DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,822,374

Nguyễn Văn Thịnh - Trương Vĩnh Ký oan nỗi gì?

28 Tháng Bảy 20189:43 CH(Xem: 366)
Nguyễn Văn Thịnh - Trương Vĩnh Ký oan nỗi gì?
Trương Vĩnh Ký oan nỗi gì?


blank



Đầu năm nay, tại TP.SG xảy ra một hiện tượng văn hóa khá ồn ào. Số là cuốn sách tựa đề “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ” (Nhã Nam và Nhà xuất bản Tri thức) do cụ Nguyễn Đình Đầu chủ biên, đã không được ra mắt như đã định theo lệnh của Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị thu hồi để chỉnh sửa theo yêu cầu của Cục Xuất bản, In và Phát hành trong khi sách đã được Cục Xuất bản chấp thuận và cấp phép lưu chiểu từ mấy tháng trước. Thiết nghĩ đó là việc làm bình thường vì trách nhiệm của cơ quan quản lý văn hóa, dù rằng lệnh đưa ra vào phút chót có phần cập rập nhưng tránh được một sự đã rồi. Lập tức một số phương tiện truyền thông có phản ứng bằng những lời lẽ rất gay gắt, không phải là những lời phản biện bình thường mà nó là phản ứng đầy nộ khí, tới mức là hằn học: Một “sự kiện văn hóa” rất phi văn hóa; Một sự chối bỏ lịch sử; Nhân vật ấy cho đến lúc này, khi vừa mới có cơ hội được trở lại với lịch sử thì cũng ngay lập tức đã bị ngăn trở lại một cách dứt khoát và quyết liệt đến ngỡ ngàng trước những sự phẫn nộ của nhiều người dân được biết sự thật về ông; Người ta vẫn còn “sợ” những vĩ nhân thật sự như cụ Trương…

Sách khổ 17x25cm, dày hơn 600 trang, in 2.000 cuốn, tuy chưa được phép phát hành nhưng không ít người đã nhận được sách biếu. Thực ra đó không phải là công trình nghiên cứu mà chỉ là sự thu gom có lựa chọn những bài viết về Trương Vĩnh Ký của nhiều nhân vật đương thời có liên quan tới ông và của hậu thế nhận xét đánh giá về ông, tất nhiên theo chủ ý của người biên tập. Ngoài một vài bài viết mới được đưa ra, còn đa phần với những bạn đọc quan tâm thì không có điều chi mới lạ.

Nhà Ái Quốc?

Đánh giá một nhân vật tầm cỡ như Trương Vĩnh Ký phải nhìn toàn diện cả những hoạt động văn hóa, xã hội và tác động trước mắt cũng như lâu dài của nó tới cộng đồng dân tộc. Điều nổi bật ở nhân vật này là những hoạt động văn hóa và xã hội đồng nhất với nhau nhằm vào một mục tiêu suốt đời ông theo đuổi. Đã có nhiều bài viết và cả những công trình khá công phu về Trương Vĩnh Ký của nhiều nhà hoạt động xã hội và nghiên cứu như Nguyễn Sinh Duy, Vũ Ngự Chiêu, Lê Trọng Văn,  Nguyễn Mạnh Quang, Phạm Long Điền, trong đó nhiều vị hiện đang sống ở nước ngoài, đều chung nhận định.


Ngay lúc sinh thời họ Trương và cho tới hôm nay, hơn một thế kỷ sau khi ông không còn tồn tại trên cõi đời này, đã có biết bao điều ong tiếng ve, hao tổn nhiều giấy mực vào việc khen, chê. Ông Bùi Kha – một người có nhiều bài nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký, đang sống ở nước ngoài nhận định rằng ông Nguyễn Đình Đầu đã mập mờ lờ đi hoặc không hay biết (?) nhiều bức thư trao đổi giữa Trương và các viên chức trong chính phủ thực dân tại An Nam để che tội cho Trương.

