DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,986,421

Vũ Thư Hiên - Trần Độ: Người của sự thật

Thursday, August 30, 20184:03 PM(View: 792)
Vũ Thư Hiên - Trần Độ: Người của sự thật

Trần Độ
Người của sự thật


blank
Trần Độ (Hình: Dân Làm Báo)



Tôi ra tù cuối năm 1976. Bận bịu với đủ thứ việc để kiếm sống, hai năm sau tôi mới có dịp gặp lại Trần Độ. Ra khỏi cuộc chiến, với tư cách phó chính uỷ kiêm phó bí thư quân uỷ Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, nghe nói anh rất bận, nào tham gia viết quân sử, nào tổng kết kinh nghiệm chiến tranh…, tôi không có ý tìm anh. 
Nhưng rồi anh tìm tôi. Trong bữa rượu hàn huyên đạm bạc chỉ có ba người, ngoài hai chúng tôi còn có một chị cán bộ trẻ, phụ tá của anh. 
Trần Độ có biết tôi vừa ở tù ra. Anh nhìn tôi thương hại: 
– Chắc chú có làm gì sai thì Đảng mới bắt chú chứ. 
Tôi sững người. Vậy ra anh chẳng biết gì về cái gọi là vụ án “nhóm xét lại chống đảng” mà tôi bị đính vào. Tôi dùng chữ “dính vào” như cách người ta nói về một cái khuy áo, một vật chẳng mấy quan trọng cho cái áo, nhất là nó lại là cái khuy cuối cùng. Cái gọi là nhóm này không phải một đảng, , chẳng phải một tổ chức, thậm chí một nhóm thôi cũng chẳng phải nốt. Nhà cầm quyền bịa ra nó, cho một toan tính nào đấy, đặt cho nó cái tên chính thức rất kêu là “Nhóm tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”. 
Kỳ thật, một vụ án ầm ĩ như thế, nhiều cán bộ cao cấp bị khai trừ, bị bắt, bị bỏ tù, trong Đảng có báo cáo, rất nhiều người biết, mà Trần Độ lại không biết. Mà không phải mình anh không biết. Hơn chục năm sau (1988), khi tờ “Truyền thống Kháng chiến” của “Câu lạc bộ Những Người Kháng Chiến Cũ” ra đời ở Sài Gòn, tướng Trần Văn Trà kêu tôi tới nhà anh ở đường Nguyễn Thị Minh Khai (tên mới của đường Pasteur) để bàn chuyện tờ báo muốn tôi tham gia, tôi mới hiểu là cả tướng Trà cũng chẳng biết gì về vụ này. “Hồi đó tôi đang lo đường vận chuyển vũ khí trên biển – Trần Văn Trà nói – Có, tôi có nhận được một thông tin từ Ban tổ chức Trung ương. Thông tin sơ sài, thậm chí tôi không đọc kỹ. Chúng tôi đang bận tối tăm mặt mũi với đủ mọi khó khăn, chẳng ai để ý”.
 
