DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,932,515

Du Tử Lê - Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

09 Tháng Mười Hai 20187:27 CH(Xem: 392)
Du Tử Lê - Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

Phạm Cao Hoàng,
tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

 

blank
Tác phẩm “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” của Phạm Cao Hoàng do Thư Ấn Quán xuất bản. (Hình: Du Tử Lê cung cấp)


Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao
Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới.
Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là  “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích.
Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!”

Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà, rất gần nhân thế; rất gần tình yêu con người và; đất nước của ông.
Với tôi, đó là chủ tâm đem vào thơ những địa danh họ Phạm đã sống, như đã từng chết trong chúng.
Với tôi. Đó là hình ảnh không thể thân thiết hơn với đấng sinh thành, với  người yêu (cũng là người bạn đời “Cúc Hoa”) và, với rất nhiều bằng hữu gần, xa trong đời thường của người thi sĩ, vẫn nâng niu, chữ, nghĩa, dù ở nơi chốn nào nơi xứ người…

Ở phần “Phụ Lục” cuối tuyển tập thơ mới nhất, tựa đề “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” do Thư Ấn Quán, in lần thứ ba, tại Hoa Kỳ, 2018, nhà thơ Phạm Văn Nhàn, trong bài “Đất và Người,” viết: “Gần đây, đọc được bài thơ ‘Cha Tôi’ của Phạm Cao Hoàng, viết về người cha đã qua đời cách đây 40 năm, tôi vô cùng xúc động.


‘ông qua đời khi chiến tranh kết thúc
để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi
để lại đàn con trên quê hương tan tác
để lại trong trong tôi vết thương mang theo suốt đời.

bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!
ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng
ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa
những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương’
(Cha Tôi, 2015)”



Cũng từ quá khứ thơm nồng tình bằng hữu, tác giả Phạm Văn Nhàn viết tiếp: “Dạo ấy, mỗi lần ghé Tuy Hòa, tôi ở lại cùng Phạm Cao Hoàng trong căn nhà nhỏ của gia đình Hoàng. Đọc bài thơ ‘Cha Tôi,’ tôi nhớ đến ngôi nhà và hình ảnh bác trai. Bác cao, hơi gầy và da ngăm đen. Cái đen của nắng và gió, của một người nông dân thuần chất. Hiền và độ lượng. Ngôi nhà có cái chái bếp nấu ăn bằng những thanh củi. Ngôi nhà có bộ ván ngựa mà tôi và Trần Hoài Thư thường nằm ngủ…

(…)
Và khi đọc bài thơ ‘Mây Khói Quê Nhà,’ tôi muốn viết một chút về Phú Thứ, quê hương của Phạm Cao Hoàng (*)




mùi hương của đất làm con nhớ
những giọt mồ hôi những nhọc nhằm
cha đã vì con mà nhỏ xuống
cho giấc mơ đời con thêm xanh
mùi hương của đất làm con tiếc
những ngày hoa mộng thuở bình yên
nồi cá rô thơm mùi lúa mới
và tiếng cười vui của mẹ hiền”
(Mây Khói Quê Nhà, 1999)



Bài thơ làm tôi nhớ đến con đường dọc theo nương dẫn thủy nhập điền từ đập Đồng Cam về tưới tiêu cho những cánh đồng rộng lớn. Tôi đã từng đi trên con đường này. Tôi lại nhớ đến năm tháng ở trại A.30 và ngày được thả cho về trên chuyến xe lam chạy trên con đường ấy dọc theo những cánh đồng xanh màu xanh của lúa… (Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 103, 104, 105).
Về tình yêu nơi chốn, ngoài sinh quán Phú Thứ, thì, Đà Lạt là nơi được Phạm Cao Hoàng nhắc tới nhiều nhất. Tựa đó là tình yêu đầu tiên và cũng là cuối cùng của ông, bên cạnh tình yêu ông dành cho những nơi chốn khác:
…Tôi yêu Đà Lạt bởi có Cúc Hoa trong đó. Dường như ta nghe Phạm Cao Hoàng thì thầm như vậy. Ít người có được cái tình và những lời như tác giả ‘Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương’ nói với người bạn đời của mình. Cảm động nhất là những lúc gian nan, hoạn nạn. Như cách đây mấy năm khi Cúc Hoa phải vào nhà thương cấp cứu vì bị đụng xe, lúc trở về phải ngồi xe lăn:

“…em đi xe lăn mà vui
lăn đi em nhé cho vơi nỗi buồn
đưa em về phía con đường
có con sóc nhỏ vẫn thường chào em
hát em nghe bài Je t’aime
kể em nghe lại chuyện tình Cúc Hoa
em đi xe lăn về nhà
mùa xuân nhè nhẹ bước qua bậc thềm”
(Đã Qua Rồi Một Mùa Đông, 2012)

(Trích “Bạt” Nguyễn Xuân Thiệp, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 10, 11)


