DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,346,713

Du Tử Lê - Hành Trình Thơ Từ Hoài Tấn

Friday, April 3, 20207:16 AM(View: 743)
Du Tử Lê - Hành Trình Thơ Từ Hoài Tấn

                                    Hành Trình Thơ
                             Từ Hoài Tấn


Mưa, chiếc bóng thứ hai, trong hành trình thơ Từ Hoài Tấn?

blank
    Nhà thơ Từ Hoài Tấn

Kể từ giữa thập niên 1960, tiếng thơ Từ Hoài Tấn đã được nhiều người biết tới, qua những bài thơ tình trên các tạp chí, tuần báo văn chương như Văn, Nghệ Thuật, Trình Bày, Khởi Hành v.v… Nhưng bản chất khiêm nhường, kín đáo, trong đời thường rất ít người biết ông là nhà thơ (ngay cả những bạn thân tình). Với tôi, đây là một tâm-thế-sống, chọn lựa lui vào, ẩn sâu trong cõi riêng, rũ bỏ phồn tạp đời thường - - Phong cách trực diện với nín lặng, cô đơn thường thấy ở một số thi sĩ? Hay đó là hiệu ứng, “phản cung” những tra khảo, cay nghiệt của xã hội?

Không rõ, nhưng tôi trân trọng tính “lui vào, ẩn sâu cõi riêng” rất thi sĩ của ông.

Về tính khiêm cung của Từ Tấn Hoài, nhà thơ và cũng là họa sĩ Võ Công Liêm, hiện cư ngụ tại Canada, từng cho biết:



“Tôi thân quen với Từ Hoài Tấn hồi năm 1968. Sau tháng 4/75 thì chúng tôi được đời chọn cho mỗi người một cuộc sống khác nhau. Thuở ấy tôi chưa biết Từ Hoài Tấn là nhà thơ. Mặc dù anh đã có thơ đăng rải rác trên các tạp chí ở miền Nam. Chúng tôi trao đổi những chuyện thế sự qua tách cà phê hoặc nhiều khi họp mặt anh em. Tuyệt nhiên không nghe ai nói anh làm thơ. Tôi thường gọi tục danh anh mỗi khi xưng hô, đâu có biết, về sau này người bạn thân tôi là thi sĩ. Từ đó tôi thường hay đọc thơ anh và yêu thơ anh.


“Khi sống gần gũi những năm tháng sau nầy mới nhận ra được nhân cách sống của anh rõ nét hơn. Anh trầm lắng hơn trước đây hay đời biến đổi anh, tôi nghĩ như thế. Nhưng không, anh vẫn hài hòa như ngày nào, tuy nhiên vẫn không dấu được nỗi thầm kín trên gương mặt anh, không phải vì làm thơ mà anh trở nên thơ thẩn để cho ra ‘thi sĩ’. Cái bản chất anh là thế! Bởi vì xưa nay anh không tỏ một ‘dấu yêu’ nào là anh làm thơ và không chứng minh điều gì về thơ cả, anh ung dung trong tư thế đó. Tôi đem lòng khâm phục đức tính nhân hậu, khiêm tốn của một nhà thơ như anh…” (1)



Có dễ khởi đi từ tình thân trải dài nhiều năm trong đời thường, nên khi nhận định về cõi-giới thơ Hoài Tấn, họ Võ đã có những ghi nhận khá sâu sắc, cụ thể:
“Thuở đó và ngay cả bây giờ có rất nhiều người làm thơ, làm thơ vần lục bát, thơ năm chữ, bảy chữ, thơ tự do, thơ mới và thơ tân hình thức. Tôi thích thơ Từ Hoài Tấn dưới mọi thể anh làm. Thơ anh phản ảnh nhiều mặt tình cảm, đời sống, quê hương đất nước và tình người. Tất cả chứa đựng chất hiện thực và hiện sinh trong thơ anh, có nhiều bài thơ đọc lên thấy được đôi điều mà anh trút hết sự thầm kín đó vào thế giới nội tâm hơn là thế giới ngoại hình, rồi từ đó anh phá lệ, vượt thoát qua mọi thể thơ anh viết. Thơ anh tiềm ẩn và sáng tạo, giòng thơ đi lần vào dạng thơ siêu thực, đó là khuynh hướng siêu thực thơ (surrealism poetry) mà rất ít tìm thấy ở những nơi khác. Anh muốn vượt ra khỏi hiện hữu để trở về bản chất cố hữu của riêng anh.
“Từ Hoài Tấn dồn hết những xúc cảm nội tại vào thơ qua những tình huống xẩy ra trong đời tác giả. Những tai ương, những khốn cùng mà anh tiếp cận với cuộc đời, đặc biệt về mặt tình cảm nói chung là nỗi ray rứt không nguôi trong dòng đời anh đi qua và anh nhủ thầm điều bất hạnh đó chỉ dành cho anh. Chính những băn khoăn với đời, với tình mà biến anh trở nên trầm lắng, trầm lắng của bản chất hay trầm lắng bởi tuyệt vọng? Đó là cái nhìn dưới mắt tôi qua đôi mắt sầu muộn của Từ Hoài Tấn.
“Gởi vào em một cơn mưa
Cơn mưa đổ hết canh khuya khoắt nầy.