Khiếp thật. Thì ra ngay ở trong Đảng người ta cũng chia ra nhiều cấp, nhiều đối tượng trong việc nhận hoặc không cần được nhận thông tin. Tôi dùng chữ Đảng viết hoa ở đây để chỉ cái đảng độc tôn, cho tiện, chứ không phải với ý khác. 
Tôi cười buồn, nói với Trần Độ: 
– Em có nói gì bây giờ anh cũng sẽ nghĩ là em thanh minh. Tốt hơn hết là ta cạn với nhau chén rượu này, kèm một giao ước: “Anh sẽ xem xét sự việc bằng con mắt của mình, suy xét bằng cái đầu của mình, để rồi có kết luận”. Em chờ câu trả lời của anh trong bữa rượu sau. Anh hứa nhá? 
Anh gật đầu, cạn chén. 
Trần Độ hơn tôi đúng 10 tuổi. Tôi coi mình là đứa em của anh, không dám lắm lời. 
Rồi gần một năm sau mới có bữa rượu thứ hai. 
– Em lắng nghe câu trả lời của anh đây – tôi nói. 
Anh lắc đầu, thở dài: 
– Một lũ chó má! Không thể ngờ. 
Và văng một câu chửi tục, lần đầu tiên tôi nghe thấy từ miệng anh. 
Trần Độ sau đó nhận nhiều chức vụ mới: làm Trưởng ban Văn hoá-Văn nghệ của Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, rồi Phó Chủ tịch Quốc Hội. Đã tưởng anh sẽ còn được giao phó nhiều chức trách quan trọng hơn nữa, nhưng rồi tôi được nghe những tiếng xì xào về chuyện anh đi chệch đường lối, anh có những việc làm không phải (xúi giục tổng bí thư Nguyễn Văn Linh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ, tháo gỡ việc ngăn sông cấm chợ, toa rập với Nguyên Ngọc đưa ra bản “Đề dẫn” về văn nghệ sặc mùi chống Đảng vv…). 
Văn Cao là người rất chăm chú theo dõi thời cuộc, nói với tôi: “Trần Độ thẳng quá, hỏng! Cao Biền dậy non, phí”! 
Tôi đồng ý với Văn Cao. 
Trần Độ được phong trung tướng cùng lúc với Lê Đức Anh, nhân vật sau này làm mưa làm gió trong chính trựờng. Nếu biết xuôi dòng anh rất có thể sẽ lên cao nữa trong hệ thống quyền lực. 
Không ai có thể can ngăn Trần Độ. Anh không phải là nhà chính trị biết lui tới, biết náu mình chờ thời. Anh hành xử thẳng thắn, một mực đấu tranh cho chân lý. Những phát biểu của anh lúc này lúc khác, chỗ này chỗ nọ, làm chối tai những người cầm quyền. 
Mà có phải anh chỉ phê bình sơ sơ chế độ toàn trị đâu. Từ chỗ nhỏ nhẹ, anh dần dần nói trắng ra ý muốn thay thế nó bằng chế độ dân chủ, tam quyền phân lập… Người ta theo dõi anh từng bước, nên những lời nói của anh, dù trong chỗ thân tình, đều được thu thập, báo cáo lên “trên”. 
Những bài viết của anh, không được đăng báo, nhưng được chuyền tay rộng rãi. Chúng làm cho nhà cầm quyền điên ruột. Anh nhanh chóng trở thành “tên phản động”. Thời thế đã khác – người ta không thể bỏ tù anh tức khắc. Người ta chỉ có thể dùng đủ mọi cách hạ uy tín của anh. 
Còn nhớ năm 1997 tôi ở thành phố Strassbourg, chung nhà với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Một hôm, Trần Độ gửi cho tôi bài viết mới của anh, bảo tôi xem lại trước khi công bố. Tôi đưa anh Thiện cùng đọc. Thiện đọc, nói anh không thể hài lòng một số câu chữ trong đó. Khi nói chuyện điện thoại với Trần Độ, tôi đưa ống nói cho Thiện, bảo nhà thơ cứ nói thẳng ý kiến của mình. Thiện bỗ bã: “Không hiểu sao anh vẫn còn có thể dùng những từ “giải phóng”, “Mỹ-nguỵ” trong bài viết, người đọc ở hải ngoại sẽ khó chịu lắm đấy, không hay chút nào”. Anh Độ cười hề hề: “Chết chửa, mình lỡ viết theo thói quen, cậu nhận xét đúng, sửa lại hộ mình nhá”. 
Chuyện Trần Độ bị khai trừ Đảng năm 1999 thì ai cũng đã biết. Đảng cộng sản vốn không thích vạch áo cho người xem lưng cũng đã kiên nhẫn với Trần Độ lắm rồi, nhịn Trần Độ nhiều lắm rồi. Lẽ ra người ta phải khai trừ anh từ lâu. 
Một lần khác, năm 2001, trong một cuộc trò chuyện điện thoại với Trần Độ khi tôi đang ở Frankfurt am Main (CHLB Đức), có mặt một chú em rất hâm mộ bác Độ. Chú này đòi được nói với bác Độ của chú vài câu: “Bác ơi, cái đảng của bác kỳ quá, ai lại chống tham nhũng mà lại chống từ cấp cơ sở? Quét nhà thì người ta phải quét từ tầng trên xuống tầng dưới chứ! Ai lại ngược đời quét từ dưới lên trên?”. Anh Độ cười lớn: ”Hay, chú nói rất hay. Chú chỉ nói sai một chút thôi: cái đảng ấy không phải của tôi. Nó là của lũ vừa ngu vừa rồ. Này, chú tên gì nhỉ?”, “Dạ, cháu tên Cóc, Nguyễn Văn Cóc. Dễ nhớ lắm, bác ạ. Ở Đức này chỉ có mình cháu có cái tên xấu xí ấy thôi”. Anh Độ lại cười to: “Xấu gì mà xấu, cậu ông Giời phán đúng lắm, cái đảng ấy toàn làm lộn ngược thôi!”. 
Anh nói anh bị đảng của anh khai trừ là may. Như thế, anh được rũ khỏi trách nhiệm, anh tránh được “vũng bùn mà cái đảng ấy đang đằm mình một cách sáng tạo”. 
Khai trừ anh đảng cộng sản thêm một lần phô trương cái hẹp hòi của mình, không chịu nghe bất kỳ lời nói ngược nào. Hành hạ anh cho tới khi chết, cấm người đi đưa tang không được dùng chữ “Vô cùng thương tiếc”, đảng cộng sản lại càng cho thiên hạ thấy nó tiểu nhân tới mức nào trong sự hằn thù. 
Đảng của anh khai trừ anh. Bù lại anh được nhân dân đón vào lòng. Anh bị nhà cầm quyền căm ghét. Bù lại anh được tình yêu thương của đồng bào. Anh được rất nhiều, mà không mất gì, nói cách khác, cái người ta quen cho là mất chẳng đáng cái quái gì với anh. 
Khi lâm bệnh, anh không dùng thuốc của nhà nước cấp – anh không tin thứ thuốc từ những người không tử tế. Anh chỉ dùng thuốc đồng bào gửi cho anh. Có hai người rất sốt sắng lo cho anh có thuốc dùng là Tưởng Năng Tiến và Đinh Quang Anh Thái. Khi anh qua đời những bọc thuốc cuối cùng vẫn còn ở trên đường đến địa chỉ của anh. Trần Độ không bao giờ quên nhắn tôi gửi lời cảm ơn hai người bạn thiết anh không biết mặt. 
Được tin anh mất, tôi không khóc nổi. Nước mắt chảy ngược vào tim. Tôi cảm được rằng mất mát này lớn hơn rất nhiều mất mát cho riêng tôi, đứa em yêu mến và kính trọng anh. Mất mát này là của cả dân tộc đang nhọc nhằn, vất vả đi tìm quyền sống, quyền làm người. 
Trong bức thư cuối cùng Trần Độ gửi cho tôi trước khi mất, anh dặn: 
“Giai đoạn chuẩn bị cho sự chuyển đổi chế độ có thể kéo dài. Việc hàng ngày của ta, không được quên, là nâng cao dân trí. Dân trí được nâng cao bao nhiêu thì sự chuyển đổi sẽ thuận lợi bấy nhiêu. Thời cơ đến, việc mới thành. Chuẩn bị tốt thì thành tốt”. 
Thời cơ mà ta chờ đợi sẽ đến, bao giờ cũng bất ngờ, nhưng là quy luật. Như nó đã từng xảy ra cùng với sự kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai đã đưa lại nền độc lập cho các nước thuộc địa. Như nó đã đến với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. 
Nó sẽ đến, như Trần Độ mong ước. 
Ở thế giới bên kia anh sẽ được mỉm cười sung sướng.