Lúc 22 tuổi, khi vừa chân ướt chân ráo từ trường Dòng Penang về Sài Gòn, Trương đã dùng vốn chữ học được viết thư khẩn thiết rước giặc vào nhà: “Tôi nhân danh là người đại diện cho tín hữu Kitô kính dâng lên Ngài lời cầu xin của chúng tôi… Tất cả chúng tôi chắc sẽ chịu chết nếu Ngài không kịp đánh đuổi kẻ thù của chúng ta”! Trong khi chính tướng giặc Page đã viết thư về Paris tấu trình sự thực: “Những năm đầu mới lên ngôi, vua Tự Đức có một thái độ đối xử khá ân cần với họ (các giáo dân). Nhà vua đã ra lệnh cho các quan lại địa phương có thái độ khoan dung rộng rãi với họ trong những chuyện làm trái pháp luật, những vụ phạm pháp nhỏ. Nhưng rồi các giáo dân do các giáo sỹ lãnh đạo ngày càng xấc xược, ngạo mạn đến mức họ không thèm biết cả chính quyền địa phương. Họ công khai nổi loạn, họ tuyên bố người Kitô giáo không thể vâng lời những kẻ theo một tôn giáo khác”, đến nỗi Genouille cũng phải thốt lên: “Không một nền cai trị nào dù là phục vụ đạo Kitô lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên, ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ”. Cho đến cuối đời, khi bị thất sủng, Trương vẫn một lòng cúc cung với giặc của một “Người bề tôi tận tâm và vâng lời: Khi trở lại đời sống tư, lòng tôi luôn luôn thuộc về nước Pháp, và những công việc phục vụ nhỏ mọn của tôi cũng thuộc về nước Pháp”.

Cuộc sống và việc làm của họ Trương dù đa dạng nhưng chỉ có một chiều là phụng sự ngoại bang như chính ông đã công khai thừa nhận: “Tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng để trở thành người Pháp thực sự”, “Nước Pháp mà tôi phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó”, thậm chí tới mức: “Tôi xả thân làm bốn mảnh vì ngài và vì sự thành công của nhiệm vụ cao cả của ngài” (Thư gửi Paul Bert). Xin lưu ý với bạn đọc rằng sau chiến tranh Pháp – Phổ (1870), nước Pháp tuy thắng trận song cũng lao đao. Cuộc bình định xứ Viễn Đông xa xôi gặp nhiều trắc trở và tốn kém. Chính giới Pháp nản lòng. Hạ nghị viện đòi rút quân về. Trong số 33 ủy viên đặc trách bàn thảo vụ Bắc kỳ, chỉ có 6-7 người khăng khăng đòi duy trì sự chiếm cứ, trong đó có P. Bert. Y hô hào vì danh dự, quyền lợi thương mại và chính trị… buộc nước Pháp phải ở lại đây! Đầu năm 1886, P. Bert đến Sài Gòn, móc nối ngay với Trương Vĩnh Ký và Trương đã nhanh nhảu đáp ứng yêu cầu rất hữu hiệu.

Một quốc gia có được một công dân nổi danh “thiên hạ kỳ tài” tất nhiên là niềm tự hào cho cả dân tộc bất kể dưới thời đại hoặc thể chế nào. Lớp hậu thế cần sự nghiêm cẩn khi tìm hiểu những giá trị của tiền nhân, đặc biệt trong một giai đoạn lịch sử hàng trăm năm đầy bi tráng của dân tộc ta. Linh mục Trương Bá Cần nhận xét rất vô tư: “Anh hùng cứu được nước như Lê Lợi, Hồ Chí Minh… không phải thời nào cũng có. Và khi đã không có một minh chủ, một lãnh tụ có khả năng tập hợp và tổ chức, thì người dân bình thường, kể cả kẻ sỹ, vẫn phải chấp nhận thực tế để tiếp tục sống và làm cái gì đó có ích cho đời”. Đó là nỗi đau cho cả dân tộc và cũng là nỗi bất hạnh không chỉ với một học giả Petrus Ký. Vấn đề là kẻ sỹ lúc ấy, đặc biệt là với kẻ sỹ tiêu biểu cho sỹ khí của dân tộc càng phải biết làm gì để cho mình được tồn tại và nếu không giúp ích được nhiều cho đời thì chí ít cũng không làm hại cho dân tộc, để lại điều tai tiếng muôn đời. Trái lại, họ Trương đã dấn thân ngay từ đầu và ngày càng dấn sâu tới mức không thể giấu nổi người đời. “Trương Vĩnh Ký đã nhận cộng tác với Pháp một cách hình như không đắn đo, không day dứt, không hối tiếc, vẫn luôn luôn đi tới”, là điều “hết sức quý giá đối với người Pháp bởi vì họ từ xa tới, lạ đất, lạ người. Nếu không có người cộng tác từ bên trong thì khó mà xâm lược được Việt Nam”.

