DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,533,482

Du Tử Lê - ‘Mê Hồn Ca,’ hạt ngọc thi ca mang tên Đinh Hùng

Monday, November 26, 201811:48 AM(View: 3278)
Du Tử Lê - ‘Mê Hồn Ca,’ hạt ngọc thi ca mang tên Đinh Hùng

‘Mê Hồn Ca,’ hạt ngọc thi ca
mang tên Đinh Hùng

 

blank
“Nếu vườn hoa thi ca Việt Nam thiếu vắng một Đinh Hùng, thiếu vắng một ‘Mê Hồn Ca’ thì thiệt thòi của đời sống tinh thần chúng ta sẽ là một thiệt thòi rất lớn.” (Hình: Nguyễn Việt/Cafe Văn Nghệ)



Tôi nghĩ, nếu ai kia
bảo Đinh Hùng đã lẩn trốn vào tháp ngà để tìm lấy cho mình những phút giây thần tiên, huy hoàng hoặc để đắm chìm linh hồn trong niềm hoan lạc hưởng thụ; trốn chạy những đau thương đổ vỡ của cuộc đời thì e có phần thiên lệch, bất công.

Bởi, nếu chúng ta cảm thông được tiếng thơ của một Chế Lan Viên qua “Điêu Tàn” – một khoảng trời thâm u, thê thảm, một huyệt mộ vùi sâu cơ đồ của cả một dân tộc – ai dám bảo Chế Lan Viên lánh xa sự thực phũ phàng để tìm về cõi mộng hầu thỏa mãn nhưng khát thèm êm ái, ve vuốt tâm hồn? Trái lại, Chế Lan Viên đã đau khổ gấp trăm ngàn lần cái đau khổ mà thường nhân phải gánh chịu, trong thực thể xã hội đương thời!

Cũng vậy, Đinh Hùng lẩn trốn thực trạng đau thương của thời thế bằng cách trầm mình trong thiên đường tình ái. Nhưng chính tại cõi trú thanh sắc nặng phần lãng mạn này, nhà thơ đã đau khổ thêm một lần nữa. Thế giới phấn hương, hoa bướm chẳng những không giúp nhà thơ quên bớt dằn vặt, vò xé mà nó còn tạo thêm hoàn cảnh để thi nhân nhìn rõ đau thương, đày đọa.

Tôi muốn nói ở mảnh đất đắm đuối truy hoan kia, Đinh Hùng càng thấu cảm cái mệnh số cô đơn, cái ta lạc loài, hoang liêu thêm hơn rất nhiều:



“ôi giữa trời thơ, những đêm hiền hậu
con chim nào kêu vang tiếng trần ai
mấy thu xanh hờn thác lẻ u hoài
thời xa vắng mờ hương lòng trái đất
trong tay nàng ta ngả mình ngây ngất
nghe rõ ràng trên thịt ấm da xuân
ngực dâng cao hơi thở đã mau dần
mùi cỏ lá bỗng thoảng hồn thương nhớ
ta ngẩng lên mặt nàng buồn muôn thuở
ngắm hoa sao lay động dưới khe nguồn
chung mối sầu thơ thẩn với trăng suông
bên sườn núi có con hươu vàng điệp”



Loay hoay lặn ngụp trong mối sầu cao ngút, trong khát vọng vô biên không đường giải thoát, Đinh Hùng quay ra thương tiếc vẩn vơ, than trách số mệnh. Nhưng từ bước chân vô vọng rạc rời trong thế giới tình yêu, ông lại tạo dựng cho mình một niềm tin mới. Một cõi ẩn trú mới. Đó là thế giới huyền bí. Thế giới linh thiêng của những hồn oan thác, và những hoang sơ từ vạn kỷ:

“quên tình ái ta phá tan cung điện
đi ngoài sao thầm lặng khóc trời xanh
xa mắt em xa ánh sáng kinh thành”


Chia tay người tình ở đây không có nghĩa tác giả đã rời bỏ được những khao khát, đam mê tình ái, hương phấn yêu đương, để tìm về cõi tâm linh, vô hình, vô ảnh. Cái cõi giới chỉ cho ông những câu hỏi, không câu trả lời:

“em mộng về đâu?
em mất về đâu?
từng đêm tôi nguyện tôi cầu
đây màu hương khó là màu mắt xưa
em đã về chưa?
em sắp về chưa?
trăng sao tắt ngọn đèn mờ
ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn”
(Gửi Người Dưới Mộ)


Tới đây, tiếng thơ của thi sĩ có phần mong manh, nhẹ nhàng thanh thản hơn. Nó không còn là âm hưởng của những cuồng vọng đắm say, điên cuồng. Nó cũng không còn là những giận hờn, những trách móc, oán than của mặc cảm bị ruồng rẫy phản bội nữa. Nó là những lời tâm sự ngỏ bày, những kể lể, những cầu xin thể hiện lòng ngưỡng mộ, thanh khiết:

“Hỡi hồn tuyết trinh
Hỡi người tuyết trinh
Mê em ta đã thoát thân hình
Nhập hồn cây cỏ đa tình mỗi đêm”
(Gởi Người Dưới Mộ)

Nếu thơ là tiếng nói của đam mê cùng cực, thì thi sĩ Đinh Hùng đã đạt được tới nguồn cội. Suốt thi tập, với 40 bài là những bản ngợi ca tình yêu cuồng nhiệt. Những điệp khúc ái ân đắm lòng, cao độ của một tâm hồn lạc lõng, ngơ ngác giữa chợ người, muốn tìm về núi rừng, nguyên thủy.

Ngay với những đam mê không tưởng về một thế giới hư vô thần kỳ, người ta cũng bắt gặp một Đinh Hùng tha thiết, mê man với phong cách độc đáo. Tựa trong ông đã sẵn chứa một phần vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Trong thế giới mê hoặc, mờ ảo của một ý thức, trộn lẫn cùng những trực cảm, và những ảo giác hư huyễn của tiền kiếp nào đã qua đi, nhờ thế mà tác giả đã giữ được riêng cho mình một niềm tin, một nguồn sáng riêng soi rực tâm thức.

“Trận cười tan hợp núi sông
Cơn mê kỳ thú lạ lùng cỏ hoa
Hý trường đổi lớp phong ba
Mượn tay ngụy tạo xóa nhòa biển dâu”


Với niềm tin tưởng mãnh liệt đó, thi sĩ đi từ cuộc sống phồn tạp tới cõi siêu thoát, bằng những bước chân kiêu ngạo, khinh bạc. Cái kiêu bạc tất nhiên của một kẻ tự tách mình khỏi một thực tại đời sống bon chen, biển lận. Sự vượt lên, rời xa, để xây dựng cho mình một thế giới khác, thế giới nằm ngoài tầm trí tưởng đám đông, đã đưa thi nhân tới cảm thức cô đơn ghê lạnh. Trên viễn trình về thấu nguồn cội, thi sĩ là người duy nhất – kẻ độc hành không một ánh mắt vời theo:


blank
Tranh Đinh Hùng. (Hình: Du Tử Lê cung cấp)




“Cuối thời loạn thương một vùng sao mọc
ta bước lên chân nhịp bước thần kỳ
trở về đây xơ xác mảnh tàn y
giữa hoang địa hiện hồn tòa u ngục
bừng mắt dậy lửa hồi sinh đỏ rực
thịt xương về trong cổ mộ xôn xao
hỏa thiêu rồi làn tử khí lên cao
chiều tái tạo bâng khuâng từng ngọn cỏ
hoa thanh quý nở bừng trang diễm sử
thiên tiên đâu về tắm bến sông đào
ta nghiêng mình làm một trái non cao”

(Mê Hồn Ca)

“trăng bỏ ta đi trăng ảo huyền
mấy trùng biển lạ nhớ bình nguyên
sầu ta đong khắp trường giang thủy
vào cuộc tuần du lại đắm thuyền
ta hát lên trời muôn thuở trước
giờ đây còn lắng khúc giao duyên
thân lưu lạc trở về sông núi
ngươi gọi hồn ai hỡi đỗ quyên”