Như đã nói, tình yêu nơi chốn, tựa bất cứ một thứ tình cảm nào, luôn là những ngọn lửa thương yêu bập bùng trong tâm-thức-thương-tích của một Phạm Cao Hoàng, thi sĩ.
Với tôi, nó không chỉ là vết son đậm trên dung nhan thi ca họ Phạm, mà hiệu rộng ra, đó còn là tình yêu gắn bó, bất biến giữa thi sĩ và đất nước của ông:

“…đi không phải là đi biệt xứ
thương quê nhà còn lại phía sau lưng
lại cùng em lang thang bên hồ Thạch Thảo
nói với em về một đoạn đời buồn
nói với em về những dòng sông lưu lạc
trôi về đâu rồi cũng muốn trở về nguồn.”
(Trích “Chia Tay Đà Lạt,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 37)

Hoặc:

“ngồi bên nhau giọt rượu cay trong mắt
ngồi bên nhau cùng nhớ một quê nhà
quê nhà thì xa mây thì bay qua
đời phiêu bạc như những đám mây trôi giạt
nhớ Ngựa Ô là nhớ những bàn tay ấm áp
tôi thương Ngựa Ô và thương bạn bè tôi.”
(Trích “Thương Nhớ Ngựa Ô,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 52)

Hoặc nữa:
“…bây giờ bốn mươi năm sau
tôi về, mây trắng trên đầu bay ngang
vẫn cùng em đi lang thang
vẫn yêu em đến vô vàn, biết không?
vẫn yêu Đà Lạt vô cùng”
(Trích “Chiều Đi Ngang Qua Thung Lũng Fox,” Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 86)

Tới đây tôi xin tạm ra khỏi cõi-giới thi ca Phạm Cao Hoàng, bằng mấy câu thơ đẹp của ông, trích từ bài “Đà Lạt và Câu Chuyện về Khu Vườn Thi Sĩ”:


“em mặc chiếc áo dài màu xanh của miền đồi núi
đôi mắt hồn nhiên như một bài thơ tình
(…)
tôi gọi đó là vườn thi sĩ
em gật đầu cười rất nhẹ:
‘em sẽ ở cùng anh trong khu vườn đó’
và bàn tay tôi vừa chạm tim em.”



                                                              Du Tử Lê
                                                                                                        (từ: NV)


Chú thích:
(*) Nhà thơ Phạm Cao Hoàng, nguyên quán: Phú Thứ, Tuy Hòa, Phú Yên. Hiện sống và làm việc tại Virgnia, Hoa Kỳ. Ông đã cho XB tất cả 5 tác phẩm. Hầu hết là thơ. Chỉ có một tập truyện: “Mơ Cùng Tôi Giấc Mơ Đà Lạt.”


*

Mời tìm đọc:

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
Click vào:


ĐỌC THƠ TRẦN YÊN HÒA HƠN 55 NĂM Thơ
(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ



*

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 3 con gai TYH3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng


Hòa 70
TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy



hình Quang ở đám cưới Ô Mai                                                                                                                                                                                                             hình đám cưới Cindy Y.Tran