Là một trí thức bậc thầy, họ Trương không thể hợp tác với giặc lộ liễu như những kẻ tay sai nông nổi chăm chăm lập công hưởng lộc. Người sâu sắc nước đời như Trương thì chỉ ở hậu trường mới bộc lộ ra gan ruột. Không ít người đương thời và hậu thế bị lừa bởi câu nói thường trực từ cửa miệng một trí thức hạng sang: “Sic vos non vobis” (Ở với họ mà không theo họ), nghĩ rằng đấy là một con người ưu thời mẫn thế. Phải được biết tâm can con người đó dốc ra với chủ mới biết nó thâm thúy độc hại tới mức độ nào: “Về phương diện chính trị và kinh tế, người Pháp là kẻ đi đồng hóa, còn người An Nam là kẻ chịu đồng hóa. Người yếu cần dựa vào người mạnh để đưa mình lên bằng người khỏe. Đó chính là mục đích cần phải theo đuổi và đạt tới. “Bằng cách nào? Bằng cách đồng hóa. Và đồng hóa chỉ có thể thực hiện được bằng giáo dục và học vấn” và suốt đời ông ta tận tâm tận tụy “chưa bao giờ đi lệch mục tiêu đã định sẵn. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam” (Thư TVK viết ngày 12/1/1882 gửi Hội đồng thuộc địa để xin tiền in sách), đến nỗi học giả Hồ Hữu Tường suốt đời lăn lóc tứ phương, nhiều lần vào tù ra khám mà vẫn bị lầm, đã hết lòng ca ngợi tài năng và công lao của Trương Vĩnh Ký về mặt phát triển văn hóa, mở mang tri thức mà chỉ chê trách họ Trương “có một thời gian ngắn cộng tác với Paul Bert là đi lệch ra ngoài hóa trình từ người trí thức tới kẻ sỹ phu”! Năm 1873, quân Pháp hạ thành Hà Nội với cái chết chấn động lòng người của cha con Nguyễn Tri Phương và phò mã Nguyễn Lâm. Vậy mà năm 1876, theo lệnh Thống xứ Nam kỳ, Trương làm chuyến công du ra Bắc và gởi báo cáo về: “Tất cả các quan lại Nam triều đều tin chắc rằng không thể chống lại người Pháp và nếu nước Pháp muốn lấy xứ này, có thể làm mà không phải mất nhiều khó khăn, tốn kém”, sau đó là những gì, mọi người đều rõ.


blank

Mời bạn đọc xem mấy dòng các quan thuộc địa trao đổi với nhau: “Tôi nhận thấy ở Huế, ông Trương Vĩnh Ký đã tận lực làm tròn sứ mạng công việc trong triều đình và ít nhiều ảnh hưởng trên nhà vua. Trong những điều kiện đó, tôi tin rằng sẽ có lợi cho người Pháp hiện thời nếu giữ ông ta ở lại Huế trong một thời gian tôi không dám xác định, nhưng chắc chắn cũng khá lâu” (Toàn quyền Paul Bert, trong thư ngày 20/5/1886, gởi Thống đốc Nam kỳ). “Petrus Ký có nhiệm vụ thuyết phục nhà vua và triều đình hợp tác một cách thẳng thắn và trung thành với Pháp. Petrus Ký hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cực kỳ tinh tế này và hòa bình yên ổn được thiết lập ở An Nam trong vòng 60 năm” (Pierre Vieillard). “Rút cục, đó là người An Nam Pháp hóa và gương mẫu duy nhất mà chúng ta có. Sự trợ giúp của ông thật đã rất ích lợi cho ảnh hưởng của chúng ta và cho nền học chính nói chung” (Luro, Thanh tra và Giám đốc trường Sư phạm Thuộc địa Pháp tại Việt Nam). Người ta còn đưa chuyện không gia nhập quốc tịch Pháp để minh chứng cho lòng ái quốc của Trương, mà không hay ông đã chẳng giấu giếm gì mưu sâu ấy với nhà bảo hộ: “Tôi sẽ không bao giờ còn lợi ích cho nước Pháp mà tôi phục vụ và gắn bó. Bởi vì nếu nhập tịch tôi sẽ mất hết uy tín, mất hết ảnh hưởng, từ đó không còn sự tin tưởng của nhà vua, của triều đình và của dân chúng An Nam”! Và sự thực ông cũng không chết già trong nghèo túng và bệnh tật như người ta ngoa lên để làm mủi lòng dư luận. Tuổi trẻ, Trương lấy vợ nhà giàu, được nhà nước bảo hộ giao trọng trách, trả lương hậu hỹ tới mức chỉ sau hai viên quan cai trị hàng đầu người Pháp tại Sài Gòn thời đó. Hàng trăm đầu sách viết ra đều được nhà nước thực dân bao thầu trọn gói kể cả khi Trương nghỉ hưu đến sau lúc qua đời! (*) Còn dư của dựng nhà thờ, phần mộ uy nghi tráng lệ.

