DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,493,436

Trần Thị NgH - QUẢ BÁO

Thursday, August 23, 20189:45 PM(View: 3573)
Trần Thị NgH - QUẢ BÁO
QUẢ BÁO

    
clip_image002


Nhiều năm sau khi chúng tôi thôi nhau, bà mẹ chồng ở tuốt ngoài Trung thỉnh thoảng lại điện thoại cho cựu con dâu để tỉ tê này nọ, tội ghê, vừa kể lể vừa hào hển bẻ giọng cho đỡ trẹt, chữ méo chữ tròn. Nó lấy một con Bắc Kỳ đẽ có con riêng với đời chồng trước. Con này kéo cẻ dòng họ dây mơ rễ mé vô lèm công nhăn xưởng gỗ của nó, eng sạch của cải mấy chục năm mé cắc ce cắc củm lèm re. Nó lè thằng con duy nhất của mé mè hôm que tổ chức sinh nhặt không thèm mời mẹ giè, chắc nó bị bùa mơ thuốc lú của con đèn bè trắc nết meng cái bụng thè lè trước khi đưa nhau vờ ở chung trong cái nhè này, đúng cái phòng mé xây cho hai vợ chồng bây hồi nẳm, không có cưới hỏi chi ráo…
Tôi nhớ hình như hôm qua đâu phải sinh nhật của Thăng, nên tìm cách an ủi bà mẹ chồng cũ:

– Chắc tiệc tùng làm ăn nhưng mượn cớ sinh nhật cho dễ nghe thôi, má. Ổng bây giờ chỉ biết kiếm tiền, đâu có biết sinh nhật là gì nên má đừng buồn.
– Giờ mé tiếc…

Rồi. Lại sắp sửa mếu máo bắt đầu…hồi đó mé xử tợ với con qué…tại nó đậu con trên đầu, coi trọng vợ hơn mẹ…Công lao mé ở vậy cẻ đời quằn quặt nuôi nó ăn học thành tài rồi dựng vợ gẻ chồng cho nó mè nó…Đoạn đổi giọng ngậm ngùi…Mé vẫn nhớ hầu đi rước dâu trên măm quẻ có đặt tém lượng vèng mé vậu vẽ đào lên từ nền nhè…Mấy ngày sau chị sui gói ghém cẳn thặn xin trẻ lại đèng trai vì cẻm động thấy đắt vườn mồ hôi nước mắt còn dính ở mấy thỏi vèng sính lễ. Vụ này lúc đầu nghe hay hay, sau phát chán, cuối cùng tặc lưỡi tiếc hùi hụi sao hồi đó má mình quân tử Tàu trả lại chi uổng ghê. Hồi sau đám cưới cô dâu cũng ngu, tháo hết dây chuyền bông tai kiềng cổ xuyến lắc nhẫn hột xoàn giao cho mẹ chồng giữ giùm rồi… quên mất tiêu là mình có của. Đến lúc ra tòa ly hôn, muốn cho nhanh gọn, hùng hồn khí khái khai hai bên không có tài sản gì. Phải chi khôn vặt trữ chút vàng bạc châu báu, những năm đói kém đã không đến nỗi cà tong cà teo, sau ly dị vừa đi làm nhà nước vừa tự nuôi con không có trợ cấp của thằng cha vô trách nhiệm; nuôi cả cha mẹ già lẫn ông anh khùng mà quên nuôi thân nên chỉ cân nặng có 34 ký giác. Còn sống đến ngày nay phải gọi là may.

Một lần khác bà già chồng lại gọi, than thở:
– Dạo này mé khó thở, tim đặp nhanh, mắt ngủ trằm trọng, con làm Sở Y Tế biết thuốc gì chỉ cho mé uống…
– Chà, ba cái vụ thuốc men nguy hiểm, phải có toa bác sĩ chứ tự điều trị quả thật không nên. Cách đây vài năm con cũng khó ngủ nên bác sĩ ra toa cho uống Lexomil 6mg liều nhẹ. Viên thuốc có 4 khấc, chỉ cần uống một khấc mỗi đêm trước khi đi ngủ thấy dễ chịu lắm, sáng dậy không thấy sật sừ. Khi đã vào nếp quen thì nên ngơi dần rồi ngưng. Chỉ nên dùng tối đa 4 tuần thôi, thuốc có chứa chất benzodiazépines có thể gây tình trạng lệ thuộc thuốc. Trước đây má đã từng là y tá …ư…nữ hộ sinh nên chắc thừa kiến thức y học phổ thông về các tác dụng phụ và lâu dài của thuốc an thần.

