DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,325,161

TRẦN VĂN SƠN

Wednesday, March 9, 201112:00 AM(View: 35156)
TRẦN VĂN SƠN



TRẦN VĂN SƠN


tranvanson-thumbnail



* Sinh dưới chân lầu ông Hoàng, Phú Hài, tỉnh Bình Thuận

* Hội viên hội văn nghệ sĩ quân đội VNCH

* Cộng tác trước năm 1975: Phổ Thông, Thời Nay, Văn ,

Nghệ Thuật, Khởi Hành...

@ Tác phẩm dã xuất bản:

*Vườn Dĩ Vãng - Thơ – Khai Phá xuất bản 1972.

*Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa - Thơ – Little Sàigòn xuất bản cuối năm 2008




ĐẤT KHỔ

 

 

Rừng phơi xác gỗ tươm nhựa hận

Suối cạn dòng khô sỏi đá buồn

Đất khổ gầm gừ cơn địa chấn

Chim biệt tăm thú dữ xa nguồn

 

 

Kè loạn tâm xẻ núi lấp sông

Biển tràn bờ ngập mặn ruộng đồng

Bão tố cuồng phong và khí uất

Nhuộm hồn u uẩn động huyền không

 

 

Quỉ ám án thư sầu kinh kệ

Đạn bom mờ mịt máu xương rơi

Phố sa mạc thảo nguyên hoang phế

Thiên nhiên quặn ruột xót xa đời

 

 

Mây ung thư nắng quái xiên trời

Bụi mưa độc dược bóng ma trơi

Đền đài cung điện thành tro bụi

Sâu bọ cỏ cây trộn lẫn người

 

 

Kẻ vô tâm rất đỗi bình thường

Thiên hạ sự khề khà ly rượu

Thời hỗn mang kẻ sĩ cùng đường

Trời đất rộng không nơi nương tựa

 

 

Đành thả đời trôi dạt muôn nơi

Nhân gian điên loạn khóc hay cười

Đất chuyễn hồn thiêng vào vũ trụ

Trăng sao soi sáng giấc mơ người




MƯA TRÊN NHỮNG CHÙM

 CHUỖI NGỌC

 

 

 

Trời đang nắng chợt mưa rơi nặng hạt

Mưa mịt mù mưa dai dẵng ngày đêm

Vườn chuỗi ngọc em mưa bay xơ xác

Bầy lá phong trải thãm úa vàng sân

 

 

Em ngữa mặt hứng giọt mưa vần vũ

Giọt lệ sầu hiu hắt giấc mơ tan

Quê ngàn dặm nghẹn ngào sương tuyết phũ

Hồn cỏ cây lạ lẫm dấu chân quen

 

 

Em đội mưa nâng niu từng lá cỏ

Lạnh đôi tay ấm áp trái tim đời

Mưa ôm ấp quỳng hoa vừa nở rộ

Chuỗi ngọc xanh lấp lánh cuộc tình người

 

Mưa tí tách tiếng dương cầm réo rắt

Hòa ngũ âm khúc dạ cổ hoài lang

Người xưa đến mang hồn mưa u uất

Nhịp tử sinh cùng vũ trụ xoay vần

 

 

Em xuống phố quẫn quanh con phố nhỏ

Bụi mưa bay mơn trớn tóc em mềm

Mưa tầm tã che vầng trăng cố xứ

Trăng phương tây toả sáng xóa màn đêm

 

 

Mưa lang thang trong công viên cuồng loạn

Gió thét gào cây trốc gốc chênh vênh

Hồn tượng đá mang mang thiên cổ hận

Vọng cố nhân hề phương đông buồn tênh

 

 

Em đóng cửa xa đường mưa ngõ trúc

Bên án thư nghĩ chuyện một dòng sông

Lũ bàn ghế có em thêm hạnh phúc

Ngôi nhà có em sưỡi ấm tình nồng

 