(Gởi tặng Ph.1970)

“ ‘Canh khuya’ Từ Hoài Tấn chưa thấy đêm sâu, anh cho thêm chữ ‘khoắt’ để thành ngữ nầy gói trọn nỗi nhớ của anh. Cho nên anh mượn thiên nhiên để gởi gắm nỗi thầm kín đó, thơ Từ Hoài Tấn nặng hình dung từ và ẩn dụ vì thế ngâm lên cũng thấy được cái chất lãng mạn riêng của Từ tiên sinh.

“Anh sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến, anh đối đầu với lửa đạn. Anh nuốt đau thương của vận nước trong tim gan anh. Từ Hoài Tấn không ta thán hay phẫn nộ. Anh điềm nhiên tự tại như dòng sông trôi về biển mẹ, trước những khắc khoải đó anh không oán, không trách mà coi như đó là thân phận làm người. Anh nuôi dưỡng tất cả những biến cố đời trong tâm trí anh để anh phát tiết những câu thơ hàm chứa đầy đủ yếu tố nhân sinh quan và chính là con đường giải thoát tâm hồn của một nhà thơ.

 
Nỗi trăn trở đó hiện diện trong thơ Từ Hoài Tấn là thảm kịch đời mà hình như anh gánh chịu, một cảnh đời bề bộn, xung đột giữa nội quan và ngoại quan đã làm cho Từ Hoài Tấn quặn mà không nói nên lời, điều ấy anh luôn luôn hoài niệm cho tới ngàn sau. Đọc bài thơ ‘Mạ’ anh nói lên cái tình của người mẹ nuôi con, nghe rất cảm động, anh xử dụng thể thơ 7 chữ, đọc lên nghe phảng phất lục bát của Tú Xương; nghe thử:
 

“Hai sương một nắng nào đâu sá

Con bầy một lứa phận nữ nhi

Lều tranh cuối vườn nương nhà ngoại

Tháng chờ năm đợi buổi người đi

“Thương nhớ một đời ta là mạ

Nhưng hồn ta vất vưởng vẫn lệ nhoà”

(Mạ 1998)

“Đọc thơ Từ Hoài Tấn cho tôi một cảm giác lâng lâng, lạc vào thế giới huyền ảo của mộng mơ, lúc chơi vơi, lúc chìm đắm giữa một khung trời lập thể đầy sắc màu. Anh thả xuống những câu thơ nghe lạ tai, nhưng lại truyền cảm, cái hay của Từ Hoài Tấn là ở chỗ đó!

“Trong tập ‘Hành Tinh Phiêu Lạc’ trang đầu ‘Mở’ thay lời tựa, tác giả chỉ nói lời giản dị (16 chữ) nhưng trọn cả hành trình anh đi. Đó là cái chân tình của nhà thơ như anh, không phải anh tiết kiệm ngôn ngữ để nói về đứa con tinh thần mà anh đã cưu mang, chắt chiu. Có lẽ, Từ Hoài Tấn cho rằng có nói cũng không cùng; ai nghĩ sao thì nghĩ, có sứt môi méo miệng cũng là con anh, nhưng phải nghĩ một cách sâu xa, chính trong cái ‘khác đời’ đó là cái đẹp chân phương ‘Le laid peut etre beau,le joli jamais’ (P.Gauguin) Đúng! Từ Hoài Tấn chấp nhận cái đẹp một ít hơn cái gì trau chuốt cho đẹp. Vì thế mà tôi mến cái thủy chung của anh, thiết tưởng người đọc sẽ tìm gặp một cảm nhận như tôi.