Nói cho qua vậy thôi chứ không phải bác sĩ ai mà dám khuyên người khác nhất là người già nên dùng thuốc này thuốc nọ. Thế nhưng khoảng sáu tháng sau lại nhận được cuộc gọi đường dài:
– Chè, thuốc con re toe mé uống vô ngủ sướng thiệt nhe. Nhưng dằn dằn tăng lên 2 khắc rầu. Uống 1 khắc tới nửa đêm là thức dậy tỉnh như sáo.
– Trời đất! Con đâu có ra toa. Chỉ là chia sẻ với má chút kinh nghiệm riêng thôi. Má phải đi bác sĩ để được chỉ định uống đúng thuốc thích hợp với tạng người và bệnh sử. Ông Thăng đâu mà má tự….
– Không sao. Đi bác sĩ chưa chéc được cho thằn dược. Giờ mé đeo theo rầu, không có không được.
Nghe vậy tôi tá hỏa tam tinh, nhưng chỉ lăn tăn được vài hôm rồi hời hợt quên phứt đi, cũng không hề nghĩ mình là kẻ thủ ác. Nhịp sống bắt phải quay mòng mòng, không có quãng lặng để lắng đọng hay để dây dưa với những ràng buộc tình cảm đã không còn ý nghĩa. Giống như thực phẩm quá hạn sử dụng hoặc giấy tờ hành chính đã hết giá trị pháp lý. Rất nên quẳng thùng rác, tậu cái mới. Ôm mấy thứ đó chi cho thêm chật chội, lâu ngày còn bị dòi, mọt.

Bẵng đi rất lâu, hình như là lâu lắm, vì con chung con riêng đều đã trưởng thành. Con dòng một Nam kỳ lai Trung kỳ không hưởng gen kinh doanh đồ gỗ của cha mà đâm đầu vô Mỹ thuật Châu Âu; đám Bắc kỳ lai Trung kỳ có gia phả bị Mỹ dội bom thời nội chiến trớ trêu lại du học ngành ngoại thương ở đế quốc Mỹ; Thăng đã dời cơ sở làm ăn về Bình Dương mang theo bầu đoàn thê tử tập hai. Mớ thông tin này cũng do các cú điện thoại đường dài bắn vô chứ làm sao mà biết được. Còn bà nội chung của lũ lôm côm hiện giờ ra sao?

Vụ án này lâm ly bi đát. Trong khi mọi thứ về phía mẹ con tôi đã gần như đâu vào đấy sau rất nhiều chiến đấu sinh tử để sống còn, bỗng một hôm nhận được cú phone từ một giọng nữ lạ hoắc pha lơ lớ hai ba miền gọi vào điện thoại bàn, vốn hiếm khi dùng đến kể từ hồi có cái thứ được cho là thông minh hơn:

– Chị Thăng, em là Thảo gọi chị từ chỗ mé anh Thăng nè. Nhè em hồi xưa ở Huỳnh Thúc Khéng cách nhè cô Hai be ceng đó. Giờ anh Thăng giao em trông nom cô Hai. Chao, lúc trước nhỏ xíu em hay rình ngắm chị từ xe. Sao mà chị thanh cảnh xinh đẹp bắt ớn! Giờ chị còn xinh không? Chăm cho mé anh Thăng mấy năm nay em ớ luôn. Chị có việc gì trong Sè Gòn giới thiệu cho em lèm với. Em muốn bứt găn rầu! Ngày nào cô Hai cũng đặp phé, xé quằn xé áo le hét sùi bọt mép kinh lắm…
– Từ từ, từ từ…Mấy chục năm rồi, lâu quá chị không còn nhớ Thảo là ai, nhưng cho chị hỏi thăm sức khỏe …ư…cô Hai. Bà bị sao?
– Bị nghiện thuốc en thằn chi đó, hôm nào không có thuốc thì lèm dữ lắm. Anh Thăng mỗi théng gửi re cho 2 triệu, tiền lương em một triệu, còn lại chi xài cho hai miệng eng. Nhiêu đó đâu có đủ, thành re nhiều khi không có tiền mua thuốc, mè mua hoài các tiệm ở đây họ không chịu bén nữa. Chao, cẻ xóm người te đồn cô Hai bị quẻ báo tại ngày xưa xử bẹc với chị…
– Giờ cô Hai còn ở cái nhà cũ không?
– Đâu có! Anh Thăng bén ceng nhè trong phố, rầu bén luôn ceng ngoài vườn, bén tháo cái xưởng gỗ, nói cằn tiền gắp để mằn ăn. Nhưng em nghe đồn ảnh gom tiền mua nhè bên Mỹ cho mấy đứa con dòng sau. Giờ cô Hai dọn vờ ở trong cái chòi tầu tàn ở xã Bụp. Đồ đẹc bị đặp phé mỗi ngày, đến cái chén đé để ăn cơm cũng chẳng còn. Thay toàn đồ nhựa rầu. Tậu lắm chị. Ảnh cũng chẻng vờ thăm, chỉ gửi tiền thâu. Nghe cô Hai nói ceng nhè mênh mông ngoài vườn lè của bà nậu để lại cho cháu nậu dòng đầu…
– Ư…ư…chị đang bận phải đi. Thảo cho chị số điện thoại để lúc khác chị gọi lại nhe. Cám ơn em cho chị biết tin. Chị sẽ gọi lại…
Tôi ghi vội số của Thảo cho rồi cúp. Choáng váng. Không phải vì con tôi bị chính cha nó sang đoạt tài sản thừa kế.



