DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,299,297

Nguyễn Thanh Châu - Chân Dung Thơ PHÙ HƯ

Sunday, May 17, 20208:47 AM(View: 293)
Nguyễn Thanh Châu - Chân Dung Thơ PHÙ HƯ
CHÂN DUNG THƠ MIỀN NAM 1955-1975
 
PHÙ HƯ

Nhà thơ Phù Hư: Người 'Ngậm thẻ qua sông' - 30-06-2013 | Văn hóa ...
phù hư

 

 

 

TIỂU SỬ:

Tên thật: Nguyễn Đắc Ngân

Nơi sinh: Hải Dương

Năm sinh: 24/01/1951

Hiện sinh hoạt tại Sài Gòn.

 

TÁC PHẨM:

Thơ: NGẬM THẺ QUA SÔNG, 2013.

 

Phù Hư sinh tại Hải Dương nhưng sống và học tại Huế cho đến năm 1972 mới vào Sài Gòn sinh hoạt. Bị tổng động viên vào trường Bộ Binh Thủ Đức cũng trong năm này, nhưng chỉ vài tháng, ông đã sáng tác những bài thơ về lính đăng trên tập san VĂN được nhiều người hân thưởng. Ngậm Thẻ Qua Sông là một trong số đó, có nội dung đời thường của người lính trú quân bên mái nhà quê có người vợ trẻ đang chờ chồng hành quân xa chưa có tin về. Những câu thơ không trau chuốt nhưng đầy cảm xúc đã khuấy động tâm hồn người đọc:
 
tôi đời trận mạc xa quê quán
buổi ghé nương em núp bóng nhà
em nhớ thương chồng đóng đồn ải xa
lâu tin vắng trông mòn đường xóm
tôi ở quá bên hông nhà gió sớm
đợi dùm em tin chinh chiến gởi về
 
Tiếp đó ông có sáng tác thường xuyên trên các tập san văn nghệ như VĂN, THỜI TẬP… Sau biến cố 30/4/1975 ông ít làm thơ và hiện sống tại Sài Gòn.

 



TRÍCH THƠ:

 

Đồn Sơn Yểm

 

đóng núi đồn xa đoàn pháo yểm

quanh năm ngủ miết với chân mây

nhìn sâu xuống vực nham hiểm đá

thù rừng cành trút lá mặc cây

vào thu rồi đó đèo xao xác

thung lũng vàng khô ẩn bóng nhà

suối chia mương nhỏ gie ống nứa

chuối mùa lốm đốm lá trổ hoa

suối len khe đá âm mưu chảy

đồn đóng binh ròng trận mạc xa

 

khói mỏng lên chiều thưa chiếc chim

đèo cao hút bóng mỏi mắt nhìn

gió mớn cho đông về thoáng lạnh

trông gần thương nhỏ dáng người em

âm thầm đêm tối gào giữ giặc

nhanh đạn chuyền tay chống tuyến đầu

gió núi rên oằn băng tiếng pháo

mây tan đường trái phá qua sâu

 

sơn yểm đỉnh cao muốn chống trời!

binh sĩ nhàn cư quẩn quanh thôi

cỏ không chừa lối đường xuống núi

rượu hết từ khuya vắng tiếng người

đêm lính trú buồn hâm bếp lửa

nhìn nhau kể chuyện vãn cười chơi

tay hơ than khói khô da thịt

thuốc đốt từng khoanh dấu mặt người

 

đêm gió u hồn thổi muôn phương

lũng hạ khuya tiếng sói tru buồn

dư rượu ấm chi lòng khách núi

thuốc từng khoanh cầm tiếng thở giữa hồn

 

chinh chiến đầu non chinh chiến trận

ì ùng âm pháo dội quanh năm

xóm cũ chừ em lo chạy loạn

cha già xưa nhúm mộ bỏ bên đồng

 

đèo sắp qua đông lạnh quá chừng

cây nản rừng chưa trổ lá non

đồn dăm chòi dột tin mưa gió

pháo mới chùi xong đợi tấn công

bạn tôi trẻ tuổi vừa cưới vợ

cười lệch đôi môi nói chuyện nhà

thoát sắp đông sang rồi đấy nhỉ

trông rừng giết lá mấy mùa qua

 

thu giữ mây cho ấm lòng người

pháo yểm đồn cao đứng lẻ loi

bao giờ vạch cỏ xuyên đường núi

lũng hạ thăm em rượu mềm môi

 

1972

Giai phẩm VĂN 16/8/1973

 

