DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,894,296

Du Tử Lê - Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

09 Tháng Mười Hai 20187:27 CH(Xem: 226)
Du Tử Lê - Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

Phạm Cao Hoàng,
tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

 

blank
Tác phẩm “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” của Phạm Cao Hoàng do Thư Ấn Quán xuất bản. (Hình: Du Tử Lê cung cấp)


Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao
Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới.
Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là  “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích.
Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!”

Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà, rất gần nhân thế; rất gần tình yêu con người và; đất nước của ông.
Với tôi, đó là chủ tâm đem vào thơ những địa danh họ Phạm đã sống, như đã từng chết trong chúng.
Với tôi. Đó là hình ảnh không thể thân thiết hơn với đấng sinh thành, với  người yêu (cũng là người bạn đời “Cúc Hoa”) và, với rất nhiều bằng hữu gần, xa trong đời thường của người thi sĩ, vẫn nâng niu, chữ, nghĩa, dù ở nơi chốn nào nơi xứ người…

Ở phần “Phụ Lục” cuối tuyển tập thơ mới nhất, tựa đề “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” do Thư Ấn Quán, in lần thứ ba, tại Hoa Kỳ, 2018, nhà thơ Phạm Văn Nhàn, trong bài “Đất và Người,” viết: “Gần đây, đọc được bài thơ ‘Cha Tôi’ của Phạm Cao Hoàng, viết về người cha đã qua đời cách đây 40 năm, tôi vô cùng xúc động.


‘ông qua đời khi chiến tranh kết thúc
để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi
để lại đàn con trên quê hương tan tác
để lại trong trong tôi vết thương mang theo suốt đời.

bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!
ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng
ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa
những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương’
(Cha Tôi, 2015)”



Cũng từ quá khứ thơm nồng tình bằng hữu, tác giả Phạm Văn Nhàn viết tiếp: “Dạo ấy, mỗi lần ghé Tuy Hòa, tôi ở lại cùng Phạm Cao Hoàng trong căn nhà nhỏ của gia đình Hoàng. Đọc bài thơ ‘Cha Tôi,’ tôi nhớ đến ngôi nhà và hình ảnh bác trai. Bác cao, hơi gầy và da ngăm đen. Cái đen của nắng và gió, của một người nông dân thuần chất. Hiền và độ lượng. Ngôi nhà có cái chái bếp nấu ăn bằng những thanh củi. Ngôi nhà có bộ ván ngựa mà tôi và Trần Hoài Thư thường nằm ngủ…

(…)
Và khi đọc bài thơ ‘Mây Khói Quê Nhà,’ tôi muốn viết một chút về Phú Thứ, quê hương của Phạm Cao Hoàng (*)




mùi hương của đất làm con nhớ
những giọt mồ hôi những nhọc nhằm
cha đã vì con mà nhỏ xuống
cho giấc mơ đời con thêm xanh
mùi hương của đất làm con tiếc
những ngày hoa mộng thuở bình yên
nồi cá rô thơm mùi lúa mới
và tiếng cười vui của mẹ hiền”
(Mây Khói Quê Nhà, 1999)



Bài thơ làm tôi nhớ đến con đường dọc theo nương dẫn thủy nhập điền từ đập Đồng Cam về tưới tiêu cho những cánh đồng rộng lớn. Tôi đã từng đi trên con đường này. Tôi lại nhớ đến năm tháng ở trại A.30 và ngày được thả cho về trên chuyến xe lam chạy trên con đường ấy dọc theo những cánh đồng xanh màu xanh của lúa… (Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 103, 104, 105).
Về tình yêu nơi chốn, ngoài sinh quán Phú Thứ, thì, Đà Lạt là nơi được Phạm Cao Hoàng nhắc tới nhiều nhất. Tựa đó là tình yêu đầu tiên và cũng là cuối cùng của ông, bên cạnh tình yêu ông dành cho những nơi chốn khác:
…Tôi yêu Đà Lạt bởi có Cúc Hoa trong đó. Dường như ta nghe Phạm Cao Hoàng thì thầm như vậy. Ít người có được cái tình và những lời như tác giả ‘Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương’ nói với người bạn đời của mình. Cảm động nhất là những lúc gian nan, hoạn nạn. Như cách đây mấy năm khi Cúc Hoa phải vào nhà thương cấp cứu vì bị đụng xe, lúc trở về phải ngồi xe lăn:

“…em đi xe lăn mà vui
lăn đi em nhé cho vơi nỗi buồn
đưa em về phía con đường
có con sóc nhỏ vẫn thường chào em
hát em nghe bài Je t’aime
kể em nghe lại chuyện tình Cúc Hoa
em đi xe lăn về nhà
mùa xuân nhè nhẹ bước qua bậc thềm”
(Đã Qua Rồi Một Mùa Đông, 2012)

(Trích “Bạt” Nguyễn Xuân Thiệp, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 10, 11)


Như đã nói, tình yêu nơi chốn, tựa bất cứ một thứ tình cảm nào, luôn là những ngọn lửa thương yêu bập bùng trong tâm-thức-thương-tích của một Phạm Cao Hoàng, thi sĩ.
Với tôi, nó không chỉ là vết son đậm trên dung nhan thi ca họ Phạm, mà hiệu rộng ra, đó còn là tình yêu gắn bó, bất biến giữa thi sĩ và đất nước của ông:

“…đi không phải là đi biệt xứ
thương quê nhà còn lại phía sau lưng
lại cùng em lang thang bên hồ Thạch Thảo
nói với em về một đoạn đời buồn
nói với em về những dòng sông lưu lạc
trôi về đâu rồi cũng muốn trở về nguồn.”
(Trích “Chia Tay Đà Lạt,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 37)

Hoặc:

“ngồi bên nhau giọt rượu cay trong mắt
ngồi bên nhau cùng nhớ một quê nhà
quê nhà thì xa mây thì bay qua
đời phiêu bạc như những đám mây trôi giạt
nhớ Ngựa Ô là nhớ những bàn tay ấm áp
tôi thương Ngựa Ô và thương bạn bè tôi.”
(Trích “Thương Nhớ Ngựa Ô,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 52)

Hoặc nữa:
“…bây giờ bốn mươi năm sau
tôi về, mây trắng trên đầu bay ngang
vẫn cùng em đi lang thang
vẫn yêu em đến vô vàn, biết không?
vẫn yêu Đà Lạt vô cùng”
(Trích “Chiều Đi Ngang Qua Thung Lũng Fox,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 86)

Tới đây tôi xin tạm ra khỏi cõi-giới thi ca Phạm Cao Hoàng, bằng mấy câu thơ đẹp của ông, trích từ bài “Đà Lạt và Câu Chuyện về Khu Vườn Thi Sĩ”:


“em mặc chiếc áo dài màu xanh của miền đồi núi
đôi mắt hồn nhiên như một bài thơ tình
(…)
tôi gọi đó là vườn thi sĩ
em gật đầu cười rất nhẹ:
‘em sẽ ở cùng anh trong khu vườn đó’
và bàn tay tôi vừa chạm tim em.”



                                                              Du Tử Lê
                                                                                                        (từ: NV)


Chú thích:
(*) Nhà thơ Phạm Cao Hoàng, nguyên quán: Phú Thứ, Tuy Hòa, Phú Yên. Hiện sống và làm việc tại Virgnia, Hoa Kỳ. Ông đã cho XB tất cả 5 tác phẩm. Hầu hết là thơ. Chỉ có một tập truyện: “Mơ Cùng Tôi Giấc Mơ Đà Lạt.”