Đường trúc thư trang

Trần Văn Sơn





PHAN BÁ THỤY DƯƠNG


 Thơ Trần văn Sơn

 
những tiếng tơ đồng diệu vợi và trầm sâu như biển nhớ



 Trần Văn Sơn là nhà thơ trẻ nổi tiếng của nhóm Khai Phá trước 75. Ngoài tập san này, anh còn công tác với các tạp chí Phổ Thông, Thời Nay, Văn, Nghệ Thuật, Khởi Hành... và là hội viên của Hội Văn Nghệ Sĩ QĐ.
Sinh năm 1945 dưới chân lầu Hoàng, Phú Hài, tỉnh Bình Thuận. Sang Mỹ theo diện H.O và hiện cư ngụ tại thị trấn El Monte, California.
 Tác phẩm đã xuất bản: Vườn Dĩ Vãng: Thơ – Khai Phá xuất bản 1972. Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa: Thơ – Little Sàigòn xuất bản cuối năm 2008
 Theo nhận định của nhà thơ Viên Linh thì: “ Thơ TVS, dù qua thể loại nào, vẫn có một nhịp điệu du dương riêng; anh chọn vần, lựa điệu như một nhạc sĩ, và chữ trong thơ TTVNH dồi dào hình ảnh, tạo ra hình ảnh, khiến bài thơ – hay câu thơ của anh - là một bức tranh, hay một góc của bức tranh nhiều màu sắc:

tran_van_son_1


 
Bay mưa sầu thấp trăm năm
Đèn lu bất lụn mưa đầm đìa rơi
Tôi ôm mưa ngủ ngoài trời
Mưa tôi che kín bóng đời buồn tênh

 
[tr.19].

 Bốn câu ngũ ngôn điêu luyện:

 Chung trà nóng vẫn còn
 Chén rượu chưa nhắp cạn
 Ngó lên đỉnh thiên sơn
 Lạc loài chim lẻ bạn

 [tr.15].
 
Bốn câu thất ngôn không thừa một chữ:

 Sát quán Ba Cô ngôi miếu cổ
 Ngổn ngang gạch đá lạnh hương trầm
 Bạn. ta. thiền định bên ly rượu
 Chợt thoáng trong ly bóng nguyệt rằm.

 
 [Tửu thiền với Nguyễn Bắc Sơn tại quán Ba Cô tr.45]


 Bốn câu thất ngôn tứ tuyệt rất tuyệt. Thơ TVS: chỉ 4 câu thôi là khúc nhạc. Chỉ 4 câu thôi là tấm tranh. Chỉ 4 câu thôi là thấy hết. Chỉ 4 câu thôi mà mênh mang. [trích Khởi Hành số 149 tháng 3 năm 2009].”
Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa là sự thể hiện của những tiếng tơ đồng trầm sâu, truyền cảm. Đó cũng là tiếng lòng đầy ấp chân tình, chân ái của một người làm thơ, coi thơ như lẻ sống, coi bằng hữu như anh em thân thiết, ruột thịt.
Thơ Trần Văn Sơn thuần khiết và trong sáng như mặt nước hồ thu, như tâm hồn anh. Cho dù khi thơ Sơn phản ảnh, qui chiếu về một góc độ nhị nguyên đối đãi nào đó của cuộc sống mà anh đã trải nghiệm như: khổ-ải/hạnh-phúc, được/mất, có/không... thì những thi ảnh, thi ngữ ấy cũng đã được hài hòa, trang trải bằng những ngôn-ngữ-tình, để từ đó những đặc điểm này được kết hợp, tạo thành một tác phẩm thi ca chứa chan cung điệu bát âm và mang tròn tính chất nhất quán, đậm màu nhân bản.
 Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa, của Trần Văn Sơn, nxb Little SG ấn hành, bìa của họa sĩ Rừng. Sách trình bày mỹ thuật, dày 148 trang với nhiều phụ bản tranh màu của các họa sĩ Hồ Thành Đức, Bé Ký, Lương Trường Thọ, Rừng.