Ngậm Thẻ Qua Sông


VĂN THƠ NHẠC: Đọc 'Ngậm thẻ qua sông' của Phù Hư

 


thơm lửa hương khoai tiếng hát rừng

ven thôn vừa ghé buổi di quân

khói mẹ sau lều cơm chín tới

nước em chè lá đậm phèn sông

tôi đời trận mạc xa quê quán

buổi ghé nương em núp bóng nhà

em nhớ thương chồng đóng đồn ải xa

lâu tin vắng trông mòn đường xóm

tôi ở quá bên hông nhà gió sớm

đợi dùm em tin chinh chiến gởi về

đêm nay mưa em mất ngủ khuya

tôi lạnh gió tin địch về vẫn thức

làng em ở gió lào qua rất độc

ngày mưa mùa khuất núi mù sông

mẹ già mong một mụn cháu đầu lòng

em nhắn gởi bao lần tin vẫn biệt

rụng vườn em trăng sương ngày tháng chạp

tôi gác đêm như bóng người rình

tối nay đạn nổ nhẹ mạn sông

sương mỏng quá nhìn hoa ngàn con mắt

tôi giữa đêm nghe mình như thất lạc

thương xóm nhà biết nổ đạn vào đâu

đồng đội tôi ngủ mệt thôn sâu

ngại làm động mẹ ho vừa chợp mắt

tôi nương bóng nhà trăng che khuất

ngồi co mình cho bóng bớt riêng tôi

nhìn xa trăng định trốn sau đồi

sông tiếng vạc dặm buồn như tiếng cú

thức có khua mới nghe hồn bớt ngủ

mới hay trăng tháng chạp úa quanh đời

nghe em thở não mãi không thôi

em thở đó hay gió kêu mùa giá

nhà em ở miệt đông xóm hạ

bên triền sông không bến phải vắng thuyền

đầu trăng con nước rất vô duyên

lên mấp mé vườn em vai phơi áo

em rất nhỏ ngày trông vào gánh gạo

mẹ thì già vồn cải với nương rau

bước sau hiên vui mẹ dây trầu

mùa tốt lá xanh hồn tôi mới ghé

buổi mới đến cau cao vừa nhú bẹ

em thẹn thùa tôi tưởng thuở bình yên

tôi đâu hay em có nỗi hờn riêng

trông chinh chiến gọi hồn chồng theo gió

một tháng tròn ngỡ như ngày thưở nhỏ

em là em mẹ là mẹ xưa

tôi lêu nghêu lúc đi sớm về trưa

cơm nửa buổi giữa khuya kêu bụng đói

nhà thưa quạnh tôi gượng vui chẳng nổi

mẹ thẫn thờ em heo bóng trong sân

tôi trận mạc nhầu không kể đến thân

sương nhiều lắm trời không che nằm đất

em vẫn bảo tôi mái tranh không chật

tôi cười xòa xó xỉnh miết đâm quen

tròn tháng rồi đấy nhớ không em

hôm từ biệt quanh thôn nhà cửa khép

lúc quân đi chắc em không hề biết

đội tôi ngùi ngùi ngậm thẻ qua sông

còn tôi co ro lạnh mãi gió đông

một lần cuối nhìn nhà em đóng kín

tin chồng em chắc chưa về đến bến

như tin tôi mấy thuở gởi thăm nhà

cũng mấy năm rồi biền biệt phương xa

em còn nhớ một lần tôi ghé ở

thơm lửa hương khoai vùi bếp cũ

hồn em xa lắm cũng quanh đây.

 

Giai phẩm VĂN 12/10/1973

 

Quân Bộ Khúc

 

quân bộ qua thầm quân bộ qua

nón ngụy trang thép lạnh màu da

câm trăm miệng hến trừng gò ụ

súng dại dột nòng chực đạn ra

mặt thâm hiểm quá răng trắng nhỡn

biên giới xế chiều như cõi âm

cây che mù mịt vùng lãnh khí

có tiếng ai cười nghe xa xăm

 

đi qua rừng truông lá tủi thân

quân như ma lẩn bước thì thầm

áo quần trận tiệp mùi cây lá

đường xa đau rát gan bàn chân

lên đèo xuống dốc không sờn chí

cạy răng tìm không một tiếng cười

lúc mỏi tản quân cho ngồi nghỉ

khi buồn đưa điếu thuốc hút chơi

canh khuya ven núi ực tiếng cú

tay ghìm súng mắt mỏi đủ thứ

trông xa thấy thoáng tưởng khai hỏa

cây đen lù gió lay bay lứ dứ

 

