DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,825,179

Thế Uyên - Nghĩ Trong Một Xã Hội Tan Rã

11 Tháng Mười 20181:15 CH(Xem: 165)
Thế Uyên - Nghĩ Trong Một Xã Hội Tan Rã

Nghĩ Trong Một Xã Hội Tan Rã


 

Image result for qlvnch



Việt nam qua Quân Lực


Một giờ đêm ngày 22 tháng 5 năm Ất Dậu 1885, Tôn Thất Thuyết cho bắn một phát làm hiệu lệnh cho quân đội tấn công vào đồn Mang Cá và sứ quán Pháp tại kinh thành Huế. Đây là trận chiến sau cùng của quân lực chính qui Việt Nam, dưới lệnh của một chính quyền Việt Nam chống lại một quân lực ngoại xâm đang nỗ lực tước đoạt trọn vẹn chủ quyền quốc gia của người Việt. Sự thảm bại của quân lực Việt trong trận đánh này đánh dấu sự mất chủ quyền của người Việt trên toàn lãnh thổ về phương diện chính trị.

Một giờ đêm ngày nào đó trong núi rừng Việt Bắc năm 1914, Hoàng Hoa Thám bị hai người đánh mướn cho quân Pháp hạ sát trong khi nằm ngủ cạnh đống lửa. Cái chết âm thầm và cô đơn này đánh dấu sự mất chủ quyền của người Việt trên toàn lãnh thổ về phương diện quân sự đồng thời cũng đánh dấu sự chấm dứt truyền thống quân sự có từ thời lập quốc của người dân nước Việt.

Sau đó, để duy trì chế độ thuộc địa dễ dàng người Pháp tìm cách phá hủy uy tín cổ xưa của người quân nhân Việt và triệt tiêu tinh thần thượng võ của thanh niên Việt bằng nhiều phương cách: khai thác khéo léo tinh thần trọng văn khinh võ của giới sĩ phu manh nha từ thời Minh Mệnh, mang những cấp bậc chỉ huy trong quân lực Việt Nam xưa như Cai, Đội, Quản đặt cho những chức vụ trong hàng hạ sĩ quan và binh sĩ của đạo binh khố xanh khố đỏ… Đôi khi họ còn tiến xa hơn nữa là mang những quân hàm của triều đình Huế phong cho bồi bếp lao công phục vụ trung thành… Họ đã thành công trong âm mưu này đến nỗi trong gần hết tiền bán thế kỷ hai mươi, trong khi thế giới sôi sục trong việc tìm kiếm binh thuyết mới, chế tạo vũ khí mới thì tại Việt Nam,gần như không có một người nào đủ kiến thức và khả năng để tổ chức và chỉ huy một tiểu đoàn.

Sau khi cuộc cách mạng văn hóa Đông Kinh Nghĩa Thục phát khởi, một số nhỏ thanh niên phản tỉnh đã chọn lựa võ nghiệp trong phong trào Đông Du. Khi Tôn Dật Tiên cho lập trường võ bị Hoàng Phố với chỉ huy trưởng Tưởng Giới Thạch và chính ủy Chu Ân Lai, trong các khóa sinh khoá đầu tiên, đã có hai người Việt Nam. Chính những sĩ quan Việt tốt nghiệp trường này đã thành lập các đạo quân đầu tiên của Việt Nam sau một thế hệ không có người quân nhân Việt đích thực nào vào những năm 1930 -1940. Đạo quân đầu tiên tên gọi Phục Quốc quân dưới quyền chỉ huy của Trần Trung Lập, đã xuất trận vào năm 1940, đánh những tiền đồn của quân Pháp tại biên giới Hoa Việt. Sau một vài thắng lợi ban đầu, Phục Quốc quân bị thất trận và tiêu diệt sau khi vì kém lãnh đạo, cấp chỉ huy chính trị đã không trù liệu tới sự cấu kết giữa thực dân Pháp và quân phiệt Nhật. Nỗ lực quân sự cách mạng này của đạo quân đầu tiên không có giá trị gì hơn là đánh dấu sự khôi phục truyền thống quân sự của người Việt, truyền thống đã giúp quốc gia Việt Nam đánh đuổi bao nhiêu đạo quân xâm lăng từ phương Bắc và từ miền cận tây.

Vài năm sau, giáo sư Võ Nguyên Giáp trong rừng già Việt Bắc bàn tính thành lập trung đội đầu tiên của cái Quân lực về sau mang tên từ Vệ quốc đoàn cho tới Quân đội Nhân dân. Cũng trong khoảng thời gian ấy, các sĩ quan tốt nghiệp Hoàng phố lại phối hợp với các đảng cách mạng quốc gia lưu vong thành lập những đơn vị võ trang mới đặt trong khuôn khổ từng đảng họ đã gia nhập. Phía Cộng sản lập Quân lực chậm hơn, nhưng đường lối chỉ đạo của Đảng vững chắc, khôn ngoan và sáng suốt hơn cho nên suốt từ 1942 tới khi đệ nhị thế chiến kết liễu, trên lãnh thổ Việt nam chỉ hiện diện đáng kể có đạo quân của giáo sư Giáp. Và nhờ ở sự lãnh đạo già dặn của Hồ chí Minh, nhờ ở sự trợ giúp ban đầu về tài chính và vũ khí của Hoa kỳ qua cơ quan OSS (tiền thân của CIA hiện nay) khi xẩy ra xung đột võ trang giữa những người quốc gia và những người cộng sản vào những năm 1945 – 1946, quân lực của Võ Nguyên Giáp đã tiêu diệt được những đạo quân của người quốc gia. Kể từ 20 giờ đêm 19 tháng 12-1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ thì những thanh niên yêu nước chỉ còn một đạo quân để gia nhập là đạo quân đặt dưới quyền chỉ huy của vị giáo sư trung học này.

Tới 1950, sau khi Mao Trạch Đông đưa hồng quân tới biên giới Hoa Việt, người Pháp khoác cho cuộc chiến tranh thực dân của họ một mầu sắc lý tưởng: bây giờ là cuộc chiến của thế giới Tự do chống lại “bọn quỉ đỏ”. Tướng De Lattre ra tay thành lập một đạo quân quốc gia Việt nam bằng cách thu nhặt những hậu thân của lính khố xanh, khố đỏ, lính đánh mướn gốc Việt… thành những tiểu đoàn đầu tiên, đặt dưới quyền những sĩ quan, hạ sĩ quan Pháp gốc Việt trong đạo quân viễn chinh Pháp, tăng cường sau này bằng những sĩ quan tốt nghiệp trường võ bị Dalat và Nam định. Chính cái đạo quân tướng De Lattre đặt tên là FAVN ấy, đã là tiền thân của Quân lực Việt nam Cộng hòa ngày nay.

Bị kẹt về chính trị, người Pháp phải chọn giải pháp Bảo đại, cho thành lập một chính quyền quốc gia Việt nam trong khu vực do đoàn quân viễn chinh chiếm đóng. FAVN tới đây được chính thức hóa thành cái gọi là Quân lực của cái mệnh danh là Quốc gia Việt Nam. Lệnh động viên được ban hành, trường Võ bị Thủ đức được mở rộng, cuộc chiến tranh Việt – Pháp được chuyển sang một giai đoạn mới mang mầu sắc tranh chấp ý thức hệ quốc tế.

Tháng 7-1954, Quân lực của tướng Giáp nhờ sự trợ giúp vũ khí của Trung cộng, thắng trận Điện biên phủ, giải phóng miền trên vĩ tuyến 17 khỏi mũi súng gót giầy của quân lực ngoại xâm. Một thời gian sau, ông Ngô Đình Diệm, nhờ ở sự trợ giúp của Hoa kỳ, đã đưa tiễn được những tiểu đoàn sau cùng của đạo quân viễn chinh Pháp đi từ công trường Chiến sĩ tới bến tầu để rời khỏi miền Nam vĩ tuyến 17. Như vậy, nhờ xương máu của bao người Việt gục xuống kể từ khi hai anh em Tôn thất Đạm, Tôn thất Thiệp những sĩ quan chính quy sau cùng của Việt nam vung những đường gươm chót, nước Việt Nam của tiền nhân để lại từ ải Nam quan đến mũi Cà Mau mới không còn bóng dáng quân nhân cầm súng da trắng. Công cuộc giải phóng đất nước khởi đầu từ Phong trào Văn thân, đến đây mới được kể là hoàn tất.

Nhưng hoàn tất với hai quốc gia trong một nước. Hồ Chí Minh và đảng Lao động củng cố quốc gia thứ nhất mang danh hiệu Việt nam Dân chủ Cộng hòa với một đạo quân chiến thắng tinh nhuệ, với chiến công hiển hách Điện biên phủ của tướng Giáp.

Ông Ngô Đình Diệm và những người không Cộng sản củng cố một quốc gia thứ hai mang danh hiệu Việt Nam Cộng hòa với một đạo quân ô hợp, đầy mặc cảm vì đã chiến đấu nhiều năm không lý tưởng đích thực và còn chia sẻ nỗi niềm thất bại của Quân lực Đồng minh cũ là đoàn quân viễn chinh Pháp.

Vào một tháng cuối năm 1956, chính quyền miền Nam từ chối thực hiện điều khoản tổng tuyển cử trong một hiệp ước họ không hề ký kết. Những người lãnh đạo miền Bắc ước tính tình hình, nhận thấy rằng những giai tầng cầm quyền miền Nam không thể thực hiện nổi bất cứ một cuộc cách mạng nào, không thể tạo một chế độ xã hội nào khác hơn chế độ thực dân bản xứ, bèn quyết định làm lan rộng chế độ miền Bắc cùng phương thức cách mạng kiểu cộng sản lên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Phương lược được mang ra sử dụng là sách lược mang tên “Chiến tranh Cách mạng hay Chiến tranh Nhân dân” bắt nguồn từ binh thuyết du kích chiến của Nga sô và chủ thuyết cách mạng nông thôn của Mao Trạch Đông. Các cán bộ nằm vùng bắt đầu đào lại hầm trong mật khu cũ thời kháng chiến, các cán bộ tập kết được huấn luyện lại trở về quê hương hoạt động. Giai đoạn thứ hai của sách lược Mao Trạch Đông bắt đầu biểu hiện vào năm 1960 với sự thành lập cái thường danh xưng là Mặt trận Giải phóng Miền Nam.

Chính quyền miền Nam, cùng các cố vấn Hoa kỳ không am hiểu nhiều về sách lược ấy, không thể đối phó lại nổi. Họ cũng đã nỗ lực đưa ra vài cố gắng hợp lý như đoàn cán bộ Công Dân vụ, quốc sách Ấp Chiến lược nhưng không đạt được kết quả mong đợi, bởi vì yếu tính của giai cấp phong kiến mại bản lãnh đạo không cho phép, và quan trọng hơn là bởi vì Quân lực Việt nam không có khả năng thích ứng.

QUÂN LỰC VIỆT MIỀN NAM KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG bởi vì nhiều lý do:

Lý do quan trọng nhất là LÝ DO NHÂN SỰ. Khả năng một quân đội thế nào, có thể chỉ căn cứ vào sĩ quan đoàn mà suy đoán ra được, nhất là căn cứ vào các sĩ quan cao cấp.

Phân tích thành phần này, sự kiện đầu tiên đáng chú ý là hầu hết các tướng lãnh đầu tiên là do Pháp huấn luyện và để lại. Một phần nhỏ là các thanh niên đã tình nguyện theo học tại các trường Võ bị Pháp và đã là sĩ quan ngay trong hàng ngũ chính qui của Quân lực Pháp. Một phần khác đông hơn gồm các thanh niên theo học võ bị tại Việt nam ở các trường Tông, trường Thiếu sinh quân. Phần thứ ba gồm các cựu hạ sĩ quan trong đạo quân trước thường được gọi là khố xanh khố đỏ. Họ giống nhau không những xuất xứ từ cùng nguồn, còn giống nhau ở nhiều điểm khác nữa: kém kiến thức tổng quát và kém cả về khả năng quân sự nữa, nhất là thành phần sau.

Về tinh thần họ cùng chung nhau một đặc điểm là thân Pháp và có một tinh thần yêu nước khá mờ nhạt. Tâm trạng của thành phần sĩ quan cao cấp này trước 1954 là tâm trạng người lính đánh mướn điển hình.

Ý thức chống Cộng nếu đã có như chúng ta thấy hiện nay, là cái đến sau. Với từng ấy yếu tố cấu tạo, những sĩ quan đó nói chung chỉ đủ khả năng chỉ huy một sư đoàn của một đạo quân chính quy trong khuôn khổ một chiến tranh cổ điển là tối đa.

Chính họ đã góp phần lớn nỗ lực vào công cuộc hình thành Quân lực Việt nam, một thứ quân lực y hệt quân lực Pháp – sau lai Mỹ, hay nói cho rõ hơn, là một đạo quân kỹ thuật và nhà nghề tách rời với đại chúng. Những người giỏi nhất trong lớp sĩ quan này, cũng chỉ bằng một tướng lãnh trung bình của đạo quân viễn chinh Pháp, đạo quân đã thất trận trước Võ nguyên Giáp…

Với những cấp chỉ huy như thế và với thành phần lãnh đạo chính trị là những ông quan già, công chức cũ của phủ Toàn quyền Đông dương, tất nhiên Quân lực miền Nam tụt thang chiến bại theo tỷ lệ thuận với thời gian trước đạo quân thường được gọi là Việt cộng.

Tới 1-11-1963 chính các tướng lãnh đã phân tích trên, với sự trợ giúp của một số sĩ quan cấp úy, đã lên thay thế các ông quan già, các cựu công chức thời Pháp. Thay thế, nhưng không làm hơn được vì đã không có tài của danh tướng, họ cũng chẳng có cái đức độ cá nhân của người đã chết, và cũng chẳng biết cách mạng là cái gì, họ đã để sĩ quan đoàn cùng quân sĩ miền Nam tiến sâu thêm trên con đường thảm bại.

Các cố vấn Hoa kỳ tất nhiên phải tìm cách cứu vãn. Ngay sau khi một vài nhân viên của Hội đồng tướng lãnh biểu lộ ý muốn chọn lựa giải pháp của các quan thầy cũ người Pháp, các cuộc chỉnh lý xẩy ra liên tiếp. Hết vị này đến vị khác thay nhau cầm quyền để rồi kế tiếp nhau lên đường đại sứ cố định và đại sứ lưu động, nhường quyền lại cho một lớp sĩ quan khác trẻ hơn và có yếu tố tạo khác hơn.

Đa số sĩ quan lớp sau có xuất xứ đa số từ trường Võ bị Thủ đức và Đà lạt, giống nhau ở điểm nhập ngũ sau khi có lệnh động viên và thành lập FAVN của thống tướng De Lattre, đều là cấp tá vào những tháng cuối năm 1963.

Họ thuộc giai tầng trí thức tiểu tư sản, có kiến thức khá hơn và có lòng yêu nước sâu đậm hơn. Họ chỉ vào quân đội sau khi đảng Lao động phát động phong trào cải cách ruộng đất vào những năm 1950 nên có ý thức chống cộng khá rõ rệt và thường không ưa người Pháp – những kẻ đã dồn họ vào thế cầm súng vô vọng như những lính lê dương suốt từ 1950 đến 1954. Và cũng bởi vì được huấn luyện bởi phái đoàn cố vấn và tu nghiệp tại Hoa kỳ, họ thân đồng minh Mỹ hơn thân với cấp chỉ huy cũ người Pháp.

Một vài người khá nhất trong lớp này hiểu rõ tương quan giữa chính sách chính quyền và tinh thần Quân đội, biết rằng cần phải làm một cuộc cách mạng xã hội mới hi vọng leo thang chiến thắng và cứu vãn miền Nam. Nhưng chỉ ý thức lờ mờ vậy thôi bởi vì chưa bao giờ bỏ nhiều công nghiên cứu, họ không biết phải làm điều phải làm như thế nào. Hơn nữa, cũng không có ý chí quyết liệt phải làm cách mạng cho bằng được. Vì thế, sau một vài nỗ lực nhỏ thất bại, họ buông xuôi mọi việc để cầm quyền bính quốc gia như xử lý thường vụ một đơn vị.

Tất nhiên Quân lực Việt nam tụt thang chiến bại theo tỷ lệ thời gian, và tới đầu năm 1965, mặc dù họ cố gắng che đậy dấu diếm người dân miền Nam cũng biết rằng Quốc gia Việt nam sẽ tan rã trong vòng trên dưới một năm. Những trận đánh sau cùng đã mở màn.

Không thể để miền Nam lọt vào vùng ảnh hưởng của Cộng sản, người Mỹ không còn cách nào khác hơn là mang quân đổ bộ trực tiếp can thiệp. Sau khi ngăn chận được thế công của Việt cộng, người Mỹ bắt đầu sa lầy.

Lý do rất giản dị là họ không am hiểu bản chất cuộc chiến họ tham dự. Họ cứ tưởng là thêm một sư đoàn là thêm sức mạnh võ trang cho miền Nam. Nhưng thực tế ngược lại. Quân lực Mỹ với quan niệm và tổ chức cổ điển về chiến tranh, đã mang đô la và vật chất đổ vào Việt nam, trực tiếp tạo ra sự suy sụp của xã hội người Việt vốn đã phân hóa và mỏi mệt. Mỗi người lính Mỹ trung bình mang vào quốc gia khốn khổ này 1000 mỹ kim một năm, một số tiền thừa đủ để tạo ra một cô gái điếm, một thông ngôn, thông dịch, một lao công và một người lính Việt xuống tinh thần chiến đấu. Hậu quả là đến khi mang vào một quân số hơn quân số chính quy của người Việt, người Mỹ mới nhận ra là họ phải lãnh đủ gánh nặng nhất của chiến cuộc. Bực dọc và thất vọng, họ đổ lỗi cho người bạn đồng minh bản xứ là lười biếng, là thiếu tinh thần chiến đấu, là ỷ lại… và khen đối thủ VC hết lời trong khi VC thì cũng vẫn một thứ người Việt Nam ấy. Một sĩ quan Hoa kỳ cố vấn cho một đơn vị địa phương quân Việt Nam đã phải thốt ra câu hỏi: Tại sao cùng quê quán võ khí tốt hơn, yểm trợ mạnh hơn, đại đội Việt Nam lại thua đại đội Việt Cộng?… Nhưng người Mỹ mới chỉ biết ngạc nhiên, chưa hiểu tại sao lại như thế.

Cũng chính vì không hiểu sách lược chiến tranh cách mạng của kẻ địch, người Mỹ vẫn tiếp tục ước tính tình hình theo các tiêu chuẩn dạy trong các trường Cao đẳng Quân sự Tây phương. Về quân số, họ đếm đầu quân dịch phỏng chừng bao nhiêu đó rồi mang quân thêm vào Việt Nam theo tỷ lệ thuận địch 1 ta 5 hay địch 1 ta 10 để nắm phần ưu thắng. Rồi hàng tuần hàng tháng họ cộng những xác định lại, đem trừ với tổng số ước lượng để trù ngày tận diệt tới tên địch cuối cùng. Nhưng họ đã ngạc nhiên sau khi loại bỏ số quân Bắc Việt tăng viện, họ thấy đạo quân họ gọi là “Vi xi” mỗi ngày nếu không đông thêm thì vẫn giữ nguyên quân số như có phép hồi sinh.

Đến đây người Mỹ, vẫn chưa chấp nhận là họ đã lầm lẫn ngay từ nguyên tắc chỉ đạo, từ sách lược chiến tranh của họ tại Việt Nam. Từ lâu rồi, từ ngay khi họ nỗ lực giúp chế độ ông Diệm thành lập những sư đoàn đầu tiên, họ không hiểu, hay không muốn hiểu, rằng cuộc chiến tranh Việt nam thực chất là chính trị, và nỗ lực võ trang của Việt cộng chỉ là một diện trong nhiều diện đấu tranh khác nhau mà thôi. Họ không hiểu, hay hiểu mà không đến nơi đến chốn, rằng thắng Việt cộng thì chỉ còn một trong hai cách: Cách thứ nhất là nếu không muốn ném bom A hay H san phẳng Việt Nam thành bình địa, thì phải tổng động viên toàn quốc Hoa Kỳ trong mười năm liền như thế nào trong khoảng thời gian ấy, mỗi thước vuông đất Việt, phải có một người lính ngồi canh giữ ngày đêm. Cách thứ hai là phải quan niệm lại từ nguyên tắc chỉ đạo chiến tranh của mình để đề ra một phương lược và chiến lược mới trên căn bản chính trị.

Phương sách này phải bắt đầu từ chỗ người Mỹ phải dứt khoát từ bỏ mọi quyền lợi kinh tế hiện tại và tương lai, mọi tham vọng mang phổ biến cái gọi là “American way of life” tại phần đất này. Sau đó, mới tìm cách làm sao giúp người miền Nam chiến thắng – vì chỉ có người VN mới thắng được Việt cộng mà thôi. Muốn thế, người Mỹ phải giúp người VN thực hiện một cuộc cách mạng xã hội theo đúng nghĩa của danh từ, hay ít nhất cũng đừng gián tiếp ngăn cản người Việt làm cuộc cách mạng ấy bằng cách tiếp tục giúp thế lực và phương tiện cho những thực dân bản xứ đang khống chế xã hội miền Nam.

Nếu cuộc cách mạng xã hội thực hiện, quyền hành tối cao sẽ thuộc về lớp người mới trong sạch hơn, guồng máy hành chánh sẽ giảm thối nát và tăng hiệu năng. Và nếu Quân Lực thanh lọc được những sĩ quan hủ hóa đang cấu kết với mại bản xứ lo làm giầu, quân sĩ mới nức lòng đánh Cộng. Nói thoáng qua thì giản dị như vậy. Để tránh ngộ nhận danh từ, cuộc cách mạng mang lại kết quả như trên phải là một biến cố lớn như thế nào để thay đổi không những cơ cấu chính trị và cơ cấu kinh tế xã hội miền Nam, mà còn là thay đổi cả giai tầng lãnh đạo của xã hội đó nữa.

Một cuộc cách mạng quan niệm như thế khó được một người Mỹ trung bình quan niệm nổi và chấp nhận được. Nhưng phải có cuộc cách mạng ấy mới thắng được Cộng sản – tất cả chiến tranh và quốc gia Việt miền Nam tùy thuộc ở vấn đề này.
Nếu người Mỹ không chịu hiểu như thế, hay hiểu mà vì quyền lợi ngăn cản không muốn làm, thì sau cùng một trong hai trường hợp sau sẽ xẩy ra (*).

Một là cuộc chiến sẽ kéo dài cho đến khi nhân dân Mỹ mỏi mệt đòi phải rút quân về, bỏ mặc Nam Việt Nam cho một tiền thân của chính phủ Cộng sản là chính phủ liên hiệp nào đó. Hai là nếu người Việt Nam dù bị người Mỹ ngáng trở, vẫn làm được cách mạng xã hội rồi từ đó tiến tới chiến thắng Cộng sản thì không những quân sĩ Hoa kỳ tử trận ở Việt Nam không có giá trị gì nhiều mà những người còn sống sẽ có lúc chua xót ngậm ngùi khi thấy sau khi đổ bao nhiêu máu bao nhiêu tiền trên phần đất này để rồi sau cùng xuống tàu về nước với những lời tiễn đưa “Yankee go home!”

                                                                         
                                                                                      
                                                                        Thế Uyên

                                                                                        (từ: damau)

(*) Tập này được viết vào những năm 65, 66 và xuất bản lần đầu vào 1967 (Ghi chú của nhà x.b).




                              *
                                                  Mời tìm đọc:

                     Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                                                          Click vào:

 https://www.amazon.com/Hon- Nam-Muoi-Lam-Vietnamese/dp/ 1986944972/ref=sr_1_1?ie=UTF8& qid=1524797088&sr=8-1& keywords=hon+nam+muoi+nam+tho

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện

Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

                                  Amazon Mẫu Hệ

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 20187:51 SA(Xem: 60)
“Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,
20 Tháng Mười 201810:28 SA(Xem: 71)
Nè em cứt vẫn đắm tình. thúi là trời đất thai sinh ruột rà
16 Tháng Mười 20188:18 SA(Xem: 185)
Mỹ Linh làm một cái biệt phủ trái phép
05 Tháng Mười 20187:59 CH(Xem: 133)
Nó tên là Gò Ỉa, vì cả làng trên xóm dưới