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Ba 20193:12 CH(Xem: 11)
Về phía Hoa Kỳ, sách vở tài liệu Hoa Kỳ đều cho rằng Hoa Kỳ giúp VNCH hay NVN nhằm chống lại sự xâm lăng của BVN, nhứt là sự bành trướng của TC. Tuy nhiên, kết cuộc bi thảm của VNCH năm 1975 đặt ra một câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có thật tâm giúp VNCH tự bảo vệ và chống cộng sản không? Khi Bắc Triều Tiên xâm lăng Nam Triều Tiên (NTT) năm 1950 thì Hoa Kỳ hưởng ứng lời kêu gọi của Liên Hiệp Quốc, đưa quân qua giúp NTT chống BTT. Tại đây, Hoa Kỳ đụng độ với Trung Cộng, và cuối cùng hai bên NTT và BTT ký hiệp ước đình chiến Bàn Môn Điếm (Panmunjom) ngày 27-7-1953. Để bảo vệ NTT, Hoa Kỳ ký với NTT ngày 1-10-1953 Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương giữa Hoa Kỳ và Cộng Hòa Triều Tiên (Mutual Defense Treaty Between the United States and the Republic of Korea). Tháng 9-1954, TC đe dọa Trung Hoa Dân Quốc (THDQ tức Đài Loan), pháo kích hai quần đảo Kim Môn - Mã Tổ (Kinmen-Mazu). Hai quần đảo nầy nằm cách hải cảng Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến (Fujian) của TC khoảng 15 Km, và nằm cách bờ biển
17 Tháng Ba 20196:08 CH(Xem: 53)
Năm 2016, trong bài viết Đôi Dòng Với Tiếng Chim Gọi Đàn của tôi cho Đặc San Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Nhập Ngũ của Khóa I Nguyễn Trãi, Trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Tôi trích đăng các bài viết của bạn bè viết cho các người bạn đã nằm xuống, trong đó có đoạn của Đào Hoàng Việt. Và, tôi viết: “Màu tím là màu của bi thương, trong cuốn Văn Nhân & Tình Sử tôi viết 3 bài liên quan đến cuộc tình trong thơ của Hữu Loan, trong nhạc của Hoàng Trọng và Hoàng Nguyên... man mác nỗi buồn của người cầm bút. Khi đọc những dòng cuối của Đào Hoàng Việt khi viết về Lê Minh Châu với hình ảnh tà áo tím của người yêu nơi nhĩa trang, tôi lặng người với hình bóng đau thương: “Ngày tiễn đưa Lê Minh Châu ra Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, anh em cùng khóa tự khiêng quan tài bạn mình. Tôi ở lại đến phút cuối cùng, đứng xa để nhìn lại lần cuối nơi bạn mình vĩnh viễn an nghỉ. Mọi người về hết chẳng còn ai duy chỉ còn một tà áo tím buồn với mái tóc dài phủ bờ vai phất phơ trong nắng chói chang giữa khoảng không gian
12 Tháng Ba 20191:10 CH(Xem: 96)
Tác phẩm Bác Sĩ Zhivago (tiếng Anh: Doctor Zhivago, tiếng Pháp: Docteur Jivago) được giải Nobel Văn Chương năm 1958 nhưng tác giả Boris Pasternak (1890-1960) đang sống trong chế độ CS Liên Xô nên không được sang Thụy Điển nhận giải và bị Hội Các Nhà Văn Xô Viết (The Soviet Writers Union) kết tội là kẻ phản động, loại ra khỏi tổ chức!. (Tháng 12 năm 1989, con trai của Boris Pasternak là nhà văn Evguenii đã được mời sang Thuỵ Điển nhận giải thưởng thay ông, với những nghi thức long trọng như lễ trao giải chính thức). Boris Pasternak là nhà thơ đã ấn hành nhiều thi phẩm và truyện ngắn, tự truyện, Dr. Zhivago là tác phẩm đầu tay đưa tên tuổi ông trên đài danh vọng, là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trên thế giới. Boris Pasternak phác họa tác phẩm trong bối cảnh xảy ra bầu không khí khủng bố và nghi kỵ của thời đại Stalin vào thời kỳ “Cách Mạng 1917”. Zhivago sống trong giai đoạn bất an và không thể chấp nhận ách cai trị độc đoán của chế độ này nên tự tìm lối thoát trong cuộc
10 Tháng Ba 20199:14 SA(Xem: 103)
Bãi biển Cù Ti đã bớt phần hoang sơ. Những nhà nghỉ vá víu luộm thuộm, những nhãn hiệu Coca Cola, Pepsi, Tiger Beer… phần phật, chập chờn, chưa định vị. Các cô gái Chàm trang phục nửa Tây, nửa Chàm, váy dài sặc sỡ, tạp nhạp, áo thun những hình tượng, những câu tiếng Anh xa lạ, những đứa bé mặt mày cháy nắng, mệt mỏi cõng em mệt mỏi, những người Chàm già vấn khăn trắng đã ngả màu mặc kệ, ngồi chò hỏ nhìn lung ra biển, không thấy trai tráng đâu, hay trai tráng và cụ già dung nhan xơ xác, tứ chi lụn bại như nhau? Chỉ có hàng quán là tươi trẻ, nhộn nhạo: nhạc tiếng Anh, tiếng Hàn lấn át, thỉnh thoảng mới ngoi lên được những câu thơ Chàm xã hội chủ nghĩa được phổ nhạc theo làn điệu quan họ Bắc Ninh lai Bắc Kinh, tiếng ồn ào nhậu nhẹt, ồn ào đù má, đù mẹ từ đám thanh niên người Kinh, những người nuôi tôm trong những đám ruộng ngày xưa là bãi lầy nước lợ đất Chàm. Đồn công an biên phòng một thuở hồ hởi giết người yếu thế, vẫn đứng vững như chân lý, họ vẫn còn đó với áo xanh chiến tranh
06 Tháng Ba 20195:57 CH(Xem: 158)
Trưa nay tôi đến phi trường San Jose đón chị Mỹ Lệ, chị từ Virginia sang chơi, đây là lần đầu tiên chị đến vùng vịnh Cựu Kim Sơn nổi tiếng này. Chị Mỹ Lệ có họ hàng với tôi, ông nội của chị là anh bà ngoại tôi. Má tôi và ba chị là bà con cô cậu. Chị bằng tuổi tôi nhưng vì “vai lớn” nên tôi phải gọi chị. Vừa gặp mặt, chị vỗ vai tôi vừa nói vừa cười: “Ngôn đây hả? Sao bây giờ trông lạ quá vậy, nhớ hồi xưa đẹp trai lắm mà!” Tôi bật cười, “Bây giờ thì già nua xấu xí quá phải không chị? Phần chị thì em thấy chị cũng vẫn vậy, không thay đổi mấy, lâu ngày gặp lại em nhận ra chị ngay.