đêm rừng lạnh muốn ho xé cổ

ráng chịu qua giữ mục tiêu quân

cầu sương điếm cỏ đau lòng khách

súng thép giá bên mình quanh năm

trinh sát cơ bay rù trên cao

nghe ra nhớ người xa biết bao

ngắt một cọng cỏ xanh dưới gót

ngậm trong miệng vơ vẩn làm sao

tinh sương thu quân gọi lên đường

rừng âm u bít lối cỏ mòn

vạch cây khoét bụi theo đường nhỏ

quân đi rừng cuộn mãng xà cuồn

 

qua suối nước nguồn cao tới ngực

súng dong cao địch tưởng ta hàng

quần áo ướt dầm không khí ẩm

da nhờn rít thấm gió mùa sang

đi mãi quanh năm với núi rừng

ngoái nhìn trùng điệp núi phương đông

ngước mặt cây mù bưng bóng tối

hai bên bờ bụi xót xa lòng

ba ngày lương khô ăn không chán

khát uống suối nguồn trông cá vởn

thất chí theo người xưa gõ gươm

ca rằng hề cơm không có canh

 

lầm lũi miết cũng tới xóm thôn

chạm dăm trận trước chưa lại hồn

quân vòng bố trí quanh bờ ấp

toán chận bờ sông toán đầu truông

một cánh nhỏ quân phục múi cầu

hai cánh khác xẻ đôi thọc sâu

cẩn thận có khi là công cốc

thôn toàn con trẻ với mẹ già

răn rúm quả xanh dăm trái khế

ít cơm rơi nhao nhác lũ gà

ủng oẳng bên hiên con chó ốm

thôn ổ này là quê nhà ta!

 

ngủ chưa chợp mắt quân di chuyển

nón sắt nặng đầu ba lô mỏi lưng

trông quanh đen đúa không rõ mặt

lắng nghe va động đoán chừng chừng

lắng nghe mới rõ gần nỗi chết

biết có gì không dưới bước chân

thê nhi bao nỗi lòng tan tác

em ở xa mà ta ở gần

ngàn năm biên ải giữ oan hồn

lá rừng xô gió núi sông xương

chết phơi khí tiết vô danh sĩ

chết đắng cay ma núi ngậm hờn

biên ải ngàn năm danh tiết hão

mộng sông hồ đâu phải ở đây

ta cũng chẳng vô vi lão tử

sao suối cùng đèo nối ngàn mây

 

biên ải ngàn năm gió u hoài

quân rờn gió núi da mọc gai

phải gió mang muôn linh hồn cũ

về đây đợi đón khách phương ngoài

giật minh không chỉ nghe tiếng đạn

dầm dãi ngày mưa lũ năng dầu

chiều bên núi dốc chưa hỏi đá

đã nghe cú hực gợi đêm thâu

 

thuở tuổi hai mươi xanh tóc người

bên rừng ngả nón ngỡ thảnh thơi

súng lơi báng nhỏ thả lời hát

trăng mùa xưa ơi em của tôi

 

1973

 

ngụy âm

 

tỉnh sương đèn phố ngủ dài

mon men nắng đến đợi khai khẩn  ngày

đêm về chẳng kịp chia tay

chuông rung tầng thượng vọng lây phố phường

cửa khâu đêm vẫn chưa buông

muợn hôm ngủ đậu hồn vuông nếp phòng

nghe ngày hạ phố thốt âm

đậy chăn tôi vẫn tưởng lầm chiêm bao

đông còn lạnh với lên cao

gió chen với nắng xôn xao cửa ngoài

xa kèn huyễn vọng bên tai

bến sâu giờ chắc phơi đầy biệt ly

hối ngày xe đuổi nhau đi

quán chôn tiếng khách bàn ghi chỗ ngồi

ngại trưa mây níu nắng rồi

thắp phòng mở cửa tôi mời ngày sang

gặp mây nhà phố xếp buồn

kèn xa dại tiếng trổi luôn mấy vầng

vá đường bóng ngủ chết câm

quen xưa mây ghé làm thân núi mờ

người về từ mấy nghìn xưa

tiếng còn hao vọng giữa mùa thịnh âm

nhớ xa xe thống nổi kèn

tiếng vừa điệp giữa dặm nghìn cát lau.

Giai phẩm VĂN  3/1975

 

 

thuyền cũ

 

 

đi sông, thuyền chở đầy khoang gió

ngược nhé, nước triều con sóng nhỏ

qua dòng, thân lay như bóng cỏ

ngước nhìn, mây trôi bên nước lạnh:

mới hỏi, thân mười năm về chưa

 

em chờ, tóc có pha màu của:

thời gian, rượu uống mộng say mứa

buồn chết, bình xưa cạn lật ngửa

tri âm, lạnh như  vầng trăng rũ

qua sông, chiều hối một ngày đưa

 

rượu hồ, ta uống mấy cho đủ

tay hồ, tay không dù vẫn có

lòng hồ, nặng bóng ai năm cũ

em hồ, bay chiếc chim ly biệt

ngày tháng, hồ bay như cơn mưa

 

cuối chiều, sao hôm chênh chếch ló

chiều rồi, bờ kia ai gọi đó

lỡ sông, mười năm lòng cứ lỡ

thì đi, thuyền hỡi cho kịp vận

mười năm vẫn nhớ lời ca xưa

 

gởi sông, thôi nhé mắt còn ngó

nhà xưa, mười năm xa khép cửa

tri âm, tri kỷ hồ khách khứa

tân chén, càn khôn say ngơ ngất

trần gian mọi chuyện hồ như đùa.