Đương thời, con người tinh tế như Trương cũng đã nhận ra thân phận cô đơn của mình giữa những ông chủ cầm quyền: “Có nhiều người ganh ghét tôi, ngu ngốc thậm chí là hung ác, họ có thể và biết cách hãm hại tôi” (Thư gửi Paul Bert) và cả sự khinh bỉ của đồng bào mình nữa: “Trong con mắt của đồng bào tôi, tôi đã bị lên án nặng nề”!
Thế mà vẫn có một thế lực cố tình thổi Trương thành cái bong bóng màu bay lơ lửng, để lại cho hậu thế nhiều tranh cãi tới mức mâu thuẫn dai dẳng và gay gắt xoay quanh những hoạt động xã hội và các công trình văn hóa của ông ta.

Là người thông minh cần cù, lại được đào tạo căn cơ để có vốn kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực vào thời kỳ đầu hai nền văn hóa Đông – Tây mới giao tiếp với nhau, và dù không có cơ sở nào chứng minh ông là một trong thập bát văn hào thế giới nhưng nhà trí thức họ Trương vẫn xứng đáng là học giả hàng đầu của nước ta thời ấy. Bởi những hoạt động văn hóa của ông được dùng làm tấm bình phong che cho những việc làm tệ hại “rước giặc vào nhà” khiến không ít người lẫn lộn. Chẳng lạ gì gần đây nhiều nhân vật đầy tai tiếng làm tay sai cho giặc lại được tô son trát phấn bằng những luận văn sách sử để chứng tỏ lòng yêu nước thương nòi (như Lê Thân, Hoàng Cao Khải…). Nguyễn Sinh Duy, một người có những công trình nghiên cứu giá trị về nhân vật này, đã nói: “Dù sao thì Trương Vĩnh Ký cũng là một tài năng thực sự của đất nước cũng như của Nam kỳ nói riêng. Ông sống vào thời buổi cực kỳ gay cấn của nước nhà nhưng suy cho cùng thì không phải kiến thức định đoạt giá trị một con người mà chính là ở hành động của người ta”. Không dưng Thiếu tướng hải quân Pháp P. Réveillère đã tham chiến ở Nam kỳ thời ấy, từng truy đuổi nghĩa quân và binh lính Nam triều, cũng thừa nhận điều đạo lý căn bản ở bất kỳ đâu: “Lấy công bình mà nói, chúng ta quý trọng một người bởi giá trị tinh thần nhiều hơn những kiến thức”. Tuy nhiên, “cũng không phải là vì sự cộng tác của Trương Vĩnh Ký mà Nam kỳ rồi Bắc kỳ và Trung kỳ lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp. Điều bất hạnh cho đất nước Việt Nam chúng ta là vua quan nhà Nguyễn, do nhiều sai lầm, không xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân để giữ được nước. Những người yêu nước kiên cường bất khuất như Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân… có gây khó khăn cho Pháp nhưng cũng không đuổi được Pháp đi” (Trương Bá Cần). Sự thật là trước khi tới Việt Nam, các nhà truyền đạo đã dựa vào đội quân viễn chinh đặt được chân lên quần đảo Nhật Bản và chế ra thứ chữ Nhật mới (Romaji) viết theo mẫu tự Latin. Song giới cầm quyền Nhật Bản lúc ấy dưới sức mạnh của quốc đạo Shinto (Thần đạo), đã đoàn kết được các đại gia tộc lãnh chúa địa phương mà nòng cốt là các shamurai, quyết liệt chống lại, buộc các nhà truyền giáo phải vác cây thánh giá cùng với đạo quân xâm lược phương Tây chuyển hướng sang xứ Viễn Đông.

Cổ nhân ta có câu: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Người hiền để cho cái tâm làm sáng cái tài, chẳng như phường giá áo túi cơm để cho cái tài làm tối cái tâm. Ông bà ta căn dặn từ ngày đầu cho con cắp sách tới trường là để “học chữ, học nghĩa”. Chữ đây là kiến thức. Nghĩa đây là trách nhiệm làm người. “Đạo đức lớn nhất của một con người là lòng yêu nước” (Napoléon), xưa nay Á, Âu đều vậy.
Để tỏ ra công bằng, cụ Nguyễn Đình Đầu dẫn ra những nhận định trái chiều ở hai miền Bắc, Nam trong giai đoạn lịch sử từ 1945 đến 1975 để người đọc tự phán xét. Hãy coi đó như là việc làm vô tư nhất trong cuốn sách này.