“Quay về - một mối

Ra đi - muôn đường

Tìm em - nguồn cội

Mấy trời - tang thương.”

“Tôi thích cái lối chơi thơ của anh. Từ Hoài Tấn chế cái gạch ngang (-) như nhấn mạnh cho người đọc hiểu cuộc đời anh là thế đó. Du Tử Lê thì chặt (/) xuống mỗi con chữ, thành thử khi đọc hay ngâm thơ ông có cái gì như bóp cuốn họng mình lại, nhưng làm quen hình thức đó rồi, đến khi đọc thì thấy thơ của Du tiên sinh hay siêu việt và bay bổng. Cho nên thơ nó nằm ở cõi phi ấy nhưng phải khởi từ cõi thực. Cho dù gạch ngang hay gạch dọc, chưa phải xác định được một bài thơ đặc thù, bởi một bài thơ không phải là muốn nói một cái gì mà hiện-hữu (A poem should not mean but be) ngoài ra có những siêu lý của thơ nghĩa là thơ phải đi lạc đường mới là thơ hay! Tôi nói dông dài về thơ, tại vì thơ của Từ Hoài Tấn tợ như thơ Thiền. Nghe thiền sư Cổ Đức làm bài thơ 4 chữ này:

“Khi đói ta ăn Khi mệt ta ngủ.”

“Chỉ mấy dòng thơ ngắn mà diễn được vòng luân hồi và thuyết vạn vật nhứt thể của đạo Phật. Từ Hoài Tấn là đệ tử chân chính của những nhà thơ thiền(?) cho nên bài thơ mở đầu cho tập thơ “Hành Tinh Phiêu Lạc” cũng được ngắn gọn và thâm hậu như lời nhắn gởi với muôn trùng…
“Tôi nghĩ, chính lối sống vô tư của anh đã giúp anh vượt qua những thử thách, những gian khổ từ trong trại học tập cho đến khi trở về nguyên quán. Từ Hoài Tấn không muốn ai quản chế mình một lần nữa, anh cho rằng tự-giác-giác-tha, anh tự khắc phục anh, hội nhập với đời, thích nghi kịp thời như anh đã lao mình; chính sự dấn thân của anh là những dòng chảy bất tận trong thơ. Từ Hoài Tấn một con người nhạy cảm về tình cảm (sentimental) về tình người cũng như thiên nhiên. Do đó thơ Từ Hoài Tấn phong phú và dồi dào. Từ làm thơ đa dạng, có khi niêm luật, có khi tự do… theo tôi nghĩ thơ anh xây dựng dưới dạng thức nào, tiết điệu trong thơ anh là tiết điệu của thời thượng hôm nay.
“Thơ lục bát Từ Hoài Tấn làm nghe điệu và mềm, chữ dùng rất Huế. Đan cử bài thơ nầy:

“Ngày dài lóc cóc ngoài hiên

Ngựa xe qua hết một miền còn lưa

Ngày ngồi nắng đổ chưa bưa

Như sầu ai thắp canh khuya chưa tàn.”

(Dáng thơ)

“Từ Hoài Tấn có những bài thơ tự do, thơ không vần (blank verse) nhưng đọc lên vẫn thấy như có âm hưởng của thơ vần đó là cái vi vu theo tiết nhịp vần xoay mà cuộc sống là biến động miên man theo mảnh lòng người hoài mong; tự do và thoát tục.

“Tôi đứng bên kia con đường

Một ngày đầu đông

Đợi người tình qúa khứ

Và mong đời nhẹ gót qua đây…”

(Huế-1968) (Nđd.)

Thơ Từ Hoài Tấn, những game màu khẩm nặng trầm tích.