Từ đó, niềm kiêu hãnh khinh bạc cuộc đời của thi nhân đã đưa thi nhân xa dần, xa dần… để gần thêm, gần thêm mãi cô đơn và cuối cùng cô đơn không còn là một màng lưới bủa vây bên ngoài nữa, mà chính tâm hồn thi nhân là những hình ảnh của cô đơn hiu quạnh đó:


“đi vào mộng những sơn thần yên ngủ
em! kìa em! đừng gọi thức hư vô
hãy quỳ xuống, đọc bài kinh ái mộ:
hồn ta đây thành tượng giữa vô cùng.”
(Trời Ảo Diệu)


Thế giới thi ca Đinh Hùng là một thế giới thần kỳ mang đầy bản sắc sơ khai, rừng rú. Phải chăng, thi sĩ muốn quay về, muốn dựng lại xã hội tự tính tức một xã hội bộ lạc thuở hoang vu. Thời con người còn sống với tính bản tự nhiên, không lý trí, thủ đoạn, với những suy tính, mưu cầu thỏa mãn dục vọng, sản phẩm hãnh tiến của xã hội văn minh tiến bộ. Nhưng đó là thứ văn minh vật chất; văn minh kỹ thuật… Mà mặt bên kia của chúng là sự trì kéo con người về cõi đìu hiu nhân tính.

Bàn về kỹ thuật vận dụng ngôn từ hình ảnh, có người đã cho rằng ông là một “phù thủy ngôn ngữ” – vì sự khéo lựa chọn những ngôn từ, ảnh hình, âm điệu. Cũng có một đôi người không đồng ý với những lý luận theo cách của họ.

Theo thiển ý của tôi thì thời gian đã làm xong công việc sàng lọc cay nghiệt của nó. Mọi bài xích chỉ là những tỵ hiềm nhỏ nhen, đi ra từ mặc cảm thấp kém. Bởi vì, hiển nhiên, thời gian đã để lại cho chúng ta những hạt ngọc thi ca mang tên Đinh Hùng.

Từ đấy, thử nghĩ, nếu vườn hoa thi ca Việt Nam thiếu vắng một Đinh Hùng, thiếu vắng một “Mê Hồn Ca” thì thiệt thòi của đời sống tinh thần chúng ta sẽ là một thiệt thòi rất lớn.



                                                                       Du Tử Lê
                                                                                                                                                                               (từ: NV)


*

Mời tìm đọc:

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
Click vào:

(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ



*

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 3 con gai TYH3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng


Hòa 70
TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, July 30, 202112:23 PM(View: 80)
Phật dạy rằng có vô số lượng kiếp, và tôi đang sống đây là kiếp người, lẽ ra cũng đáng mừng, nhưng lại là người dưới thời “chưa bao giờ tốt đẹp như bây giờ”, nghe ra thật mỉa mai nếu không muốn nói là rất đắng cay. Sau 1975, các xe xích lô ở Nha Trang phải vào hợp tác xã, có ghi biển viết tắt XLNT. Hỏi bác xích lô nghĩa là gì, bác tỉnh bơ: Xin Làm Ngựa Trâu! Ôi chao, người miền Nam và tiếng Việt Nam! Hay thấm thía! Thì đúng là gần nửa thế kỷ rồi làm kiếp ngựa trâu, giờ sắp vào lò luyện ngục, quỷ sẽ dắt đưa đi đầu thai. Chẳng biết sẽ thành chó, mèo, heo, gà hay giun dế… Thành kiếp gì cũng không bằng kiếp người. Ngẫm ra, cái hay của kiếp người là giàu nghèo sang hèn đều có quyền ước mơ. Có anh mơ làm tổng thống, có chị mơ làm hoa hậu, mơ tột đỉnh dù chẳng bao giờ thành sự thực. Nhưng vẫn cứ mơ, vì chẳng có điều 5, điều 7 nào trong hiến pháp cấm kỵ công dân cho dù hạng bét được quyền ước mơ cả. Vậy thì, tôi cũng có quyền mơ viển vông như thế này: mơ làm Chử Đồng Tử, một
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 290)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 178)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 188)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 238)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để