                                                           Vũ Thư Hiên
                                                                                                                                                         (từ: DĐTK)

                Nhớ lại lễ tang ông Trần Độ

                                                        

Đọc bài viết Có một đám tang… rất buồn của Trần Thắng, con trai tướng Trần Độ mà anh Vũ Thư Hiên đưa lại trên Facebook, tôi xúc động nhớ lại quang cảnh đám tang 15 năm trước mà tôi là người may mắn được chứng kiến. Đám tang lịch sử này tổ chức vào buổi sáng ngày 14-8-2002 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Trần Độ là một người tôi kính trọng, đã từng được gặp ông mấy lần ở nhà anh Văn Tâm. Ông phải chịu nhiều nỗi oan khiên, những tội danh vô lối đổ lên đầu mà anh em trí thức đều biết cả – như chuyện người ta vu cho ông đến lúc vào bệnh viện rồi vẫn còn… “mê gái”, những kiểu bày đặt không thể nói hết sự tưởng tượng quái gở. Nhưng thuở ấy chưa hề có những công cụ như Facebook để đổi trao, tâm sự, nên cứ phải ngậm thinh rỉ tai thầm với nhau chứ có cách nào cãi lại được báo chí đâu. Bởi thế không ai mách ai mà đám tang ông đông lạ thường. Có lẽ người ta đều nghĩ đây chính là dịp để chính mình được đến giãi bày chút lòng son với linh hồn người vừa nằm xuống.

Có ngờ đâu, đây cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy quyền uy cộng sản hiện ra chát chúa, ở một nơi vốn ra phải nhường bước cho sự trầm mặc của cuộc sống tâm linh. Tôi đi cùng với anh Phan Đình Diệu. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi vòng hoa tang của hai chúng tôi đang định vượt qua cổng vòm ngoài đường Trần Thánh Tông để vào sân nhà tang lễ bỗng bị ngăn lại bất thình lình, và bị giật dải băng đen có mấy chữ Vô cùng thương tiếc tướng quân Trần Độ để thay bằng mấy chữ Kính viếng ông Trần Độ. Đang đứng ngơ ngẩn vì chưa hiểu được vì sao lại có một sự trắng trợn vượt quá hình dung của mình như thế thì một vòng hoa sang trọng hơn lù lù tiến vào và cũng bị giật giải băng để cắt cụt đi đúng mấy chữ như của chúng tôi, còn vứt luôn cả hai mảnh nhựa hoa văn thếp nhũ vàng trang trí hai bên xuống đất. Đó là vòng hoa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Biết ngay có lệnh trên ban xuống, tình thế nghiêm trọng rồi, hai chúng tôi đành chịu bất lực theo dòng người mà đi.

Khi lễ viếng đến chỗ đọc điếu văn, nghe ông Vũ Mão xướng lên những câu phê phán chói tai, cả phòng tang gần 2000 con người bỗng im phăng phắc, người nào cũng cảm thấy nghẹt thở, tưởng như có một cái gì sắp vỡ bùng. Bức bối vì không ai chuẩn bị trước cho mình tâm lý đến đây để dự nghe một cuộc… kiểm thảo. Thế rồi con trai vị tướng, cũng là một sĩ quan, bước lên đáp lễ, rút tờ giấy ra đọc những lời viết sẵn, giọng đọc đều đều vô cảm, làm mọi người càng dồn nén thêm. Gần cuối, đột nhiên thấy anh ngẩng đầu lên, nhìn xuống phía người dự lễ và nói một câu dõng dạc: “Thay mặt gia đình, chúng tôi không chấp nhận lời điếu tang của Quốc hội vừa rồi”. Ôi chao! Trái bom đã nổ! Hàng tràng pháo tay vang lên ngay lập tức, lần đầu tiên thấy ở một đám tang. Tôi nhìn sang bên, rất nhiều khuôn mặt ràn rụa nước mắt, trong khi tay vẫn vỗ không ngừng.

Từ một phía ở góc phải phòng, một tiếng nói rất to phát ra, nghe rất dõng dạc, của một người đã trèo lên chiếc ghế: “Như thế này thì còn nhân nghĩa nào nữa! Nhân nghĩa ngàn đời của đất nước Việt Nam còn đâu!”. Người nói nhắc lại đến hai lần cùng một câu, lần sau nghe vang hơn lần trước. Cả phòng tang lễ như chùng xuống rồi vỡ òa, tiếng xôn xao khắp từ đầu đến cuối. Rồi một người khác, cũng trèo lên ghế, mặc áo quân nhân, huân chương đeo đỏ ngực từ trên xuống dưới: “Tôi là người theo trận mạc với Anh Trần Độ trong bao nhiêu năm, sáng nay chính mình tự tay khâm liệm cho Anh. Thế mà dám có những lời xỉ vả Anh như thế à? Vũ Mão đâu rồi? Khi chúng tôi ở trong quân ngũ thì hắn còn trẻ ranh, đi học ở Nam Ninh…”. Tôi thoạt liếc lên phía góc trái quan tài, chỗ dành cho Ban tổ chức, kịp nhìn thấy một cái bóng com-lê rảo chân nhanh ra lối cửa ngách. Cả đám tang đông nghẹt bấy giờ trở nên nhộn nhạo vì đã đến giờ đi quanh linh cữu. Đám an ninh thường phục cũng đảo qua đảo lại rộn rịp hơn. Dòng người nối đuôi nhau không dứt, sau đó lần lượt kéo ra khỏi phòng.