Ở phía Nam, bản nhận xét toàn diện tiêu biểu nhất lại là của một ông Tây có tên Pierre Vieillard ca ngợi học giả họ Trương mà nếu ai đọc kỹ sẽ chắt lọc ra đây lại như sự vạch áo cho người xem lưng ngài “chí sỹ” An Nam: “Ông (TVK) không chỉ là một học giả, mà trên hết còn là một con người rộng lượng… Chưa bao giờ Petrus Ký không yêu đất nước của ông cả. Ông không bao giờ phân biệt sự cống hiến của mình cho nước Pháp và tình yêu quê hương ông dành cho Tổ quốc… Ông không tìm kiếm danh vọng. Ông chết già trong thiếu thốn (?)… Phía Pháp người ta nghi ngờ sự thân Pháp của ông; phía An Nam người ta nghi ngờ rằng ông ta chấp nhận bắt tay với Pháp một cách vội vã và đó là một sự phản bội… Mục tiêu của ông không phải là tiền tài danh vọng. Mà đó là cứu vớt những gì có thể cứu được ở An Nam. Và để thực hiện được điều đó, ông chỉ có thể chọn làm việc cho cả hai dân tộc vì ông có thể lãnh hội một cách dễ dàng những tinh hoa của nước Pháp và có sẵn trong mình những tinh hoa của An Nam. Mọi nỗ lực đều hướng về mục tiêu: làm cho người Pháp hiểu người An Nam và ngược lại, làm cho người An Nam thấy được tính nhân đạo của người Pháp (!). Và để chỉ rõ cho dân tộc Pháp và dân tộc An Nam có thể hòa hợp thành một dân tộc vĩ đại và đáng được biết đến!… Trương Vĩnh Ký, người đồng hành với Phan Thanh Giản trong suốt cuộc hành trình trên, người đã chia sẻ những điều sâu kín với quan đại thần này, có cùng suy nghĩ như ông… Tóm tắt con người Trương Vĩnh Ký bằng một từ “một con người vĩ đại đầy nhiệt huyết”, những phẩm chất chúng ta cần rất nhiều ở thời đại này”!

Đúng là lúc ấy nước Đại Pháp đang cần rất nhiều người An Nam ăn ở hai lòng như hai vĩ nhân này! Liệu người An Nam nô lệ có thể hòa hợp với người Pháp khai sáng thành một dân tộc vĩ đại được chăng? Và biết chừng nào con cháu người Gaullois mới đồng hóa được con cháu người Đại Việt?

Theo ông Chu Hảo thì cụ Nguyễn Đình Đầu, không đồng ý sửa chữa bất cứ nội dung nào đã viết trong sách. Sẽ chẳng có điều chi cần sửa cả nếu như cái tiêu đề “Hồ sơ Trương Vĩnh Ký” vẫn được giữ nguyên vì theo những sử liệu dù chưa đầy đủ ở đây thì còn oan nỗi gì để cần chiêu tuyết?! Tuy nhiên, những sách mang tính học thuật của học giả họ Trương thì cứ xuất bản cho những ai cần nghiên cứu, hẳn người quá cố sẽ thỏa lòng vì vẫn đóng góp được cho đời.

Con người tài ba “oanh liệt” vậy mà sao trong lòng u uẩn một nỗi niềm không giải được: “Cuốn sổ bình sanh công với tội / Tìm nơi thẩm phán để thưa khai” và soạn sẵn câu trích trong Kinh cựu ước nói về Job bị Thượng đế và loài người lìa bỏ, ghi trên mộ chí: “Miseremini Mei Saltem vos Amici Mei” (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi). Ông thưa khai những gì không ai biết. Thẩm phán quyết ra sao chẳng ai hay. Đời sau còn ai “sợ những vĩ nhân thật sự như cụ Trương” đâu và những lời khen, chê, đàm tiếu là có thật! Người khen chủ yếu là những ông chủ thực dân nuối tiếc thuở vàng son và những người cùng hội cùng thuyền. Kẻ chê là những người dân mất nước và con cháu họ dù hoàn cảnh mỗi người một khác. Người động lòng thương ông cũng có bởi chưng là tiếc cái tài!