NGUYỄN MẠNH TRINH

 


Đọc thơ Trần văn Sơn:




Thấp thoáng vài nụ hoa

 

 


 

Đọc những trang thơ Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa , tôi thấy bàng bạc trong từng cảm nghĩ. Thấp thoáng ở đâu đó, những sợi mưa quê nhà, mưa Sài Gòn, mưa cao nguyên thủ thỉ. Thấp thoáng ở đâu đó, những khuôn mặt bằng hữu thân quen, nhắc lại một thời đã viết và đã sống. Và, thấp thoáng ở đâu đó, những tình cảm của người lính năm xưa, người tù thuở nào và người lưu lạc bây giờ. Thấp thoáng ở đâu đó, những mơ ước ngày xưa và những chán chường nhọc nhằn trước mặt. Thấp thoáng và thấp thoáng, những cảm giác chia sẻ với thơ, tận tuyệt với thơ.. Ở những trang thơ, tôi bỗng thành người trân trọng quá khứ. Và ở Trần Văn Sơn, một thi sĩ mà tôi chưa từng gặp, tôi như đã hàn huyên với từ thuở nào, qua những vần lục bát, những câu bảy chữ, tám chữ …
Tôi đọc những dòng cảm khái đầu tiên của bài thơ mà nhan đề chung cho cả tập thơ:


Thấp thoáng vài nụ hoa.


Dẫu không cửa không nhà
Vẫn an nhiên mà sống
Dẫu không rượu không trà
Vẫn hằng đêm nuôi mông


Một ngày. Một ngày qua

Khốn khó vây quanh ta
Cháo rau ngày hai bữa
Chưa đủ ấm thịt da


Ngày thẫn thờ với bóng

Bóng quanh quẩn bên ta
Đêm thẫn thờ đối bóng
Bóng nhìn ta nghẹn ngào


Mông có khi là thực
Nhưng thực phải thế nào
Ngày. Ngày qua- còn đó
Tia nắng chưa rọi vào


Sáng nay trời thật đẹp

Hoa ngào ngạt quanh nhà.
Vườn ai vừa mở cửa
Thấp thoáng vài nụ hoa. 
 

Vâng, dù đời cô đơn u tịch, dù ngày tháng qua trtong đói nghèo, vẫn thấp thoáng vài nụ hoa, trời vẫn đẹp . Thơ buồn nhưng lạc quan vui. Dù là nỗi vui thấp thoáng.

Tôi yêu những cơn mưa nhiệt đới Việt Nam nên cũng thích những câu thơ của mưa Sài Gòn và mưa cao nguyên của thi sĩ họ Trần . Những câu lục bát của âm hưởng thanh xuân ngày nào, của những tình tự ngày xưa. Mưa ở nơi chốn này ở Cali hiếm hoi lại càng làm nhớ thêm những cơn mưa giữa trưa bất chợt của Sài Gòn hay những đêm mưa dầm của phố núi Pleiku. Tự nhiên , dù đang ngồi trong phòng ấm cúng nhưng hình như có giọt mưa nào rơi rớt đâu đây, và thấy lạnh lạnh trong lòng. Những cơn mưa nào trong trí nhớ để dong tay dắt tôi về một nơi chốn ngày nào.


Rơi hoài phố vắng người thưa
Rơi trong chăn chiếu giọt mưa đầu mùa
Rơi tôi hạnh phúc ngày xưa
Phất phơ sợi tóc buổi trưa mưa dầm
Bay mưa sầu khắp trăm năm
Đèn lu bấc lạnh mưa đầm đìa rơi
Tôi ôm mưa ngủ ngoài trời
mưa tôi che kín bóng đời buồn tênh.

 

Ở Sài Gòn, là những tình cảm mang theo, là giọt mưa và giọt hồn cùng rơi, là tâm tình cứ mãi vấn vương như trời thủ đô chợt mưa chợt nắng :


.. Mịt mù ngày cũng như đêm
thèm hôn chút nắng êm đềm buổi trưa
giận trời sao cứ mưa mưa
bóng ai thấp thoáng cuối mùa mưa rơi
Sài Gòn thương quá người ơi
Giọt mưa và giọt hồn tôi rơi đều… 
 

Hay là những cơn mưa phố núi. Những cơn mưa dội vang trong tiềm thức, những mịt mù mưa bay.Mưa như nước mắt của thiên thu vọng về , của giọt lệ người tình trôi đi. Thơ của tròi đất cùng chung một nỗi buồn mà người thơ gửi gấm:


Xe lăn qua đó sấm rền
Ngồi đây ngó phố gọi tên một lòng
Mưa hoài ngỡ đã sang đông
Áo dài xanh ngỡ màu hồng thiên thu
Ra sông ngó núi mịt mù
Mưa rơi hay giọt phù du vô cùng
Xưa trôi mấy nẻo thủy chung
Nay trông mưa uống rượu mừng mưa rơi. 
 