Trên đây là chân dung thơ Từ Hoài Tấn, vẽ bằng chữ viết của Võ Công Liêm, qua thi phẩm đầu tay “Hành Tinh Phiêu Lạc” xuất bản năm 2003, bởi Nhà XB Thuận Hóa. Gần mười năm sau, năm 2012 Từ Hoài Tấn cho ra đời thi phẩm “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” - - Như tôi biết, đó là thi phẩm mới nhất của ông, tính tới hôm nay.


blank

Vẫn là những cảm quan, cái nhìn đi ra từ trái tim mẫn cảm của một nhà thơ chọn ăn, ở một đời với cô quạnh, nhưng với “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” Từ Hoài Tấn đã cho thấy, dường ông bước lùi sâu hơn vào cõi riêng của mình. Tôi hiểu, khi chọn tựa đề “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” cho thi phẩm mới của mình, tác giả cho thấy dòng đời vẫn xuôi chảy, dù chúng ta có chạy, đi theo hay đứng lại. Nhưng tâm thức của mỗi cá nhân vốn độc lập. Nó nằm ngoài định luật tự nhiên này - - Hiểu theo nghĩa chúng ta có toàn quyền chọn cho mình một thái độ ứng hợp: Xuôi theo hay đứng lại, bên lề…

Với Từ Hoài Tấn, chẳng những không “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” mà thơ ông còn cho thấy quá khứ, thiên nhiên những bức tranh tĩnh lặng, tựa những game màu cũng đã khẩm nặng trầm tích qua những liên tưởng sắc, buốt, xỉa-xói-vết-thương:




“Ly thủy tinh trong vắt như nỗi buồn không soi đáy

Khuôn mặt em hình quả mãng cầu gai

Ta nhảy múa với niềm vui cô độc


“Một kẻ lạ đi qua

Lời nguyền rủa

Như thanh kiếm chém vào mặt


“Một cô nàng đi qua

Tiếng cười vỡ

Ly thủy tinh ném xuống mặt đường


“Ngày đi qua

Thì thầm điệu ru tội lỗi

Đôi tình nhân hôn nhau cuối hẻm”

(Trích “Trong quán rượu”)


Hoặc:


“Ta thử khóc và cười mỗi ngày

Hình như không ai nhìn thấy

Ngày đi và đêm xuống

Không có nghĩa gì với gã ăn mày mù lòa tự nhiên đi qua công viên

Hay ngồi lặng lẽ trên băng ghế


“Ngày đi và đêm xuống mối tình em mang rơi theo

Sao viên đá nặng vẫn đeo trên cổ.”

(Trích “Khúc Ban Chiều”).


Hoặc nữa:


“Trong một cố gắng không dừng lại

Tôi hẹn hò em

Ám hiệu ngắn

9 giờ sáng – góc ngã tư – bờ tường tím – đội nón xanh

Tin đi

Người đi

Cuộc hẹn đi

Thời gian đi


“Và như thế

Trong một cố gắng không dừng lại

Tin mất

Người mất

Thời gian mất


“Chỉ còn lại

Tôi”.

(“Cuộc hẹn”)



Vẫn với Từ Hoài Tấn, chẳng những không “Đi, Đứng và chạy… với thời gian” mà ông còn cho thấy chia ly và bóng tối từ những tháng, năm khuất lấp vẫn tìm về trong thơ ông, tựa những game màu ám-dụ, đầy những liên tưởng sắc, buốt; mang theo những lát dao lạnh lùng đào-xới-những-vết-thương cũ, mới:



“Trả lại cho tình em vì không còn cách nào giữ lại em

Khi em đã là người khác

Khi đôi mắt em là ngọn lửa khác

Khi lời tình yêu đã là tiếng vang vọng

Và khi ngày đã trở qua đêm”

(Trích “Chỗ không cùng”)


Hoặc:


“Vào những đêm khuya khi vầng trăng không còn

Sao Hôm dần biến mất

Anh tìm em trong bóng mây qua

Đôi mắt em ẩn chứa niềm bí mật


“Chúng tôi sống lặng lẽ mơ ước trong gió bụi của khốn khổ

Hàng đêm nhìn lên khoảng trời xanh

Thì thầm cầu nguyện và mong đợi phép lạ…”

(Trích “Những ngôi nhà thuê ở đường số 37”)


Tuy nhiên, có dễ mưa mới người bạn hoặc, nói một cách thậm xưng, là người tình thủy chung nhất của nhà thơ này.

