị xử phạt, không bị hạ cấp bực, hay trọng cấm... mà sau đó được đưa về lại hải quân, giữ chức vụ cao
11 Tháng Bảy 20183:46 CH(Xem: 149)
Khi tôi còn trẻ hơn bây giờ 10 tuổi, thì mới được một cái nghề rất nhênh nhang, là đi về các xóm thôn quê kiểng để thu thập sưu tầm ca dao dân ca. Cả một mùa hè năm đó, tôi cứ như một con chim sẻ bay lung tung khắp nơi tắm táp trong những nơi thôn ổ dư thừa ánh mặt trời và dằng dặc tiếng ve kêu. Tôi thích uống thứ nước chè có vị đăng đắng của các bác nông dân, thùng nước của họ thường để dưới gốc cây to giữa cánh đồng. Tôi không chút ngại ngần, vục chiếc bát uống chè cáu kịt những cao chè vào thùng nước mà uống ngon lành; uống xong, còn múc đổ đầy bi đông của mình để mang đi. Tôi cũng chẳng kiêng dè, tham gia góp miệng với đám trai cày những câu chuyện tếu tá, kể cả nhảm nhí; rồi vênh váo nghênh ngang ra đi, để lại sau tai tiếng rúc rích thầm thì của các cô gái, dù cho có thừa biết là họ đang xì xầm vì sự có mặt của mình.