clip_image003


Mò về xã Bụp huyện Bường Mơn trúng nhằm lúc bão đang đổ bộ miền Trung. Lum khum tay che mưa tay vuốt nước quất nhòe mặt mũi, tôi banh mắt tìm căn chòi theo chỉ dẫn của Thảo. Đó là một căn nhà mái tôn lọt thỏm trong cái hốc cuối hẻm, xây tuềnh toàng lấy có, vách trét xi-măng nham nhở, cửa ván ép bản lề xiêu vẹo nhịp xành xạch như làm nhạc nền cho phân cảnh trong một phim thuần Việt, Xóm Nghèo. Nhà không có phòng, diện tích vuông vức 5m x 5m, ngõ sau mở toác hoác cho gió quật thông thống ra ngõ trước. Không có gì ngoài một cái giường mét hai, một bàn gỗ nhỏ, hai ghế đẩu. Lấp ló phía trong là một tấm ván kê dã chiến trên mấy cục gạch lỗ để làm giàn bếp.


Bà già ốm nhom ốm nhách ngồi lờ đờ trong góc giường có trải chiếc chiếu bông đã sút cả rìa nẹp. Có vẻ như bà chẳng nhìn thấy gì, hai tròng mắt gần như trắng dã hướng mông lung về phía có tiếng chào thưa má. Cựu con dâu chào xong nghẹn họng hết biết nói gì thêm; giọng mình mà nghe lạ hoắc như không phải của mình. Chắc tại lâu quá không gọi ai bằng . Má mình qua đời 15 năm về trước, má chồng thì đã hết vai từ lâu, lâu gấp hai lần số năm mồ côi má ruột. Nhớ lúc mới về, nàng dâu trẻ cương quyết ngậm miệng để khỏi phải thưa thốt gọi cái người dưng vốn chỉ bằng tuổi chị thứ năm của mình, đến nỗi sau mấy tháng căng thẳng bà mẹ chồng chịu hết xiết bèn chì chiết thằng quý tử:
– Thăng è, mầy lấy nhằm con căm rầu!
Thảo ngồi rút chân co ro trên ghế đẩu, người bé choắt, khó thể đoán được bao nhiêu tuổi. Thăng kiếm đâu ra cô này để chăm mẹ già, phải kể là giỏi và may. Không phải người thân trong gia đình mà chấp nhận theo phò thường trực người nghiện đã cao tuổi với lương tháng chẳng bao nhiêu, hẳn đời riêng cũng bế tắc, hoặc có lẽ đang phải trả nợ đời từ kiếp trước. Cả ba người đều im thin thít, y như đang cùng chờ đợi điều chi.

Không có điều chi xảy ra cho đến khi Thảo đứng dậy lọ mọ xuống bếp rót nước mời khách. Nghe tiếng động bà già đang ngồi như tọa thiền bỗng ngã ngửa ra giường, cong hai chân đập phành phạch lên chiếu, rên Trầu âu là Trầu âu, sao khó chết qué! Không biết làm gì tôi lúng túng đến gần thử đặt tay lên ngực bà, liền bị tống một đạp trí mạng té ngồi xuống nền xi-măng. Thảo kêu thất thanh:
– Chết che! Ai biểu chị…
Tôi lồm cồm đứng dậy cười xẻn lẻn:
– Tới giờ cô Hai lên cơn hay cái mặt mẹt của chị kích động bà già?
– Không biết chừng. Mỗi ngày lèm hai be trận, nghỉ mệt rồi lèm tiếp. Cứ để yên cô Hai, ai đụng vô …té réng chịu.

Cũng người đàn bà này mấy chục năm trước còn khỏe mạnh da dẻ hồng hào thần thái sắc sảo, chỉ một tuần lễ sau đám cưới của con trai, đã xô con dâu táng đầu vô cái gờ của bồn chứa nước mưa trước sân, máu me đầm đìa. Giờ yếu rồi. Tung cước theo phản xạ tự nhiên thôi. Nội công sa sút chỉ đủ khiến địch té phịch cách mép giường chưa đầy một mét. Cũng người đàn bà này đã rình rập ngày đêm cửa sổ phòng của tân lang và tân giai nhân, chờ đúng lúc tạm gọi là nhậy cảm liền lôi đầu quý tử ra chửi rủa đánh đập. Dạo ấy thằng con trời đánh hiếu đạo hết chỗ nói, trọng mẹ hơn vợ, sẵn sàng dâng đoản đao cho mẹ hiền đoạn chi tình mẫu tử. Khi nhận ra mình là nhân vật thừa trong bộ ba, tôi cuốn gói lúc đã lặc lè bụng chửa.