Với tôi, mưa là hiện tượng thời tiết quen thuộc, thân thiết của rất nhiều thi sĩ Việt Nam. Nhưng, nếu có một nhà thơ cho thấy mưa hiện diện cùng khắp các trang thơ của họ thì, một trong những người đó là Từ Hoài Tấn:


“Tháng mười hai năm ấy

Mưa trở lại

Trong hẻm nhỏ có quán cà phê

Bà chủ bốn mươi tuổi

Em trở lại ngồi bên ta

Lời tình ái dài và đều như mưa ngoài cửa”

(Trích “Kỷ niệm”)


“Mùa mưa anh không thoát khỏi chiếc bóng em

Sự suy tư mòn gặm


(…)

“Buổi sáng theo cơn mưa đầu ngày

Một chút nhớ làn khói bay


(…)

“Em thiên nhiên đóa hoa mùa hạ

Những giọt mưa đầu mùa sóng sánh chiếc ly không


(…)

“Ai đi ngang che giấu mặt nõn nường

Mưa vang âm dòng suối”

(Trích “Khi yêu”)


“Buổi chiều mưa bất thường trái mùa

Khúc trầm bên chén trà

Người phụ nữ bước qua bên kia đường đón xe buýt

Dưới tàng cây che phủ vệ đường núp mưa những cô gái nhỏ xì xầm

Cảnh tượng chiều xám”

(Trích “Thơ cuối năm”)


“Những ngày này thường có cơn mưa đêm về sáng

Đều đều như lời kinh dịu dàng cám dỗ

Mùa mưa chưa qua sao”

(Trích “Lời cám dỗ dịu dàng”)


“Cơn mưa đi qua ánh sáng của ngày

Khúc hát ru chiều xẩm tối

Người thanh niên đứng trong hẻm cụt nói rằng

Môi hôn trên cây và nụ cười trên gió”

(Trích “Khi mùa mưa bắt đầu”)


“Buổi chiều về qua ngõ

Không nghe tiếng dương cầm

Vị mặn ở đầu lưỡi

Mưa và em”

(Trích “Là khi em đi”)


“Chiếc dù che góc quán nhỏ vệ đường ngồi hai người

Những chiếc ly không đầy nước

Ngày mưa qua

Đôi mắt ẩm ướt em nhìn ngắm giọt đều không tạnh…”

(trích “Thành phố mưa”)


Vân vân…



Ngay với những trang thơ không có một chữ “mưa” nào của Từ Hoài Tấn, nhưng ngữ-cảnh toàn bài, cũng cho tôi cảm được đâu đó, hơi hướm những cơn mưa chờ đợi.

Tôi nghĩ, có dễ “mưa”, chiếc bóng thứ hai, đeo đẳng hành trình và, cũng là định mệnh thi ca của tác giả này?


(Calif. Jan. 2016)
Du Tử Lê
(từ: hocxa.com)

_________

Chú thích.

(1) Trích Võ Công Liêm: “Dòng chảy không ngừng ở Từ Hoài Tấn”, Bạt, thi tập “Đi, đứng và, chạy… với thời gian”, Nhà XB Hội Nhà Văn, Saigon, 2012

blank

* 


    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-contenthoa_65-content
                                                                                                                                                    TYH và Cindy Trần

 

 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, May 8, 20208:23 AM(View: 675)
Như phần lớn văn thi sĩ miền Nam, Hà Thúc Sinh cũng nằm trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà, một sĩ quan Hải Quân. Vì thế,
Thursday, May 7, 202010:25 AM(View: 1029)
“Thu, Hát Cho Người” là tên một bản nhạc của Vũ Đức Sao Biển. Nhạc phẩm được trình làng khoảng thập niên sáu mươi và đã được nhiều người yêu thích, lời bản nhạc như sau: Dòng sông nào đưa người tình đi
Tuesday, May 5, 20204:06 PM(View: 675)
Tên thật: NGUYỄN PHAN THỊNH. Bút hiệu: Nguyễn Phan, Thăng Trầm, Sơn Ca… Nơi sinh: Hà Nam, Bắc Việt. Năm sinh: 1943. Năm mất: 2007 tại Sài Gòn.
Monday, May 4, 20203:23 PM(View: 527)
Về mặt triết học thuần túy, Nguyễn Văn Trung có hai cuốn tiêu biểu: Ca tụng thân xác (1967) và Ngôn ngữ và thân xác (1968). Nguyễn Văn Trung áp dụng triết học
Friday, May 1, 20208:15 PM(View: 675)
Phương Tấn họ Nguyễn, sinh năm 1946 tại Đà Nẵng, ngoài bút hiệu chính Phương Tấn, các bút hiệu khác như Nguyễn Tấn Phương, Phương Phương, Hồ Tịch Tịnh, Thích Như Nghi