 

Tập san THỜI TẬP 25/6/1974

 

 

một chân giày

 

 

kẻng đóng chiều hôm vào với tối

săn đón đêm khuya quán thắp đèn

đất với người tranh một cuộc đỏ đen

vai anh gánh một bóng tà sắp khuất

bên hướng Tây mặt trời thua mặt đất

trăng theo về thả nổi gọi làm vui

mây như bông pha máu sót cuối trời

đường qua núi nước tật nguyền vỡ nát

quán ngậm gió đèn len trong tiếng nhạc

bia sủi tăm lúc lúc đói uống bào gan

anh một mình chết khuất giữa điệu đàn

đời quán vắng cô em run ngực thở

đời vắng lẻ đứng bên đời khốn gió

lạnh vành ly môi có uống về hồn

áo vàng em có đẫm nổi hoàng hôn

đã chếnh choáng nhìn nhau hòa ra bóng

 

đấy một lúc cũng làm thành một mộng

giữa mắt người em có thấy mười năm

đêm tang thương em dụi mặt khóc thầm

lúc khuya đến hồn chiêm bao vấy máu

nhìn không thấy nên đi nào có thấu

chưa ba mươi mang mỏi một phận người

lòng thì như sông núi đứng ngậm ngùi

ngày chẳng đốt vẫn bay thành mảnh khói

mắt ngậm tiếng nên nhìn ra lời gọi

giả tỉnh say anh ngại nhớ đất nhà

anh mời chiếc hồn đi với đường xa

còn chiếc bóng mặc đầy hình gươm giáo

anh múa rối như vai hề hát dạo

mượn hình người để dấu vết làm tin

tay ôm gươm nhưng hồn chẳng bạo quyền

buổi bên núi nhìn lau ngờ tóc mẹ

trông mấy sông vời khói tưởng chị xa

ai có vai mà chẳng có quê nhà

đợi mãi lòng anh thành mãi quốc

gươm xanh nín dưới áo vai hề

 

trông một hồi mắt thắp giửa trùng khuya

mặt bôi tượng khiến đời lầm vô giác

anh hùng nào không qua thời đốn mạt

hồn căm sương nên buốt lạnh bên đời

thân thì đơn như mảnh lá xuông rơi

rượu nửa cuộc em tay chùng tay nắm

theo đường lớn chân vô cùng sóng sánh

mười mấy năm tha bạc một chân giày

 

ngày thả bay như mảnh khói trên tay

ngày qua ngày qua, với những ngày qua

nhìn tháng năm như bóng vọng đuổi về

thôi thân thể lầm vai mang bản kịch

gươm biểu tượng sẽ còn xanh tinh khiết.

 

Tâp san THỜI TẬP 8/4/1974

                                                              Nguyễn Thanh Châu
                                                                      (AZ, sưu tầm và gởi)

                                                              * 


Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D



Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, June 4, 20207:43 AM(View: 74)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một trong những nhà văn quan trọng của dòng văn học miền Nam 1954-1975, với những đóng góp to tát vào nền văn học nước nhà. Tên thật là Doãn Quốc Sỹ. Sinh ngày 17/02/1923 tại Hà Nội
Monday, June 1, 20208:20 AM(View: 116)
“Đời bác lắm khi phải giả vờ để tránh sự chú ý của Pháp. Có một lần bác phải giả điên điên, dại dại một thời gian. Rồi sau này thì nói khỏi rồi”.
Thursday, May 28, 20206:56 AM(View: 156)
Nguyễn Thùy Song Thanh xuất hiện đầu tiên trên tập san Bách Khoa và tiếp đó là Hiện Đại, Nghệ Thuật trong những năm của thập niên 60. Tên thật Nguyễn Bạch Tuyết. Nơi Sinh: Sa Đéc. 1938
Monday, May 25, 202010:14 AM(View: 139)
“Bài này thì chỉ có Thái Thanh” hoặc “Bài này không ai hát qua được Thái Thanh”, thỉnh thoảng ta vẫn nghe như vậy. “Bài này” có thể là tên một nhạc phẩm của Phạm Duy hay của Phạm Đình Chương
Saturday, May 23, 20205:36 PM(View: 138)
Một năm đã trôi qua, ngày TÔ THUỲ YÊN từ trần. Những lúc lạc lõng, không biết mình đang ở đâu, đi đâu, nhiều người quay về với thơ phú, với thi sĩ.