Bài thơ viết lúc chiến tranh, khi nghe tin người bạn thân Tô Đình Sự qua đời. Thơ trong một cơn say , nghĩ về cuộc đời, và trong nỗi xót xa của người vừa chợt nhận ra một phần gốc rễ của mình, một kẻ lữ hành xa lạ mộng du trong những ảo tượng thời thế.Thơ viết cho Tô Đình Sự nhưng như để tâm sự với thế hệ chúng ta, những người đang lầm lũi trong chiến tranh. Bài thơ Ôm Một Mặt Trời Say:


"..Rượu hãy uống ly này mời Tô Đình Sự
Mày về đây cùng cạn một chung đầy
Có gì đâu ba vạn sáu nghìn ngày
Chuyện nhân thế như trò chơi trẻ nhỏ
Mày nằm xuống thảnh thơi cùng cây cỏ
Tao về đây như đã chết lâu rồi
Sống ở dương gian giọt lệ đầy vơi
Chết về âm phủ cười vui hể hả


Bao nhiêu chuyện bao nhiêu người vồn vã

Bao nhiêu thằng hề bao nhiêu kẻ ngô nghê
Bao nhiêu người như lá của mùa thu
Điên rôi tỉnh, tỉnh rồi điên cũng thế
Đời chán vạn thằng nửa người nửa ngợm
Bán bạn bè mua chuộc miếng đỉnh chung
Riêng mình ta mới thật sự anh hùng
Ai nào biết ta điên hay ta tỉnh
Dù ta tỉnh cũng giả đò điên tỉnh
Dù ta điên cũng bày vẽ tỉnh điên…" 
 

Ngày ra tù, từ địa ngục trở về, thi sĩ đã nói với con những điều tâm đắc nhất . và cũng là chính tự nhủ với mình" làm sao để thật sự là người:


"…thời trai trẻ ba mơ làm khanh tướng
Mê văn chương và mê cả kiếm cung
Khi thất bại quay về ba chợt tỉnh
Rằng mẹ con là tia sáng cuối cùng


Đó là lúc các con ngôi đọc sách
Hay ôn bài hoặc kể chuyện Quang Trung
Ba nhìn thấy tuổi thơ ba trong đó
Kỷ niệm nào cũng đẹp phải không con


Ba không trách các con mê văn nghệ
Cũng không khuyên nên học cách ở đời
Ba chỉ dặn một điều duy nhất
Là làm sao phải thật sự là người!" 
 

Bây giờ, làm thơ trên bàn máy may, bằng lòng với sự hy sinh của mình cho vợ cho con.Thơ của mắc míu áo cơm , của sinh kế đẩy đưa , để suy tư theo từng mũi kim sợi chỉ.Đó là lúc nhìn lại mình, để thấy rằng cuộc đời ấy không chỉ là nặng nợ áo cơm mà còn có niềm vui của một đời tìm trong công việc khiêm nhường một ý nghĩa nhân sinh


" Qua Mỹ chín năm
May vá nuôi con ăn học
Bạn đôi lần đến thăm
Tinh thần chén trà chung rượu


Thơ văn vất vào sọt rác
Chán đời ngâm bài cổ thi
Nhịp chân nghe chừng khúc nhạc
Tìm đâu tiếng sáo Trương Chi


Chín năm còng lưng đạp máy
Mắt mờ gối mỏi chân run
Mày mò đường kim mũi chỉ
Giật mình lá rụng đầy sân


Thương vợ ngày càng còm cỏi
Thân tàn nặng nợ áo cơm
Chín năm hít toàn bụi vải
Nhìn quanh bốn bức tường trơn


Nhà vắng đâu cần điện thoại
Tri âm còn một tấm lòng
Chỉ lo tuổi già sức yếu
Quên dần cái khó cái không


Vui buồn bên ta có vợ
Có hoa có đất có trời
Trăn năm một ngày rất vội
Chung đầu ngắm bóng trăng trôi.” 
 

Đọc thơ Trần Văn Sơn, như nhìn ngắm lại một chân dung của một người bình thường trong thế hệ chúng ta. Đi lính , đi tù , đi Mỹ, những cái đi ấy hình như hầu hết chúng ta đều có chung . Những cái đi khởi từ một cuộc chiến tranh tàn khốc. Trải qua những nhọc nhằn bi thương , có lúc cũng hào sảng luận anh hùng , cũng có lúc giở tỉnh giở điên trong cơn say ngậm ngùi nhìn thế sự, thơ như những phác họa của một thực tế mà bất cứ ai cũng có lúc trải qua. Thành ra, thơ lại là những chia sẻ của những người hiện giờ đang sống đời lưu lạc , đang hụt hơi với chuyện cơm áo xứ người. Có mấy ai bằng lòng với hiện tại , với những gì mình đã có trong tay. Nhưng rồi cũng phải nhận ra một điều. Cuộc đời dù ở đâu và bất cứ ở nơi chốn nào, cũng cần một tấm lòng. Trong thơ Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa, quả tôi đã thấp thoáng thấy mình của đám đông trong thế hệ ấy. Làm thơ, có phải là để trung thực và sòng phẳng với đời, để có lúc còn một chút nắng vui tươi , của một vài sợi mây mơ mộng. Qua bao nhiêu ngã đường đã vượt, trải bấy nhiêu cay đắng ở đời , thì có lúc , thơ đã làm gậy chống để giúp đỡ đôi chân trèo lên dốc đứng nhân sinh muôn đời chập chùng trước mặt…
 
  NMT

 




Cảm nhận khi đọc "Thấp Thoáng


Vài Nụ Hoa" Của Trần Văn Sơn





Phạm Văn Nhàn

 

Nhận được tập thơ “thấp Thóang Vài Nụ Hoa” của nhà thơ Trần Văn Sơn gởi qua tặng. Cầm tập thơ trên tay, mỏng, đủ cho tôi đọc trong chốc lát là xong. Nhưng không phải vậy, đọc đi rồi đọc lại, mới thấy thơ của Sơn không là của anh, mà là của những người sinh vào thời buổi tự mình không chọn lịch sử mà lịch sử chọn. Chiến tranh!

 

Tuổi trẻ chúng tôi lớn lên chẳng được tự mình chọn cho mình có một cuộc sống riêng tư theo ý muốn, mà chúng tôi giống như những viên bi nhỏ nhoi bị lực hút của một quả cầu lửa nam châm hút vào làm thiêu rụi. Quả cầu lửa đó là thế lực xanh đỏ chụp xuống trên quê hương chúng tôi từ lâu. Nhà thơ Trần văn Sơn cũng như tôi không làm sao thoát khỏi. Phải lăn vào, lăn vào nó như con thiêu thân. Và, cuộc sống trước mặt sẽ ra sao, mặc cho thế sự. Chấp nhận nó ngay cả cuộc sống trước mặt, cho dù lắm bẽ bàng. Người bạn chiến đấu nằm xuống hôm nay và, biết đâu ngày mai là tôi, là anh, là những người sẽ nối tiếp. Những câu thơ trong bài: Nói Với Bạn Bè của Sơn đã nói lên cái tâm trạng của những người sinh cùng một thế hệ ấy. Thế hệ chiến tranh ( chữ của Trần Hoài Thư):

 

“Tao vẽ một vòng tròn trong nghĩa trang này

Dành riêng tụi mày vài vuông đất mới

Đứa nào chết sớm vào mộ nghĩ ngơi

Đứa nào sống lâu thắp nhang cầu nguyện.”

 

Như thế đấy, giản dị vô cùng. Cho nên, trong thơ Sơn nói thật lòng, không ngại: “ thằng Trung chết sớm là nó có phước/Được người thắp nhang được người vái thấm” Đời lính chúng tôi quan niệm như thế đấy, nhẹ như mây trời.

 

Với Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa, Sơn làm nhiều thể loại thơ. Nhưng khi đọc lên, tôi thấy dù là loại thơ nào cũng đã gói ghém lên cả một trời tâm sự của anh và cũng là của tôi. Đọc, thấy nó gần gũi trong quá khứ, hiện tại và cả một tương lai không biết có tươi sáng hơn không trên cái xứ tạm dung này. Tuy nhiên có tươi sáng hay không cũng mặc, cứ nhìn vào thẳng cuộc đời, cực khổ ư? Sung sướng ư? Thì vẫn chung quanh Sơn …thấp thoáng vài nụ hoa rồi.