Quả báo là sao? Theo một bài viết về đề tài này của tác giả Nguyễn Nhân Trí, nhân quả không thể chứng nghiệm được trong thực tế; nó quá tổng quát đến độ trở thành vô giá trị. Chỉ là một giả thuyết mà thôi, còn nếu là luật thì phải có thể kiểm chứng và đáng tin cậy trong mọi trường hợp. Xưa có lần tôi bất cẩn lùi xe gắn máy, cán đánh bụp con mèo nhỏ xíu nhà hàng xóm. Vụ này xảy ra trong bí mật không ai biết nhưng tôi loay hoay mãi với tội ác rồi tìm cách lý giải cho rằng kẻ ngộ nạn kiếp trước ăn ở sao đó nên mới đầu thai làm mèo, kiếp này hiền lành sao đó nên sớm được hóa kiếp để lại đầu thai làm cái chi nữa không biết. Người vô tình sát sinh chỉ là phương tiện qua đó định mệnh được đưa đẩy và vận hành, chứ chẳng lẽ lại bị lãnh quả dần lân theo hiệu ứng domino?

Trở lại ngồi lên ghế đẩu lúc nãy, tôi vừa ngó bà mẹ chồng đang lắc qua lắc lại kịch liệt cái đầu đã teo nhỏ bằng trái dừa đẹt còn tay chân thì giần giật bức bối như bị động kinh, vừa băn khoăn tự hỏi rồi sao. Mình mò ra đây để chi? Để chuộc tội đã gieo quả đắng dù không cố ý? Để thám thính tình hình thực tế nhằm chu cấp tượng trưng và không đều đặn cho người dưng kẻ lạ dẫu gì cũng là bà nội của con mình? Để chứng tỏ với Thăng mình quân tử Tàu thuộc loại di truyền? Để dằn mặt thằng quý tử vừa bất hiếu vừa ăn cướp cạn? Không biết. Chỉ thấy bị thôi thúc phải đi, phải nhìn thấy tận mắt cái hạt mình đã gieo, và hình như để nhai cắn rệu rạo cái quả chính mình đang hái, như một biệt nghiệp. Chứ chẳng lẽ cả mẹ chồng con dâu cùng cộng nghiệp reo vui mùa thu hoạch?



Trần Thị NgH
NgK, 08.2018
(từ: damau)



*
Mời tìm đọc:

                             Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                                    Click vào:




Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, May 10, 20216:27 AM(View: 49)
Tháng 12 năm 2017, sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch sử” được xuất bản. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), do chính các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan (CSVSQ) của TVBQGVN thực hiện. (link: “giới thiệu sách TVBQGVN – TDLS”). Sau quyển sách trên, rất nhiều CSVSQ của TVBQGVN bày tỏ ước mong được nhìn thấy một tác phẩm viết về TVBQGVN và về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, để giúp cho các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, hiểu biết về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng trước năm 1975. Lý do chiến đấu và hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản để bảo vệ nền Dân Chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam, đồng thời bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó là lịch sử của TVBQGVN và sứ mệnh của người sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam. Để đáp lại niềm mong ước đó, tháng 8 năm 2018,
Sunday, May 9, 20217:22 AM(View: 38)
Từ nghìn xưa cho đến nay – trên quê hương chúng ta – hình ảnh người mẹ là hình bóng thiêng liêng, cao quý nhất… không hết lời ngưỡng mộ trong dòng văn học nghệ thuật. Mẹ từ khi “mang nặng đẻ đau”, cưu mang, nuôi nấng, dạy dỗ khi con chào đời cho đến khi trưởng thành, xa cách và khi về già. Nói đến mẹ là nói đến trái tim nhân bản, hy sinh và thương yêu vô bờ bến cả cuộc đời cho con đến khi nhắm mắt. Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại. Trước năm 1975, ở miền Nam VN không có Ngày Hiền Mẫu, Ngày Của Mẹ… để nhắc đến, để vinh danh, để nhớ vì với người con, hình bóng đó gắn liền với ngày tháng cuộc đời. Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ. Gởi đến mọi người những ca khúc tiêu biểu. Và, thân tặng với những ai không còn mẹ
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 85)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 195)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con
Sunday, April 25, 20218:02 AM(View: 305)
Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước