DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,096,182

Chuyện VN: Những mảnh đời rổ rá

Tuesday, November 1, 201112:00 AM(View: 7142)
Chuyện VN: Những mảnh đời rổ rá

Những mảnh đời rổ rá

 Rổ rá sẽ nương tựa nhau gồng gánh đi qua cuộc đời - đó là những câu chuyện mà bạn đọc sẽ bắt gặp trong loạt bài này. Ấy là những mảnh đời đã gặp gỡ và gắn bó với nhau trong éo le biến cố, khó nghèo. Thay vì buông xuôi và tan vỡ, họ đã tìm cách vượt lên số phận để sống đàng hoàng trong “nghĩa” và “tình”.


Nỗi lòng Ly “vé số”

Có một người phụ nữ khi nói phải thật lâu mới được một tiếng, khi đi thì chân liêu xiêu như say rượu. Nhưng chính chị đã một tay nuôi dạy hai cô con gái và chăm sóc người chồng bị bệnh tâm thần của mình bao nhiêu năm nay với một niềm tin mãnh liệt:“Con mình sẽ học hành thành tài, chồng mình sẽ hết bệnh”. Chị là Trần Thị Mỹ Ly, người mà dân ở khóm 3, phường 3, TP Vĩnh Long thường gọi với biệt danh quen thuộc: Ly “vé số”.



blank
Vợ chồng chị Ly - anh Minh, cặp “rổ rá” đầy hạnh phúc



"Số" và "phận"

“Con ở đây ngoan chiều ba mẹ tới đón nhé”, đã hơn 40 năm trôi qua Mỹ Ly vẫn không thể quên được lời hứa của ba mẹ khi đưa chị vào tu viện Cái Mơn vào một ngày mưa tầm tã. Nhưng buổi chiều đó chẳng bao giờ đến. Hình bóng ba mẹ ngày càng nhạt nhòa, chỉ còn câu nói ấy không bao giờ phai được. Cô bé Mỹ Ly thành thiếu nữ, vẫn chiều chiều ra cổng ngóng trông!

Tu viện đóng cửa. Mỹ Ly lang bạt khắp nơi. Bị chứng kinh phong bẩm sinh, giọng nói ngọng nghịu, dáng đi khập khiễng nên chẳng có ai nhận chị vào làm. Cuối cùng một người thương tình đã nhận chị vào phục vụ quán phở. Sự thông minh của chị đã khiến ông bà chủ tin tưởng, dần dần giao cho công việc quản lý. Tại đây, chị đã gặp người thanh niên tên Trần Ngọc Minh. Là một thanh niên khỏe mạnh, hằng ngày anh chở giá đậu tới bỏ mối ở quán phở nơi chị Ly đang làm. Cô gái nói không rành, đi không vững nhưng sắc sảo và thông minh đã khiến anh đem lòng yêu mến. Sau những mặc cảm, chối từ của chị, cuối cùng họ cũng nên vợ nên chồng. Ngày cưới, ba mẹ chồng tuyên bố từ mặt con trai và không bao giờ chấp nhận một người con dâu tật nguyền.

Cưới nhau xong, vợ chồng chị Ly dắt díu nhau đi khắp nơi kiếm sống, đến nơi nào cũng ở nhà mướn tạm bợ qua ngày. Khi hai cô con gái Mỹ Ngọc và Mỹ Tiên ra đời, hai vợ chồng chị về ở hẳn thành phố Vĩnh Long, vẫn là những căn phòng trọ bé tẹo, xập xệ. Tưởng vậy rồi cuộc sống sẽ dần khá lên khi vợ chồng chăm chỉ làm thuê làm mướn nuôi con. Nhưng anh Minh đột nhiên đổ bệnh tâm thần phân liệt khi bé Ngọc lên 4, bé Tiên lên 1. Những khó khăn, vất vả của cuộc đời chị dường như chỉ mới bắt đầu.

Để có tiền nuôi chồng con, chị Ly chạy làm mướn khắp nơi. Làm cả ngày mà vẫn không đủ tiền mua bột cho con, mua thuốc cho chồng, chị quay qua bán vé số. Bước chân chông chênh, xiêu vẹo của chị đi khắp nơi từ sáng sớm đến tối mịt mới về. Ấy vậy mà thỉnh thoảng lại bị đuổi ra khỏi nhà trọ vì không có tiền đóng. Một lần, tới ngày đóng tiền nhà thì bé Tiên lên cơn sốt, chị dồn hết số tiền có được mua thuốc cho con. Bà chủ đuổi cả nhà ra đường khi trời bắt đầu tối, mặc nồi cơm của chị đang sôi dở. “Có tiền thì tới đóng rồi mới được chuộc đồ về” - bà nói như đinh đóng cột. Chị dắt chồng con đi lang thang ngoài đường khi trời sẩm tối. Đứa con gái bé bỏng run rẩy lên cơn sốt trong tay, chồng ngẩn ngơ đi theo, chị nghẹn ngào chẳng biết đi về đâu.

Con lớn lên chút, bắt đầu đi học, đôi chân chênh chao của chị càng đi nhiều hơn. Ngày bán vé số, tối về ai kêu gì làm đó. Người kêu ẵm con, người kêu giặt đồ... việc gì chị cũng sẵn sàng làm. Khi chị trở về căn phòng trọ nhỏ bé thì hai đứa con đã say giấc. Hôm nào chồng không lên cơn thì chị được ngả lưng một chút, hôm nào chồng trở bệnh đi lang thang thì chị lại lội bộ đi kiếm khắp nơi. Có hôm kiếm được chồng về cũng là lúc trời sáng, chị cầm xấp vé số đi khắp phố phường mà đầu óc như trên mây...

Niềm hi vọng

Một lần, không có ai coi, chị dắt con đi theo bán vé số. Thấy hai đứa bé xinh xắn, một đôi vợ chồng Việt kiều Mỹ tìm tới tận nhà trọ năn nỉ xin hai đứa bé. Nếu đồng ý, vợ chồng chị sẽ được một căn nhà đầy đủ tiện nghi và 10.000 USD. Lúc ấy chị chối từ bởi: “Con là niềm hi vọng lớn nhất của tui, hơn nữa tui đã từng mồ côi nên hiểu tình thương cha mẹ cần thiết như thế nào!" - chị nói chậm rãi từng lời như rút từ tận tâm can.

Có những lúc quá khó khăn, nhiều người khuyên chị cho hai đứa nhỏ nghỉ học ở nhà phụ bán vé số nhưng chị lắc đầu. “Mẹ cầm tờ vé số đi ngoài mưa nắng để con được cầm cây viết ngồi trong nhà. Nếu hai con không chịu khó học thì mẹ chẳng còn sức lực mà đi tiếp đâu”- chị dặn con như vậy. Rồi người mẹ tật nguyền hồ hởi nói tiếp: “Cô giáo chủ nhiệm bé Ngọc mới gặp tui ngoài chợ, khen nó vừa ngoan lại vừa học giỏi. Cô bảo đang xin học bổng cho nó. Nghe xong tui hết mệt luôn”. Nụ cười rạng rỡ nở trên khuôn mặt sương gió của người mẹ này.

Mỹ Ngọc năm nay học lớp 10, ước mơ được học đại học kinh tế để kiếm tiền cho bố mẹ đỡ khổ. Còn Mỹ Tiên năm nay học lớp 7, ước mơ làm bác sĩ để chữa bệnh cho bố mẹ.

“Ở đời nhiều người tốt lắm” - dù cuộc đời nhiều thiệt thòi nhưng chị Mỹ Ly vẫn luôn tin như vậy. Trong câu chuyện khó nhọc, chị dành nhiều thời gian để nhắc về những người đã giúp đỡ mình qua cơn khốn khó. Anh Tám cho mướn phòng trọ trong cái đêm cả nhà chị bị đuổi lang thang ngoài đường, anh cũng cho mượn tiền để chuộc đồ sau đó. Anh Lượng - một thành viên hội đồng TP Vĩnh Long, lo thủ tục giấy tờ để con chị được tới trường...Bà con lối xóm có gì cũng gói ghém mang cho.

Trong túi xách của chị, ngoài những tờ vé số còn có những cuốn sách có tựa như: Tư duy tích cực, Tổ chức cuộc sống, Quà tặng cuộc sống... Đó là những cuốn sách mà khi tham gia những khóa học do Hội Khuyết tật TP Vĩnh Long tổ chức người ta tặng chị. Cuốn nào chị cũng đọc đi đọc lại đến sờn mép. “Mình nghèo nhưng không thể vì vậy mà để mình trở nên ngu dốt được. Muốn chăm sóc chồng con tốt thì phải hiểu biết chớ” - chị Ly chia sẻ bằng giọng nói ngọng nghịu.

Ngồi trong ngôi nhà nhỏ bé nép mình bên con hẻm, nhìn chị lật những tờ giấy khen từ năm con học lớp 1 được gói ghém cẩn thận trong bọc nilông khoe với khách, tôi thấy cuộc đời của chị tràn ngập niềm tin. Cạnh chị, người chồng ngây dại đang cười theo chị. Ừ, thì dù là rổ hay rá, cuối cùng họ vẫn có nhau...


Người mẹ kế


Người phụ nữ ấy từ Hải Dương vào Đồng Nai thăm bà con, gặp một người đàn ông mang di chứng chất độc có đứa con trai bị bại liệt, đứa con gái bị bệnh tâm thần.


blank

Chị Lanh với hạnh phúc vun vén của mình


Tất cả mọi người đều bất ngờ khi chị quyết định ở lại Đồng Nai để bắt đầu quãng đời làm mẹ, làm vợ đầy cực nhọc của mình. Đã 14 năm qua, chị Nguyễn Thị Lanh vẫn chưa hề có một phút giây nghĩ quyết định của mình là sai lầm.

Nhóm lên bếp lửa

Căn nhà chị Lanh nằm lọt thỏm giữa cánh đồng bắp tại ấp 4, Xuân Tây, Cẩm Mỹ, Đồng Nai. Nó tách biệt với những ngôi nhà khác trong ấp, từng gian nhà, cửa nẻo cứ vá víu chằng chịt. Anh Hướng, chồng chị Lanh, ngồi đờ đẫn trên chiếc ghế duy nhất trong nhà. Sức lực như đã rời bỏ cơ thể anh. Bàn tay buông giữa khoảng không thõng thượt.“Sức tui giờ nhấc tay, nhấc chân cũng khó”- anh Hướng nói bằng cái giọng ngọng nghịu.

Sau khi trở về quê hương Hải Dương, anh Hướng lập gia đình với người con gái cùng quê. Hạnh phúc tưởng như trọn vẹn khi hai đứa con một trai một gái chào đời. Chồng cày ruộng, vợ chăn tằm dệt vải, giấc mơ suốt những năm tháng chiến tranh của anh vậy là đã trở thành hiện thực. Nhưng nào ai biết được chữ ngờ. Hai đứa con không thể khỏe mạnh như bao đứa trẻ khác, đứa bại liệt, đứa cứ ngơ ngẩn cả ngày.

Cuộc sống quá khó khăn nên anh dắt díu gia đình từ Hải Dương vào Đồng Nai mưu sinh. Anh làm cật lực để có thể vun vén cho gia đình bé nhỏ bất hạnh của mình. Nhưng không có gì sáng sủa khi anh dần mất sức lao động, chân tay bủn rủn không thể làm việc được, giọng nói bắt đầu ngọng nghịu. Sau mấy năm, anh chỉ có thể đi lại lẩy bẩy trong nhà, ngay việc cầm chổi quét nhà cũng không nổi. Đúng lúc đó người vợ bỏ ra đi. Bố nhìn con, chị em chúng nó nhìn nhau - ngơ ngác trong căn nhà trống hoác tứ tung.

Rồi một ngày, chị Lanh xuất hiện.

Từ Hải Dương, chị vào thăm người bà con ở Đồng Nai. Mấy người đồng hương thấy chị đã ngoài 30 tuổi mà chưa lập gia đình liền mai mối cho anh Hướng. Đã 14 năm trôi qua, chị vẫn không bao giờ quên được buổi chiều lần đầu tiên đến nhà anh. “Anh ngồi trong góc nhà nhìn ra cửa, thằng Bảy nằm trên chiếc giường rách nát hết hát lại khóc. Đứa chị đã lớn ngồng rồi mà ngơ ngẩn không biết nhóm bếp nấu cơm. Cái bếp lạnh teo lạnh ngắt như mấy năm rồi chưa được nhóm, gà bới tứ tung” - chị nhớ lại.

Lặng lẽ không nói một lời, kéo vạt áo lau vội giọt nước mắt, chị đi nhóm bếp, thổi một nồi cơm, nấu một nồi canh rau cho ba bố con anh ăn rồi quay về. “Đó là bữa cơm ngon nhất mà ba bố con tui được ăn từ khi mẹ nó bỏ đi”- anh Hướng không quên được bữa cơm chiều hôm đó. Trời nhá nhem tối, trên đường về nhà chị Lanh vấp ngã mấy lần, nước mắt rưng rưng.

“Lúc bà ấy đến, tui nghĩ đời nào người ta chấp nhận lấy mình. Bố thì không cầm nổi chén cơm, con thì đứa nằm một chỗ, đứa bị dở hơi. Ai mà chịu. Nấu cho bữa cơm là người ta thương mình lắm rồi” - anh Hướng nhớ lại. Nhưng sáng hôm sau, chị Lanh quay lại ngôi nhà rách nát ấy trước sự ngỡ ngàng của mọi người. Chị nói với anh khỏi cần cưới hỏi làm gì, chị thương anh với hai đứa con vậy là đủ rồi.

Ngồi bên người chồng bệnh tật, chị Lanh nhìn cậu con trai nằm ngửa trong lòng mình, cười bẽn lẽn: “Khi đó bước vào căn nhà rách nát, nồng nặc mùi nước tiểu, ba bố con anh ngồi nhìn nhau đờ đẫn, tui chỉ thấy thương như ruột thịt của mình”. Chị trở thành vợ, thành mẹ như thế. Bếp lửa mỗi tối lại được nhóm lên.


blank

Mẹ kế và con chồng...


Hạnh phúc nơi góc bếp

Chấp nhận làm vợ, làm mẹ của gia đình bất hạnh ấy chị Lanh mặc bao lời gièm pha “nuôi chồng nuôi con người dưng”. Chị chỉ nghĩ đơn giản: “Số kiếp mình đã nhỡ nhàng chẳng mong được chăm sóc, chỉ mong có một mái ấm để vun vén. Tối về đỏ lửa thổi cơm, sáng dậy quét tước cửa nhà vậy là vui lắm rồi”. Chính ước mơ ấy đã khiến chị ở lại với bố con anh mười mấy năm nay, làm lụng quần quật mà không một lời than trách. Vẫn thấy cuộc đời mình ấm áp khi tối về còn được đỏ lửa, bón cơm cho con, bưng nước cho chồng.

Con trai anh Hướng, Phạm Văn Bảy, năm nay đã 28 tuổi, nằm một chỗ, nói cười như đứa trẻ chỉ mới lên ba. “Thương mẹ Lanh lắm, mẹ Lanh cho ăn cơm nè, tắm nè, thay đồ nè. Mẹ Lanh không bỏ bố con Bảy đi đâu nhé. Mẹ Lanh đi làm về có bánh để ăn nữa. Thương mẹ Lanh lắm”. Bảy vỗ tay nói thật to. Chị Lanh nở nụ cười khi nghe những lời đó của Bảy vọng ra, ánh mắt chị lấp lánh niềm hạnh phúc. Niềm hạnh phúc khi chấp nhận hi sinh để yêu thương.

Đất đai không có, chị đi làm thuê cho người này đến người khác khắp trong xã. Từ phơi sắn, bóc vỏ hạt điều đến trồng rau, nhổ cỏ... ai thuê gì làm nấy. “Chịu khó thì mới có đủ cho mấy bố con có miếng ăn. Bệnh tật mà nhiều lúc ăn uống kham khổ tội nghiệp lắm” - chị Lanh tâm sự. Ngày nào cũng vậy, chị phải thức dậy từ 4 giờ sáng để chuẩn bị cơm buổi sáng, buổi trưa cho cả nhà rồi đi làm. Tối về chị lại giặt giũ cơm nước, lau dọn nhà cửa. Một ngày của chị không có phút ngơi nghỉ nào cho riêng mình.

Hôm chúng tôi đến nhà, chị đang đi khắp nơi để tìm cô con gái năm nay đã 33 tuổi bị tâm thần bỏ nhà đi hai hôm nay. Về nhà chị buồn rầu vì vẫn chưa có tin tức gì của con gái. Lo cơm nước buổi trưa cho bố con xong, chị lại vội vã đi lấy thuốc cho cậu con trai mấy hôm nay đang lên cơn sốt. Trong góc nhà, mẻ hạt điều nhận bóc vỏ đang làm dở.

Cuộc sống gia đình một tay chị chăm lo gánh vác. Ngoài khoản trợ cấp nạn nhân chất độc da cam 250.000 đồng/tháng của Bảy ra, cả nhà chỉ biết nhìn vào số tiền làm mướn của chị. Những lúc bố con anh đi bệnh viện, chị chỉ biết chạy vạy khắp nơi vay tiền. Cuộc sống cứ vậy, thiếu trước hụt sau. Đôi lúc cảm thấy mệt mỏi nhưng không bao giờ chị định bỏ đi. “Ốm đau khỏe mạnh gì thì cũng là chồng mình, con mình mà!".


Mấy hôm nay mẹ chị ở Hải Dương đang ốm, chị nóng ruột muốn về thăm mẹ nhưng chưa biết gửi chồng, gửi con cho ai để đi được. Lòng chị chất chứa bao nỗi lo. Nỗi lo nào cũng nặng trĩu...


Ở đời hãy đóng tròn vai!


Một phụ nữ đã 23 năm nuôi chồng bại liệt, con trai bị bệnh động kinh và mẹ chồng già yếu đã nói thật giản dị về sứ mạng trong cuộc đời mình: “Vì tôi là con dâu, là vợ, là mẹ nữa. Cuộc đời tôi phải đóng tròn vai thôi!”. Người “đóng tròn vai” ấy là chị Nguyễn Thị Lại ở thôn Quy Hậu, xã Hòa Trị, Phú Hòa, Phú Yên.




blank

Giữa bộn bề cuộc sống này, còn một góc riêng để chị động viên chồng rằng: “Lạc quan lên đi anh!”



Đời sấp ngửa


Nhá nhem tối, người đàn ông ngồi trên chiếc xe lăn nơi bậu cửa ngóng ra ngõ. Căn nhà nhỏ sau cánh đồng lúa tối om. Bên trong cậu con trai vừa mới lên cơn động kinh đang nằm thở hổn hển. Một bà cụ đưa bàn tay lẩy bẩy xoa cho cháu. Mắt người đàn ông như sáng lên khi thấy cái dáng tất tả của vợ từ ngoài con đường nhỏ vắt ngang cánh đồng lúa. Người vợ đi gặt lúa thuê về, vội vã lao vào bếp, nhóm lửa nấu cơm tối. Căn nhà bừng sáng. Bắc nồi cơm lên, chị đẩy chồng vào nhà lau mặt mũi, chân tay cho anh rồi quay sang xoa đầu cậu con trai đang rên hừ hừ.

Ngày còn trẻ chị Lại là cô gái xinh đẹp trong làng. Học hết phổ thông, chị mong ước được học lên cao nữa để làm cô giáo nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn đành phải gác lại ước mơ. Nghỉ học, một năm sau chị lấy chồng. Chồng chị, anh Dương Văn Bá, là đội trưởng đội bảo vệ thực vật Hợp tác xã Hòa Trị I. Cuộc sống vợ chồng tưởng như đã viên mãn sau khi ba đứa con hai gái một trai ra đời.

Nào ngờ, một buổi chiều mùa hè năm 1988, anh Bá đang phun thuốc trừ sâu cho hợp tác xã thì bỏ dở công việc chạy về nhà, ngã quỵ ngay ở cổng, chân tay như ai rút hết sức lực. Bác sĩ nói anh bị nhiễm độc thuốc trừ sâu mức độ nặng. Chị Lại đưa chồng đi chạy chữa khắp các bệnh viện từ Phú Yên đến Sài Gòn nhưng bệnh tình của anh không hề thuyên giảm. Suốt năm năm liền chị sống ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà. Không bao giờ chị nghĩ mình sẽ đầu hàng, chấp nhận chồng bị bại liệt mãi mãi.

Khi bác sĩ lắc đầu, gia sản trong nhà khánh kiệt thì cũng là lúc cơ thể anh Bá mất hết khả năng kiểm soát rồi ngồi luôn một chỗ trên chiếc xe lăn. Ngày đưa anh từ Sài Gòn trở về nhà, chấp nhận chồng trở thành người khuyết tật, chị Lại khóc suốt chặng đường, chỉ muốn chết đi. Nhưng khi bước vào nhà, thấy ba đứa con thơ dại và người mẹ già đang ngóng, chị sực tỉnh: “Mình mà khóc mãi thì chồng mình, con mình, mẹ mình cũng chẳng ai nuôi giùm cho. Thôi thì gắng lên”.

Ba đứa con rồi cũng dần lớn khôn, hai cô con gái đi lấy chồng xa. Cứ tưởng những vất vả của chị cũng dần bớt đi, nhưng một lần nữa tai họa lại giáng xuống gia đình bất hạnh ấy. Cậu con trai út, niềm hi vọng lớn nhất của chị, bỗng đột nhiên ngã bệnh động kinh năm 2004 lúc vừa tròn 20 tuổi. Chị cuống cuồng đưa con vào khắp các bệnh viên ở Sài Gòn chạy chữa nhưng chẳng ăn thua. Những cơn co giật của con trai không hề thuyên giảm. Chị đành đưa con về nhà. Lần này về tới đầu làng chị đã thấy mẹ già và người chồng tật nguyền của mình đang chờ ở đó. Chị không còn khóc được nữa.

Vậy là từ đó đến nay, trong căn nhà nhỏ ở thôn Quy Hậu ấy, thỉnh thoảng người ta lại nghe tiếng la hét đập phá đồ đạc của cậu con trai khi lên cơn động kinh, tiếng khóc của người chồng khi lên cơn đau, tiếng mẹ chồng ho húng hắng đi lại lẩy bẩy và tiếng người vợ luôn dỗ dành tất cả mọi người.

Người ở thôn này thấy dáng đi của chị lúc nào cũng vội vã, chân nọ đá chân kia. Người ta nói dáng chị đi sấp ngửa nên khổ. Chị cười: “Vì khổ nên phải sấp ngửa ấy chớ. Chậm chạp, đủng đỉnh lấy cơm đâu cho cả nhà ăn?”.

Nhìn chồng vốn là người siêng năng, hoạt bát, nay ngồi bất động một chỗ trên chiếc xe lăn, chị đau đứt ruột nhưng không biết phải làm sao. Đêm đêm sau một ngày làm việc quần quật, chị cố gắng xoa bóp chân tay cho chồng để giấc ngủ đến với anh dễ dàng hơn.

Đã có người khuyên chị đưa chồng vào Sài Gòn bán vé số. Vợ đẩy chồng, người ta thương bán được khá lắm. Nghĩ cả nhà đang trong cảnh túng quẫn, chị đưa chồng lên xe vô Sài Gòn. Bán vé số được mấy hôm, chị cảm thấy mình đang lợi dụng bệnh tật của chồng để kiếm tiền nên dứt khoát đưa chồng về quê, một mình bươn chải lo miếng ăn cho cả nhà.

Để có tiền nuôi chồng, nuôi con, chị Lại làm đủ mọi nghề từ cắt lúa thuê, buôn gà vịt đến nhặt ve chai. Lúc nào người ta cũng thấy chị sấp ngửa đi về trên những con đường làng. Đi cắt lúa thuê ở làng khác, đạp xe mấy chục cây số, nhưng trưa nào chị cũng về nhà để nấu cơm cho mẹ, chồng và con. Tối mịt về nhà, lại lao tiếp vào cơm nước. Bao năm nay giấc ngủ của chị luôn bị giật mình.

Lạc quan lên!

Điều hàng xóm nói nhiều là họ chưa bao giờ nghe chị Lại than ngắn thở dài một câu về hoàn cảnh khốn khổ của mình. Hoàn cảnh đã tận cùng, làm mọi thứ trong vai trò gia đình, chị còn nhảy ra làm luôn chi hội trưởng hội phụ nữ thôn. Ở vai trò này chị là người lắng nghe, tư vấn những vấn đề rắc rối trong gia đình của chị em phụ nữ trong làng. Nhiều người có mâu thuẫn, xích mích trong gia đình hay tìm tới chị tâm sự.

Giữa mọi lời khuyên, cái kết chị thích nhất là triết lý sống mà chị chia sẻ với mọi người: “Dù có chuyện gì thì cũng là chồng mình, con mình. Làm vợ, làm mẹ hi sinh cũng là một niềm hạnh phúc. Lạc quan lên!”. Hóa ra, cái lý do thầm kín mà chị tham gia cùng xã hội cũng chính là cách chủ động với cuộc đời mình: “Mình tham gia công tác xã hội mới thấy cuộc đời tươi đẹp hơn, để có tinh thần mà chống lại hoàn cảnh bản thân!”.

Thấy vợ vất vả còn chân tay mình cứ thừa thãi chẳng có tác dụng gì, nhiều lần anh Bá đòi chết đi cho rảnh. Đêm, anh mua sẵn thuốc chuột giấu trong túi, định quyên sinh thì thấy vợ đứng nhìn anh nước mắt lăn dài, chị nói: “Lạc quan lên ba nó ạ, sao lại sớm muốn chết vậy, đường sống của mình không bị triệt đâu mà sợ”. Anh buông thuốc chuột xuống mà khóc. Rồi chị đến bên anh nói một câu mà đến bây giờ anh vẫn nhớ mãi: “Vợ chồng hoạn nạn có nhau, ba nó bỏ tui đi thì ác lắm”. “Đàn ông thương chỉ biết giữ trong lòng, ít nói ra lắm. Thương vợ khổ cực mà chẳng biết làm gì hết” - anh Bá tâm sự.

Mẹ chồng chị Lại, bà Đặng Thị Lý, năm nay đã 82 tuổi, lúc nào cũng chỉ nói một câu về con dâu mình: “Tội nghiệp mẹ nó quá”. Chị Lại đang lau mặt cho chồng quay qua bà cười thật to: “Có chồng, có con, có mẹ để chăm còn tội nghiệp gì chứ. Sống mà không có ai để thương, để chăm mới tội nghiệp mẹ ạ”. Bà cụ móm mém cười. Trong bếp nồi cơm đang dậy mùi chín tới.


Thân cò bên Bến Mộng

Cầu Bến Mộng, nơi giao nhau giữa hai dòng sông Ayun và sông Pa mùa lũ cuồn cuộn nước. Một người phụ nữ nhỏ bé ngồi trong căn chòi bên cầu mải mê tráng bánh.

Buổi chiều cao nguyên lạnh căm nhưng tấm áo của chị ướt đẫm mồ hôi. Khi những muỗng bột cuối cùng đã hết, chị vội vã chạy thật nhanh về căn nhà nhỏ, nơi có người chồng và cô con gái đang nằm một chỗ.


blank

Tổ ấm nơi Bến Mộng


Trụ cột cuối cùng

Đã gần 10 năm nay, buổi chiều nào của chị Nguyễn Thị Tuấn cũng tất tả như vậy.

Trong căn nhà nhỏ của gia đình chị Tuấn ở phường Sông Bờ, thị xã Ayun Pa, Gia Lai, cô con gái bị bệnh bại não nằm cong người trên tấm chiếu rách nát, khua khoắng chân tay loạn xạ, miệng ú ớ. Bên kia bức vách người chồng nằm bất động một chỗ, gần như không biết gì. Bố mẹ chồng đã già yếu ở bên cạnh cũng nghèo khó. Nghe có khách tới nhà, người phụ nữ có thân hình nhỏ thó ấy chạy từ chiếc lán ngoài bờ sông về, hai tay vẫn còn dính bột, bộ quần áo lấm lem tro trấu. Chị đang tráng dở mẻ bánh, khuôn mặt vẫn còn đỏ ửng vì lửa bếp.

Chị Tuấn quê ở tận Sa Thầy (Kon Tum), năm 1993 chị kết hôn với anh Đỗ Văn Tính lúc đó là bộ đội đóng quân tại quê chị. Xuất ngũ, vợ chồng dắt nhau về quê anh ở Ayun Pa. Bố mẹ hai bên đều nghèo. Đôi vợ chồng trẻ đi làm thuê làm mướn mong xây dựng cho gia đình bé nhỏ của mình một hạnh phúc. Một năm sau, cô con gái đầu lòng Đỗ Thị Khánh Linh chào đời trong niềm hạnh phúc của anh chị. Cô bé bụ bẫm đáng yêu nhưng tới tháng thứ 6 trở đi bắt đầu có triệu chứng không bình thường. Chị đưa con đi khám mới biết Linh bị bại não. Vợ chồng lao vào làm lụng để có tiền chạy chữa cho con. Bệnh viện nào hai vợ chồng cũng bế con tới, nhưng đều nhận được cái lắc đầu của bác sĩ. Bé Linh ngày càng dặt dẹo, chân tay cứng đờ lại. Chị khóc cạn nước mắt với con.

Rồi vợ chồng chị cũng nguôi ngoai phần nào khi bé Toàn và bé Thảo ra đời đều khỏe mạnh bình thường. Hai vợ chồng chăm chỉ cuốc rẫy trồng trọt, chăn nuôi để có miếng ăn nuôi ba đứa con. Chị nghĩ có lẽ cô con gái đầu lòng đã gánh hết tất cả cái họa của gia đình. Thế nhưng một lần nữa bất hạnh lại ập tới vào một ngày đầu năm 2003, anh Tính có xích mích nhỏ với người hàng xóm, bị đánh đến ngất xỉu. Nghe tin chồng bị đánh phải đi cấp cứu ở bệnh viện, chị Tuấn hoảng hốt từ rẫy chạy về. Lúc tới bệnh viện thì chồng đã không biết gì. Anh bị chấn thương sọ não phải sống đời thực vật. Tim nhói đau, chị bàng hoàng ngất lịm. Khi tỉnh dậy ý nghĩ đầu tiên đến với chị:“Thôi, từ nay mình phải là cái trụ cho chồng con bám vào. Mình yếu cả nhà sẽ bị đổ thôi”.

Những đồng tiền đền bù của người hàng xóm không thể đủ trang trải tiền thuốc cho chồng, chị đi vay khắp nơi, bán hết tài sản để cố cứu chồng tỉnh lại. Nhưng não của anh chẳng bao giờ hoạt động nữa. Cơ thể như một cây khô bất động giữa rừng.



blank
Và niềm hi vọng của mẹ vẫn còn



Niềm hi vọng nơi Bến Mộng


Ngày chị đưa chồng từ bệnh viện về, căn nhà trống hoác chỉ còn độc chiếc giường. Nhìn chồng con cùng nằm bất động, chị thấy cuộc đời như dừng lại vĩnh viễn rồi. Sáng dậy, việc đầu tiên chị làm là đi chặt cây về dựng lán làm bánh tráng. “Đi làm mướn thì không chăm sóc được chồng con, ở nhà tráng bánh là tốt nhất” - đó là kết quả của một đêm thức trắng để nghĩ về tương lai. Căn chòi nhỏ dựng trong mảnh đất chật hẹp không có chỗ để phơi bánh. Chị hì hụi dỡ lán ra bãi đất trống bên cầu Bến Mộng, cách nhà chỉ chừng 500m. Mùa nắng chị tráng bánh, mỗi ngày được chừng 50.000 đồng tiền lời, tạm đủ lo miếng ăn cho chồng cho con. Nhưng không phải lúc nào cũng suôn sẻ, có những ngày con ốm đau chị phải dốc hết tiền vốn để mua thuốc. Tiền hết, chẳng có bột để tráng bánh, chị Tuấn lại chạy đi vay mượn, chờ tráng mẻ bánh mới mà trả nợ. Rất nhiều lần cả nhà phải ăn bánh tráng với nước mắm thay cơm.

Cơn lũ lớn năm ngoái, căn chòi nhỏ của chị bên cầu bị dòng nước cuốn trôi. Giữa dòng nước dữ, mình chị vật lộn để cứu mấy bao bột với bộ nồi tráng bánh. Người ta bảo chị liều, còn chị thì hiểu rằng không giữ được nó, cả nhà cũng sẽ chết mà thôi. Mùa mưa không thể phơi được bánh tráng chị nhận giỏ mây về đan. Cuộc sống với chị, chỉ còn hai mùa mưa và nắng như thế.

Khi bé Toàn và bé Thảo đến tuổi đi học, chị phải xoay thêm đủ nghề để hai con được đến trường. Từ đan giỏ, nhặt ve chai đến buôn trái cây. Ngày nào chị cũng xoay như chong chóng. Chồng và con gái, chị phải nhờ bố mẹ già trông nom giùm. Cả nhà đùm bọc nhau sống qua ngày.

Không ít lần Toàn và Thảo thấy mẹ khổ cực quá bèn gói hết cặp sách gác lên nhà đòi nghỉ học để ở nhà phụ mẹ. Chị tức quá bắt hai đứa quỳ một buổi, tới lúc chúng chịu đi học mới tha. “Hai đứa phải học sau này mẹ yếu đi còn thay mẹ làm cái trụ cho cả nhà bám vào chứ” - chị căn dặn con. Hiểu lòng mẹ, Toàn năm nay học lớp 9, Thảo học lớp 7 đều cố gắng học khá. “Hai đứa nó mà vô được đại học, khổ đến đâu tui cũng nuôi. Tụi nó là niềm hi vọng cho cả nhà mà”- người mẹ ấy kiên quyết.

Mới đây, gia đình chị được chính quyền xây tặng một căn nhà tình thương thay cho căn nhà lụp xụp trước kia. Căn phòng rộng trong căn nhà nhỏ dành cho hai người bệnh nằm, ba mẹ con chị chen chúc nhau trong căn phòng chật hẹp mà thấy đời đã ấm đôi chút rồi.

Sau một ngày làm lụng, việc chị phải luôn luôn làm là trò chuyện với người chồng và đứa con bệnh tật với ước mơ về điều kỳ diệu nào đó: “Hôm trước đi chợ tui lượm được tờ báo cũ viết về chuyện có người bên Trung Quốc sống đời thực vật không biết gì mà còn tỉnh lại sau mấy chục năm. Chồng tui chí ít cũng biết ăn cơm. Mình cứ trò chuyện, biết đâu được...”. Ừ, thì biết đâu được! Nhìn ánh hi vọng bừng lên trên gương mặt khắc khổ của người phụ nữ nơi Bến Mộng này, tôi ước ao về một phép lạ nào đó. Rằng một ngày Bến Mộng sẽ sáng bừng lên trong niềm hạnh phúc, giống như trong truyện cổ tích rằng người đàn bà khó nghèo nhưng tận tâm thì kết truyện thế nào cũng sẽ được về bến bờ hạnh phúc vậy..

Người đàn bà sửa xe


Chồng bị căn bệnh không nhấc nổi tay chân. Con thì đứa ngẩn ngơ, đứa sinh hoạt không bình thường. Lẽ ra phải chấp nhận cuộc đời “rổ rá” trong xó bếp, chị vươn ra cái lán sửa xe ở đầu hẻm rồi treo lên đó số điện thoại của mình để có thể sửa xe 24/24 giờ trong ngày.

Khi chồng không còn nhấc tay lên được, chị lén đi học nghề điện để vượt xó bếp mà lo cả công việc của đàn ông trong nhà. Giữa cuộc đời, chị thấy mình vui vì trong từng ngày chị đã sống với chồng con đến hết cả tâm tình và sức lực của mình. Chị tên là Trần Thị Nghiêm, ở phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, An Giang.



blank
Từ lâu lắm rồi, chị Nghiêm là cánh tay nối dài của chồng



Chuyện của chồng


Tui bắt đầu có biểu hiện bệnh cách đây tám năm. Lúc đầu chỉ là những cơn choáng nhẹ.“Chắc mình làm việc quá sức”- tui nghĩ vậy. Rồi chân tui cứ đi loạng choạng. Bà con lối xóm bảo:“Cha Tưởng này siêng năng vậy mà giờ đổ đốn, suốt ngày say xỉn”. Tui cười xòa để giấu bệnh. Đi khám, bác sĩ bảo tui bị bệnh “thất điều giai tiểu não”, không chữa được, cơ thể sẽ mất dần khả năng vận động. Tui biết mình sẽ như ông cố, như ba, như cô mình... đang khỏe mạnh rồi từ từ chân tay không cử động được, tới lúc chẳng nuốt nổi cơm rồi ra đi.

Mang vỏ bọc là kẻ nát rượu tui chỉ giấu được người ngoài chớ đâu giấu được vợ. Vợ nhận ra, chỉ khóc rấm rứt một đêm rồi sáng dậy chạy lăng xăng nấu cơm, cười nói rôm rả. Năm xưa khi từ Trà Vinh đến An Giang đi bộ đội, tui thương cô ấy. Ngày đưa cô ấy về ra mắt gia đình, tui nói với vợ về hoàn cảnh bệnh tình của dòng họ mình, có thể di truyền, sinh con ra không biết sao. Cô ấy tận mắt chứng kiến ba tui ngồi một chỗ đờ đẫn không cầm nổi chén cơm vậy mà vẫn gật đầu đồng ý. Tui nấn ná, vợ tui giục làm đám cưới. Cưới xong hai vợ chồng ở lại căn nhà lợp tôn dột nát mà mẹ vợ để lại ở Long Xuyên.

Đứa con trai đầu lòng ra đời. Tui vẫn khỏe mạnh. Ngày đắp hồ nuôi ếch, tối về chọc con cười nắc nẻ. Thằng Túc lớn lên chút có những biểu hiện không bình thường, người ta nói nó thiểu năng trí tuệ. Tui chết lặng. Năm nó 5 tuổi, chân tay tui bắt đầu loạng choạng.

Ngày vợ sinh thằng con thứ 2, lập bập mãi tui mới lên được tới trạm xá, muốn té xỉu khi biết con không có hậu môn. Ở cữ có mấy ngày, vợ một mình ẵm con lên Sài Gòn chữa bệnh cả tháng trời, lúc nào gọi điện về cũng cười và nói: “Mình chớ có lo, Sài Gòn như ở xóm mình à”.

Con chữa bệnh xong đã có hậu môn, nhưng đến giờ đã 4 tuổi vẫn ị trong quần. Vợ phải giặt giũ luôn. Thằng anh thì ngẩn ngơ, 12 tuổi rồi mà vẫn chưa học xong lớp 3. Ba cha con tui đều là gánh nặng cho vợ.

Khi tui bắt đầu ngồi xe lăn, vợ đăng ký đi học một lớp về điện máy rồi dựng cái lán ngay đầu hẻm để sửa xe máy. Tay yếu vặn cái ốc nhiều khi em thở không nổi. Nhưng vợ tui có sá chi. Tui ngồi xe lăn, bày vợ tháo cái này, lắp cái nọ. Vợ học nhanh, vá xe, thay ruột, sửa bugi... đều làm tuốt. Để kiếm thêm tiền, vợ tui để số điện thoại ngay ngoài lán.

Đêm khuya có người hỏng xe gọi điện, vợ đều dậy, mang đồ nghề lục đục chong đèn sửa xe. Có hôm 1 giờ sáng, gặp mấy ông nhậu xỉn trêu ghẹo, vợ tui vừa vá xe vừa khóc. Từ đó cứ nhận được điện thoại là tui theo vợ ra ngồi ngoài lán. Thân đàn bà con gái đêm hôm chẳng biết có chuyện gì, có cái bóng đàn ông vẫn hơn. Vợ tay ôm đồ nghề, lưng cõng thằng em, thằng anh đẩy tui.