Tiến sỹ sử học, vị linh mục dấn thân Trương Bá Cần đưa ra ý kiến: “Vào lúc mà nhiệm vụ hàng đầu là chống xâm lược thì không nên nói đến những nhân vật như Trương Vĩnh Ký. Nhưng vào lúc đất nước được độc lập và thống nhất, nhiệm vụ còn lại là xây dựng con người và xây dựng đất nước, nếu có đặt vấn đề là xây dựng tượng đài hay phục hồi tên đường cho Trương Vĩnh Ký, thì có lẽ không phải là thuần túy chỉ muốn sự công bằng cho người đã quá cố”. Vế đầu là lẽ tất nhiên. Vế sau xem ra thiếu sự công bằng với bao thế hệ người vị quốc vong thân dưới sự tiếp tay của những quân nội phản?!

Tiến sỹ Bùi Kha cùng quan điểm với nhiều trí thức đang sống ở nước ngoài: “Các nước kém mở mang là nạn nhân thường trực của các cường quốc qua chiêu bài chống ý thức hệ, nhưng thực chất của nó là những phong trào thực dân đi xâm chiếm thuộc địa để tiêu thụ hàng hóa, vơ vét tài nguyên và xâm thực văn hóa mà tấm biểu ngữ được trương lên “tự do tôn giáo” là vũ khí hữu hiệu nhất. Cái gọng kềm chằng chịt đầy hoa mỹ ấy đã biến không ít người học thức mà tiêu biểu là nhà thông thái Trương Vĩnh Ký thay vì được “lưu danh thiên cổ” trở thành kẻ bị “lưu xú vạn niên”. Dầu thông cảm tới mức nào đi nữa thì con người luôn luôn phải có lý trí suy luận để chịu trách nhiệm về những việc làm đúng, sai, xấu, tốt của mình”.

Nhà giáo lão thành Trần Thanh Đạm dứt khoát nhưng có sự thể tình: “Phản bội, phản quốc là tội danh chẳng kẻ nào dám nhận. Càng là người có học vấn, có tri thức mà sa vào con đường ấy thì càng có nhiều luận điệu bào chữa xảo trá, tinh vi. Đối với những nhân vật này lúc đương thời thì ranh giới phải trái thường khá rõ ràng. Song về sau do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là với những người cùng não trạng, sự đánh giá có khi lại trở nên phức tạp, rối rắm, gây nhiều tranh cãi. Như con người này, vào thời buổi ấy, với tài năng ấy, thân phận ấy, tâm tư ấy, để lại cho đời sau nhiều bài học. Như một tấm gương để tôn vinh cảm phục thì không, song để cảm thông xót thương thì có”.

Tư Cách Sử Gia!

Một vị lão thành nhận được sách biếu mà lộ tâm trạng không vui, nói: Nhận định về Petrus Ký thế nào là quyền của người biên tập. Nhưng điều đáng quan tâm trong cuốn sách này lại là lời giới thiệu của ông Phan Huy Lê: “Trong lịch sử Việt Nam, việc bình luận, đánh giá không ít nhân vật lịch sử thường bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử như vậy. Nhưng xu hướng chung vẫn là sự thắng thế của kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc, khách quan và thái độ công minh trước lịch sử. Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió của khen – chê, tôn vinh – phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối”. Vậy là ông ta đã công khai xổ toẹt những nhận định của thầy ông và cũng là của giới sử gia cách mạng!


Mời bạn đọc cùng người viết xem lại nhiều lần lời nhận xét của ông Tây Pierre Vieillard về Trương Vĩnh Ký: “Mọi nỗ lực đều hướng về mục tiêu: làm cho người Pháp hiểu người An Nam và ngược lại, làm cho người An Nam thấy được tính nhân đạo của người Pháp. Và để chỉ rõ cho dân tộc Pháp và dân tộc An Nam có thể hòa hợp thành một dân tộc vĩ đại và đáng được biết đến”! Sao hai học giả Trương, Phan sinh khác thời mà giống nhau đến thế? Cả hai con người nổi tiếng này, khi sống đã nhận không ít điều ong tiếng ve bởi sự ăn ở hai lòng! Chỉ có điều khi chết liệu học giả họ Phan có được như học giả họ Trương không? Bởi chí ít thì Trương học giả cũng giữ được lòng trung thành với một ai. Còn Phan học giả thì tiền hậu rất chi là bất nhất!

Người xưa từng dạy: Chức sử quan rất lớn. Nhiệm vụ của người viết sử là phải chịu trách nhiệm với cả đất nước. Nếu như lại tùy tiện viết sai thì thật là nguy hiểm lắm! Cái đức cao quý nhất của một sử gia chân chính là phải giữ được tiết tháo trong mọi hoàn cảnh.