*

Mời tìm đọc:

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
Click vào:


ĐỌC THƠ TRẦN YÊN HÒA HƠN 55 NĂM Thơ
(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ



*

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 3 con gai TYH3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng


Hòa 70
TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy



hình Quang ở đám cưới Ô Mai                                                                                                                                                                                                             hình đám cưới Cindy Y.Tran


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Giêng 20199:06 SA(Xem: 68)
Mười giờ đêm, mọi việc đã xong xuôi, cửa tiệm đóng cửa. Tôi nhìn qua một lượt để biết chắc là mọi thứ đã đâu vào đó. Ngay cả cái đèn chớp nháy chữ CLOSED cũng đã được mở lên. Còn hai tiếng nữa là giao thừa. Yên tâm, tôi bước vào nhà bếp. Đám nhân viên nhìn tôi chờ đợi. Hiếm khi có cuộc họp bất thường kiểu này. Cuối năm. Còn hai tiếng nữa đã là năm mới. Cuối ngày. Còn hai tiếng nữa là hết một ngày cuối năm. Ai cũng muốn về nhà cho sớm, dù đã sắp nửa đêm, nhưng vẫn là sớm với những người bắt đầu công việc lúc mười một giờ trưa. Tôi nhìn quanh đám người làm công trong nhà hàng. Ngoài tay đầu bếp trung niên, còn lại là những khuôn mặt trẻ măng. Lẫn trong đó là một khuôn mặt đàn bà cằn cỗi. Thấy tôi vào tới, gã xô ghế đứng bật dậy. Cái laptop mở sẵn trên mặt bàn. “Tôi có chuyện quan trọng muốn trình bày với mọi người,” Gã nói, tia nhìn quét một lượt những khuôn mặt mệt mỏi của đám nhân viên; những kẻ sau cả ngày dài tíu tít công việc, đang chỉ muốn về nhà tắm một cái cho mát, ly rượu ấm
11 Tháng Giêng 201912:08 CH(Xem: 96)
Cha mẹ anh Chắt-Quýt thuộc thành phần bần nông. Cán bộ CCRĐ (cải-cách-ruộng-đất) về địa phương tìm hiểu để bắt rễ-xâu chuỗi, đào tạo cốt cán cho phong trào CCRĐ không những tại địa phương, mà sẽ được đi nơi khác làm cán bộ để phát động phong trào CCRĐ tiếp theo. Ông cán bộ CCRĐ có ghé vào nhà tôi như để làm công tác tìm hiểu quần chúng. Cha tôi đi vắng, tôi đi chơi với bạn bè ngoài đồng. Về nhà, nghe mẹ kể với cha tôi, ông cán bộ CCRĐ là cán bộ miền nam tập kết ra bắc được cử đi làm CCRĐ. Ông đội nón cối. Trời mưa, ông khoác tấm ni-lông màu cánh gián buộc choàng vào cổ, đi dép cao su, quần dài được xắn lên quá đầu gối, bắp thịt trên đầu gối của ông ấy to bằng quả bòng (quả bưởi). Ông ấy tự giới thiệu tên ông là Thận. Cán bộ Thận mang ba-lô quần áo và đồ dùng sinh hoạt cá nhân vào nhà cha mẹ anh Chắt-Quýt để “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Cha mẹ anh Chắt-Quýt có sáu người con. Cán bộ CCRĐ chọn ba người trưởng thành, nhanh nhẹn ra làm việc. Anh Chắt-Quýt lớn tuổi, được đào tạo
07 Tháng Giêng 20199:59 SA(Xem: 132)