Tôi vẫn theo dõi người mặc áo quân nhân vừa lên tiếng lúc nãy. Dáng người vậm vạp, ông ta đi dần ra cửa, xung quanh có nhiều người vây lấy, mặt nở một nụ cười đôn hậu, giọng vẫn oang oang: “Nói thế nhưng đụng vào nó làm gì, cái đồ trẻ ranh ấy…”. Và ông tiếp tục cười khà khà. Tôi cũng đi sau ông. Chợt nhìn thấy phía trước mình bước chân thủng thẳng của ông Hoàng Minh Chính. Tôi ngẩng lên: đúng là ông. Ông đang lặng lẽ đi trước tôi. Chúng tôi né sang bên nhường cho linh cữu đi lên trước và vô tình theo nhau ra đến ngoài sân, tạt dần về phía những hàng ghế dưới bóng cây. Tự nhiên tôi nhìn rõ ra cái người đã trèo lên ghế lên tiếng đầu tiên đang đứng ở đấy. Ông ta cũng trạc tuổi ông Hoàng Minh Chính và cũng gầy gầy như thế. Thoạt trông thấy nhau, hai ông có vẻ như ngờ ngợ. Rồi chỉ một phút thì họ cùng kêu lên: “Có phải Chính không?” “Đúng mình Chính đây”. “Tôi là Hà đây mà. Hoàng Hữu Hà, Thường vụ Thành ủy lúc đón anh đi đánh sân bay Gia Lâm trở về”. Thế là họ cầm lấy tay và rồi chậm chạp ôm lấy nhau… Để nén một cái gì đấy, tôi rảo bước thật nhanh.

Lúc ra đến tận cổng sát ngoài đường tôi mới gặp lại Phan Đình Diệu. Cả hai cùng lên một chiếc taxi vì về chung một hướng. Trên xe, Diệu mỉm cười, một chốc ngoảnh sang nói với tôi bằng giọng kim quen thuộc của anh: “Quyền uy lần đầu va phải một cú, cũng ra dáng đấy. Một cú ở ngay chính nơi làm nên cái oai phong cho nó”.