Nguyễn Văn Thịnh
(từ: báo Văn Hóa online)


——————————–
*VŨ NGỰ CHIÊU: Vài tài liệu mới Về Petrus Key
- Năm 1890, có 13 tựa sách của Petrus Key.
- Ngày 12/12/1895, Petrus Key viết thư yêu cầu chính phủ Nam kỳ mua giúp 2.000 cuốn Cours d’Annamite parlé (Bài giảng tiếng An-nam-mít nói). Giá $2/ cuốn.
- Ngày 13/1/1897, Hội đồng Quản hạt chấp thuận mua 1.000 cuốn, với giá tiền $2.000.
- Năm 1896, Petrus Key yêu cầu mua 2.000 bản Minh Tâm Bửu Giám (Le Précieux Miroir du Coeur).
- Ngày 3 và 26/10/1898, bà quả phụ Petrus Key gửi thư yêu cầu chính phủ Nam kỳ mua giúp số sách tồn kho của Petrus Key.
- Ngày 11/11/1898, Phòng 3 gửi Thông tư số 37 cho 18 tỉnh, yêu cầu mua sách Petrus Key. 8 tỉnh không mua (Rạch Giá, Trà Vinh, Sa Dec, Mỹ Tho, Bạc Liêu, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Gò Công). Ba tỉnh mua cao nhất là Tân An (7 tựa, $98.30), Cần Thơ (5 tựa, $94.40), Vĩnh Long (6 tựa, $93.30). Kế đến Bến Tre (2 tựa, mỗi tựa 100 cuốn, $60.00), Long Xuyên (12 tựa, $52.40), Hà Tiên (7 tựa, $31.50), Sóc Trăng (5 tựa, $31.40), Gia Định (1 tựa Vocabulaire annamite-francais, $27.00). Biên Hòa mua mỗi tựa một cuốn, Chợ Lớn mua 2 tựa.
- Ngày 2/5/1899, Phòng 3 Ban Thư ký chính phủ cho bà Petrus Key biết đồng ý mua 23 tựa sách, với tổng số tiền 593$80 xu./


                            *
                                               Mời tìm đọc:

                                 Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                                                                       Click vào:


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Mười 20188:03 SA(Xem: 23)
Trong clip thâu âm Nguyễn Quốc Chánh đọc thơ của mình, thực sự, ta có thể nghe những âm thanh của một thành phố: tiếng vù vù của những chiếc xe máy lướt trên đại lộ, tiếng còi sốt ruột của những chiếc taxi đang cố gắng luồn lách qua đoạn đường ùn tắc, một giọng nói mạnh mẽ, dứt khoát vang lên giữa đám đông vừa kết tụ lại đồng thời vừa tản mát ra như một đám mây đơn lẻ. Đối với tôi, đấy chính là âm thanh của thành phố Hồ Chí Minh. Độ rỗng của căn phòng nhiều tiếng vang nơi thâu âm bài thơ có thể được cảm nhận rất rõ ngay từ giữa dòng thơ thứ ba ở bài thơ đầu tiên trong tập thơ được xuất bản dưới hình thức samizdat của Chánh – Ê, Tao Đây (2005): “Sài Gòn bị thủng, cái xác chưa chôn, thủ đô lún mỗi ngày vài phân, chính trị cũng nên cổ phần… Ký sinh vào thuật giả kim là đám chữ ruồi bu… Bí mật quốc gia là những bữa tiệc trên vận may của hoa anh túc, làm người nghĩa là nhục, làm người Việt nghĩa là siêu nhục… Một người rao trên mạng: cần một đối tác tình dục có ý tưởng và hành vi
10 Tháng Mười 20188:40 CH(Xem: 159)
Thí dụ cụ thể như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn, nhân vật chính là một nhà giáo trẻ muốn lấy một cô gái có chồng ở lại ngoài Bắc, xin phép cha xứ, cha không cho, đành chịu. Yêu cô khác vậy…Trai ngoại đạo lỡ yêu phải một cô gái công giáo, kể như tình yêu sẽ lỡ dở, trừ phi theo giải pháp xoay xở mà ca dao đã diễn tả: “Tôi quì lạy Chúa trên trời, Tôi lấy được vợ tôi thôi Nhà Thờ”. Nhà văn/nhà thơ đâu có đóng kịch, giả trá như vậy được, nên thường chỉ có một cách rời bỏ xóm đạo ra đi, sống trà trộn với dân vô đạo tà đạo bên ngoài, hay bằng cách kêu ầm lên như ở Âu châu một thời nào đó, là “Chúa đã chết rồi, chúng tôi tự do”, hay tối thiểu cũng bằng cách thôi không đến nhà thờ nữa, thôi giữ đạo trong mọi sinh hoạt thường nhật. Nhưng bỏ đạo công khai, đối với mọi cộng đồng giáo dân, là truyện to lớn, không mấy người muốn làm và làm được. Bởi thế cách hay nhất vẫn là giữ im lặng, tìm cách ra khỏi xóm đạo một cách nhẹ nhàng, như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn,
08 Tháng Mười 20189:35 SA(Xem: 110)
Mấy ngày nay dân làng Hoa Đào xôn xao về lễ tang ông Đại Vĩ. Ngôi làng trồng hoa ven đô tỉnh H, nằm bên vệ hồ Đông yên bình thơ mộng bỗng nhiên ồn ào huyên náo khác thường. Dòng người sang trọng từ các nơi về phúng viếng đông như kiến cỏ. Xe ô tô đời mới đủ loại, đắt tiền bạc tỷ cứ nối đuôi nhau xếp hàng trước cổng làng dài hàng cây số. Đường làng bay rợp cờ phướn màu vàng, ở giữa thêu quẻ Thuần Càn, ý nói người quá cố vĩnh biệt thế giới này vào giờ đại cát sẽ để lại cho dân làng nhiều điều may mắn, phúc lộc dồi dào. Làng Hoa Đào xưa có tên nôm là làng Kình. Chữ Kình có nghĩa là chống đối nên trong các loại đào thế, người chơi hoa cây cảnh làng Kình công phu tìm cho được cây đào có thế Kình thiên độc trụ đắt mấy cũng mua, để tưởng nhớ và tôn vinh truyền thống bất khuất của làng bao đời nay. Thời nào gặp buổi vận nước suy vi, kỷ cương băng hoại trong làng đều xuất hiện một bậc hào kiệt lãnh đạo dân làng nổi lên đấu tranh chống lại cường quyền ác bá. Ngay trong tổng, có ngôi làng lớn
05 Tháng Mười 20187:50 CH(Xem: 128)
Ông về hưu với quân hàm bốn sao một gạch. Đại uý Thoả như thế nghỉ hưu đã lâu. Suốt hai mươi lăm năm trong bộ đội, ông mãn nguyện với “ve áo” đó. Là mẫu người chất phác, trong sạch, ông đã phục vụ trong ngành hậu cần, nhưng bàn tay không bị dính bẩn, ông vẫn tự hào về điều ấy. Bà vợ khen ông là hiền lành tròn trịa, không mất lòng ai. Nhưng có lúc bà chê “Hiền quá hoá đần”. Nhà cửa tiện nghi đồ đạc trong nhà vẫn tềnh toàng cổ lổ. Toàn những thứ sắm từ những năm sáu mươi. Ông sống giản dị, nhiều khi quá quê mùa. Ông không bao giờ mặc quần áo may bằng sợi tổng hợp (đa-công, pô-li-ét-tơ). Ăn uống thế nào xong thôi, không uống rượu, không mê một món gì khác. Bà Thoả là dân gốc Thái Bình, thường bị chê là dân Thái “Lọ”. Năm Ất Dậu chết đói đầy đường, do tội của Phát-Xít Nhật gây ra. Theo bố mẹ anh em lây lất kéo nhau lên Hà Nội kiếm ăn, cả nhà chết dần chết mòn, lê lết đến ga Hàng Cỏ thì chỉ còn một mình cái đĩ Tũn, là bà, sống sót. Bà không nhớ và không hiểu tại sao bà còn sống được.
28 Tháng Chín 20186:59 CH(Xem: 204)
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều người nổi tiếng đã lần lượt rời bỏ cuộc sống: nhạc sĩ Tô Hải, nhà báo Bùi Tín, cựu Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, và gần đây nhứt là chủ tịch nước Trần Đại Quang. Mỗi cái chết đều tạo nên những phản ứng xã hội khác nhau, tùy theo góc nhìn. Trong truyện ngắn dưới đây của nhà văn Khuất Đẩu: Chôn đứng, người chết chỉ là một kẻ vô danh, bình thường. Điều không bình thường là bởi quá giàu, nên ông ta không cam chịu vô danh, phải có được cái danh mình muốn, bằng cách đi mua. Và không chỉ khoa trương trong lúc sống, ông ta còn nghĩ ra lắm chuyện cầu kỳ trong cái chết, buộc con cháu phải làm những việc kỳ quặc chưa ai từng làm… Tất nhiên, ông có thể sai khiến con cháu trong nhà bất cứ điều gì, nhưng lại không thể sai khiến thiên nhiên, trong đó có mưa bão, sấm sét…