Không ít lần tui quạu quọ, la lối vợ om sòm vì cảm thấy mình vô dụng. Một lần nhà cháy cầu chì, vợ đỡ tui đứng dậy để sửa, cái việc cỏn con vầy mà cũng không làm được, tay tui cứng đờ. Cổ họng tui nghẹn lại, tui hét lên, nước mắt ròng ròng, quát mắng vợ. Em không cự lại, chỉ lặng lẽ vô bếp nấu cơm rồi quay ra cười cười nói nói khiến tui dịu lại. Hôm sau, vợ nối lại cái cầu chì ngon lành, thấy tui ngạc nhiên em mới thổ lộ: “Em lén anh đi học một lớp về điện nên rành lắm, từ nay anh chớ có lo”.

Để có tiền nuôi ba cha con tui, không chỉ sửa xe vợ còn nuôi luôn cả rắn. Ngày nào vợ cũng làm quần quật đến nửa đêm mới được ngả lưng, mà nào có được yên giấc, có người hỏng xe là giờ nào vợ cũng thức dậy cày cục sửa, ấy vậy mà chẳng bao giờ em kêu ca một tiếng, lúc nào cũng cười nói rôm rả với ba cha con tui.


Và tấm lòng của vợ

Lúc hai đứa chuẩn bị cưới nhau anh nói gia đình anh có căn bệnh di truyền. Anh bảo tui suy nghĩ cho kỹ. Tui thương anh, từ nhỏ ba má đã ly dị, anh phải sống với mẹ kế, bị đánh như cơm bữa. Sau này, dù có chuyện gì thì tui vẫn thương anh để bù đắp lại tuổi thơ cực nhọc của chồng.

Ngày đi nhận kết quả khám bệnh về chồng tui cứ nhìn lên mái nhà xập xệ hồi lâu rồi lẩy bẩy đi mua mấy tấm lợp thật đẹp. Rồi anh tập xe đạp cho thằng Túc, đắp thêm hồ nuôi ếch... Anh nói sau này muốn làm cũng không được nên phải tranh thủ.

Bệnh chồng ngày càng nặng hơn, đập con muỗi trên tay cũng phải kêu con. Những hồ nuôi ếch anh đắp đành phải nhường lại cho người khác. Chẳng muốn ngồi chơi không, anh cạy cục chế chiếc xe ba bánh rồi đi bán vé số khắp nơi để kiếm tiền. Tới lúc không thể điều khiển xe chạy theo ý mình được nữa, anh ở nhà bày cho tui sửa xe máy.

Tuy sức khỏe ngày càng yếu nhưng chồng tui giỏi lắm, những việc của người đàn ông trong nhà anh đều cố gắng đảm đương. Những việc như sửa điện tui có thể làm được thay chồng nhưng lúc nào anh cũng nói: “Để anh, mai mốt muốn làm cũng không được”. Tui hiểu chồng đang cố gắng sống có ích từng ngày nên càng thương anh hơn.

Có hôm cái cầu chì bị cháy, anh bảo tui đỡ đứng dậy để sửa nhưng tay cứ cứng đờ. Anh hét lên rồi khóc, la tui om sòm. Đó là lần đầu tiên từ khi biết mình mang bệnh anh khóc trước mặt tui. Tui biết chồng mình nhiều lần yếu lòng lắm, nhưng lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ để vợ con khỏi lo lắng.

Tui thay anh làm nghề sửa xe, mấy việc vá, bơm, thay ruột tui làm được ngay nhưng mấy khoản máy móc thì cứ loay hoay hoài. Sợ anh lo tui cứ gật đầu ra vẻ hiểu mỗi lần anh chỉ, nhưng thật ra đàn bà học mấy cái khoản đó đâu dễ. Mỗi lần tui sửa xe anh đều ngồi bên cạnh chỉ cho tui, phụ làm mấy việc nhẹ như bơm bánh xe, nhặt con ốc đưa cho vợ. Làm việc mà có vợ có chồng, những mệt nhọc dường như tiêu tan đâu hết.

Đêm, cứ hễ có người gọi điện thoại kêu sửa xe là anh lại thức dậy, lăn xe ra lán ngồi cùng tui. Anh sợ đêm hôm tui gặp nguy hiểm. Có bóng chồng ngồi bên cạnh tui cũng thấy vững dạ hơn.

Nhiều người cứ hỏi tui “Sao chồng bị bệnh vậy mà lúc nào cũng thấy chị cười vui vẻ?”. Ừ thì cười, tui không thể khóc được. Cũng như chồng tui dù đi không vững vẫn cố làm chỗ dựa cho vợ con. Chồng tui có được mấy ngày còn nhận ra vợ con nữa đâu. Vợ chồng gây gổ, nhiếc móc nhau làm chi. Tui biết một ngày nào đó chồng mình sẽ ra đi nên bây giờ mất gì mà không cười để anh được vui vẻ chứ!


NN

BVN-TH

Ý kiến:

Sao VN có nhiều người nghèo và khuyết tật quá mà không có cơ sở xã hội nào nuôi dưỡng. Còn các ông lớn cán bộ CSVN - "đại gia đỏ" - thì giàu ơi là giàu, sao bất công quá thế!

Liên, CA

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, March 26, 201412:00 AM(View: 6737)
Điều này tôi đã có lời thưa với bạn đọc ở đầu sách
Wednesday, February 19, 201412:00 AM(View: 8246)
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam
Monday, November 25, 201312:00 AM(View: 10473)
Giờ đây các quý bà đã không còn phải tị nạnh với cánh mày râu khi đã có dịch vụ massage yoni chỉ phục vụ riêng chị em.
Sunday, November 17, 201312:00 AM(View: 13987)
Hồi ở tuổi 15, tôi có đọc được một số thơ của tác giả Huy Phương đăng trên tuần báo “Đời Mới” ấn hành tại Sài Gòn từ 1951 đến 1955, trong đó có bài thơ nhan đề “Cát Lạnh”
Monday, November 4, 201312:00 AM(View: 7445)
những người công nhân (CN) tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Hà Nội rất khó khăn và bấp bênh