27-8-2018

Nguyễn Huệ Chi
(từ: VV)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, May 25, 20198:01 AM(View: 67)
Tô Thùy Yên đến với văn học trên “Cánh đồng Con ngựa Chuyến tàu”, bài thơ làm năm 1956, đăng trên báo Sáng Tạo thời đó và được độc giả hoan nghênh ngay, nhất là trong giới thanh niên, học sinh. Thời ấy sinh viên chưa nhiều, quần chúng văn chương còn thưa thớt, một thế hệ độc giả mới đang chớm thành hình. Với thời gian nhìn lại, bài thơ có thể xem là một sự kiện văn học vì lời thơ tân kỳ, ý thơ mới lạ, không giống một bài thơ nào khác trước kia mà đã được người đọc không chuyên môn văn học yêu thích ngay. Chuyện hiếm, vì công chúng Việt Nam nói chung là thủ cựu. Chuyện đẹp, vì bài thơ của tác giả 18 tuổi đi thẳng đến độc giả 18 tuổi. Ngày nay Tô Thùy Yên là tác giả danh tiếng. Bài thơ thanh xuân được những lớp phù sa bồi thêm nhiều ý nghĩa mới. Trên cánh đồng hoang thuần một màu, Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi Tàu chạy mau mà qua rất lâu. Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau. Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu. (…) Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn. Ngựa gục đầu,
Wednesday, May 22, 20199:26 PM(View: 128)
Trong thời kỳ hai mươi năm của thơ miền Nam, và giai đoạn kéo dài của nó, Tô Thùy Yên giữ một vị trí rất đặc biệt (*). Đó là người khởi đi từ giai đoạn khai phóng đầu tiên, những năm 60, với sự nổi loạn chống ảnh hưởng của văn học tiền chiến. Nhà thơ của chiến tranh Việt Nam, của những suy nghiệm triết học, nhà thơ của những ngày tù tội cải tạo, và cuối cùng của giai đoạn lưu vong. Đời sống của ông đầy biến động. Tô Thùy Yên lúc nào cũng chăm chú sống cuộc đời mình, để tâm hồn rung lên theo nhịp điệu của thời thế. Nhưng đó không phải là thơ thời sự hay thơ trữ tình thế sự. Đó là một loại thơ trữ tình thực sự, tuy vậy mang dấu ấn lịch sử. Trong khi tuân thủ nghiêm ngặt một số quy ước về vần điệu, sở trường nghiêng về thơ có vần hơn là về thơ tự do, Tô Thùy Yên vẫn sở hữu một ngôn ngữ vừa truyền thống vừa mới lạ. Sự chọn chữ, cách thiết lập câu thơ, âm điệu và từ vựng trong từng bài thơ, tạo nên phong cách riêng, một phong cách của tài hoa dụng ngữ. Thơ Tô Thùy Yên có ba giai đoạn:
Monday, May 20, 20199:44 AM(View: 202)
Từ ngày hai vợ chồng về hưu, thì giờ như nhiều ra. Mấy đứa con gắn cable, mua TV đời mới, màn ảnh rộng, gắn trên tường. Thường ngày, mỗi buổi sáng, sau khi đi bộ chừng nửa giờ quanh xóm, thầy bắt đầu theo dõi thị trường chứng khoán, mua bán cổ phần các công ty. Thầy ăn cũng nhiều, mà thua cũng lắm. Thầy coi đây như một thú vui, cũng là cách thử thách sự nhạy bén của trí tuệ. Thầy vẫn thường tự hào sau hơn hai mươi năm trong thị trường, thầy về hưu với tình trạng tài chánh tương đối khá, một phần nhờ vào đầu tư. Bà Hiên không hiểu nhiều về cái gì gọi là đầu tư, tiền kiếm được sau bao năm lăn lộn trong nghề nail, bà nhốt hết vào mấy cái CD và trương mục tiết kiệm của ngân hàng, tiền lời dư cho bà mua mấy băng hay dĩa phim truyện bà thích, hay thỉnh thoảng về Việt Nam thăm bạn bè và bà con. Thầy cũng chẳng phản đối gì việc làm của bà, vì thầy cho rằng, bà có quyền hưởng thụ thành quả công việc của bà sau hơn hai mươi năm nơi xứ người. Công bình mà nói, công sức của bà nhiều hơn của thầy,
Friday, May 17, 20196:27 PM(View: 73)
Những bản giao hưởng tuyệt vời của Berlioz, Schuber, Mendelssohn, Tchaikovsky, Dvorak… đã làm thăng hoa thể loại âm nhạc nầy. Sở dĩ thể loại nầy trước đây được “gán ghép” là nhạc bác học, nhạc hàn lâm, nhạc quý tộc vì thời đó khi trình diễn chỉ hạn chế cho số người quyến quý và giàu có. Ở VN trước đây và trước năm 1975 ở miền Nam VN quan niệm rằng thể loại nầy thuộc âm nhạc bác học (hàn lâm) nhưng thời gian gần đây ở trong nước lại phủ nhận. Nếu tranh cãi thì rất dài dòng văn tự và coi như “nói chuyện với đầu gối” nen miễn bàn! Thưởng thức nhạc cổ điến Tây phương cũng đòi hỏi thêm phần kiến thức về nhạc sử, tiểu sử nhà soạn nhạc mới cảm nhận được trường hợp và môi trường sáng tác. Bây giờ thì loại “trưởng giả học làm sang” tham dự các cuộc trình diễn âm nhạc cổ điển như “đàn gãy tau trâu” cũng nhan nhản! B: Âm nhạc dân gian, trong một bài viết ghi nhận: “Đây là một nguồn cảm hứng lớn cho nhiều nhà soạn nhạc khác. Tại nước Anh, Vaughan Williams trộn lẫn những âm thanh của những bài
Wednesday, May 15, 20197:45 PM(View: 81)
Họ ở trước mặt tôi. Hẳn nhiên là như vậy. Họ có mười người, năm mươi hay năm trăm người, tôi không biết nhưng nhất định phải hơn một người. Tôi đã cảm nhận được điều đó qua sức nóng hừng hực của bầu không khí chung quanh bằng cảm xúc của mình ngay khi được tên lính canh dẫn ra quảng trường này. Bóng tối ở đây cũng dày đặc như những lần tôi bị lấy khẩu cung trong căn phòng nhỏ nóng bức, nhung nhúc chuột, dán. Hôm nay tôi được dẫn theo một lối đi khác với lối đi mọi ngày. Nó dường như dài hơn, quanh co hơn. Có đoạn tôi cảm tưởng như đi qua một trại nuôi súc vật, một con đường gập gềnh nhiều dốc rồi đến một bãi đất trống thường làm nơi họp chợ, một công viên nhiều hương thơm hoa trái trong tiếng nước chảy róc rách của một cái bồn nước. Tôi chưa từng đặt chân đến con đường này bao giờ mặc dù thành bang này không hề to lớn. Họ đưa tôi đi đâu? Phóng thích hay hành quyết? Tôi chẳng hề nghĩ nhiều đến việc này trong suốt thời gian bị giam cầm, nhưng bây giờ đối mặt với tình huống khác thường