Sau tháng ngày giá lạnh, sau Giáng Sinh, khi nhạc Xuân vang lên, vang vọng trong nắng ấm báo hiệu cho năm mới sắp sang của Tết Dương Lịch và kéo dài cho đến Tết Nguyên Đán. “Ta ca vang, đàn nhịp nhàng, đón Xuân sang. Vui hân hoan, tình rộn ràng, mừng Xuân mới” như Ca Khúc Mừng Xuân của Văn Phụng. Khi đất nước phân chia, miền Nam VN thuở đó còn thanh bình, những ca khúc đón Xuân như: Xuân & Tuổi Trẻ của La Hối (lời Thế Lữ) năm 1946, Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước năm 1949 với điệu Valse (luân vũ) vui tươi, rộn ràng của khúc hoan ca (Dương Thiệu Tước còn 3 ca khúc Vui Xuân, Vườn Xuân Thắm Tươi, Tìm Xuân), Bến Đàn Xuân của Ngọc Bích vào cuối thập niên 40, nhạc phẩm Xuân Đã Về của Minh Kỳ năm 1954, Xuân Thôn Giã của Văn Phụng năm 1956, và, hình ảnh miền Nam Việt Nam được phác họa qua ca khúc Xuân Miền Nam của Văn Phụng: “Miền Nam! Niềm vui chan chứa đêm mơ hồ. Miền Nam! Tình xuân sưởi ấm thêm đôi bờ. Giờ đây, mùa xuân đang xóa tan mây mờ. Quên đi đau thương sầu nhớ. Vui ca
02 Tháng Giêng 20198:30 SA(Xem: 171)
Người đàn ông trẻ đón ông Lâm Định ở phi trường nội địa thành phố D. giơ tay bắt, miệng cười vồn vã: “Chào mừng giáo sư Lâm Định. Tôi là Andreas Moretti, người thường xuyên liên lạc với ông từ nhiều tháng qua. Ông vẫn khoẻ? Chuyến bay thoải mái, không có gì trở ngại chứ, thưa giáo sư?”. “Rất hân hạnh được gặp anh”, ông Lâm tươi mặt, cố nén cái đau vạch đằm đằm chữ thập trên phiến lưng. “Tôi xin có lời khen ngợi, dấu giọng Việt ngữ của anh vô cùng tài hoa, hiếm thấy người Âu Tây nào đạt được trình độ như vậy”. Kiểu nói khách sáo ông thường sử dụng mỗi lần chứng đau khớp tới cữ hoành hành. Moretti cuốn vội tờ giấy cứng tô đậm mấy chữ tô dấu rõ ràng “Giáo sư Lâm Định”, cắp vào nách, dằn lấy cái xắc da nâu cũ từ tay ông giáo sư, bật tiếng cười ngắn: “Giáo sư quá lời đó thôi”. Rồi anh nhỏ giọng ra điều quan trọng: “Mà… mà biết đâu chừng, kiếp trước tôi là người Việt Nam, thưa ông”. Ông Lâm cười xoà, thoáng đưa mắt quan sát anh thanh niên. Anh cao hơn ông nửa đầu, tóc nâu
29 Tháng Mười Hai 20188:14 SA(Xem: 181)
Trong 14 bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đã lấy những chữ đầu đặt thành hai câu đối: “Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc, Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên” - Phi Hồ Ngoại Truyện - Tuyết Sơn Phi Hồ - Liên Thành Quyết - Thiên Long Bát Bộ - Xạ Điêu Anh Hùng - Bạch Mã Khiếu Tây Phong - Lộc Đỉnh Ký -Tiếu Ngạo Giang Hồ - Thư Kiếm Ân Cừu Lục - Thần Điêu Hiệp Lữ - Hiệp Khách Hành - Ỷ Thiên Đồ Long - Bích Huyết Kiếm - Uyên Ương Đao. Ngoài ra có đoản truyện Việt Nữ Kiếm. Đề cập đến tình yêu trong tác phẩm Kim Dung, không thể nào kể hết. Có các bài viết vễ lãnh vực nầy chỉ nêu tổng quát những nhân vật trong cuộc tình nhưng cũng chưa hết, cho thấy sự đa dạng trong toàn bộ tác phẩm. Trong mỗi tác phẩm võ hiệp của Kim Dung ngoài chưởng pháp, kiếm thuật, võ công… tình yêu vẫn là đề tài chính. Tình yêu trong thế giới võ lâm hòa hợp với thiên nhiên nên rất lãng mạn. Ngang trái tình yêu trong võ hiệp gay cấn, ly kỳ, cay đắng hơn tiểu thuyết tình cảm vì hận thù giữa chính và tà, hận thù môn phái,