 

Sao mà đẹp thế? Tôi muốn nói đến “Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa” của Sơn. Có lẽ bài này anh làm sau những ngày anh ra khỏi trại cải tạo ( không thấy ghi năm tháng). Nhưng khi đọc lên, tôi đoán như thế, Phải không Sơn? Nhưng đây cũng là bài thơ mà Sơn đã chọn làm nhan đề cho cả một tập thơ, đủ nói lên cái tính bao dung của một người lính cũ miền nam. Dù biết rằng, sau những năm tháng gian khổ, đọa đầy. Cho nên dẫu:

 

“ Dẫu không cửa không nhà

Vẫn an nhiên mà sống


Dẫu:


“ Một ngày, một ngày qua

Khốn khó vây quanh ta

Cháo rau ngày hai bữa

Chưa đủ ấm thịt da”


Dẫu:

 

“Mộng có khi là thực

Nhưng thực phải thế nào

Ngày. Ngày qua- còn đó

Tia nắng chưa rọi vào”

 

Thế mà, với Sơn nhìn đâu anh vẫn thấy:

 

Sáng nay trời thật đẹp

Hoa ngào ngạt quanh nhà

Vườn ai vừa mới nở

Thấp thoáng vài nụ hoa.”

 

Tuyệt vời quá, đủ thấy được tâm hồn của anh. Tâm hồn của một nhà thơ khoác áo lính. Có lẽ người lính năm xưa đã ngộ được rồi chăng? khi mà: Mai kia ở động ngồi thiền/ tụng kinh gõ mõ điền viên một đời”. Để rồi, đọc thơ Sơn, ngẫm lại mình, tôi chưa thấy được thấp thoáng ở đâu đó có vài nụ hoa mới nở trong vườn nhà ai, như Sơn. Khi mà cuộc sống của chính bản thân còn quá khổ khi ở trại cải tạo ra. Nhưng với Sơn thì khác. Tôi khoái bốn câu thơ cuối của bài thơ: “Sáng nay trời thật đẹp/Hoa ngào ngạt quanh nhà/ Vườn ai vừa mới nở/ Thấp thoáng vài nụ hoa.”

Tôi nghĩ, với Sơn, những câu thơ anh làm, có lẽ khi lên thăm chùa trên núi Tà Cú mà ngộ chăng? Trong cuộc sống khổ như thế mà anh vẫn thấy vườn nhà ai có hoa mới nở, để nhà thơ thấy thấp thoáng vài nụ hoa. Đọc bài thơ: Nghĩ Quẩn Khi Ngủ Đêm Tại Pho Tượng Phật Nằm Trên Đỉnh Núi Tà Cú mà nhớ những ngày tháng cũ, tuổi thơ tôi khi lên thăm chùa. Cảnh u tịch của ngôi chùa cổ. Một ông sư. Một hồi chuông chiều ngân lên. Đủ để thấy : Chống gậy trúc qua sông đón thuyền. Núi còn đó, chùa xưa còn đó, đã bao năm không lên. Chắc có nhiều đổi thay? Để đến nổi nhà thơ đã lên núi viếng chùa xưa, anh thốt lên:

 

“ Mở mắt

Thấy tường trắng

Nhắm mắt

Thấy tường đen

Có cái không ai thấy

Cái ta

Ta biết.

 

Bây giờ chùa như thế sao? Có lẽ một ngày nào đó về thăm, lòng ta cũng “diện bích” như nhà thơ?

 

Trong “Thấp Thoáng Vài Nụ Hoa” những bài thơ Sơn làm đã gợi lại trong tôi cuộc đời của người lính cũ, như anh. Sau 1975, buông súng, vào tù, rồi ra tù, rồi qua Mỹ. Cuộc đời cứ trải dài ra sau bao năm tháng thăng trầm trong cuộc sống. Thăng trầm trong đời lính không nói làm gì, vì có ai tránh khỏi trong thời chiến. Nhưng, có lẽ, nhà thơ đã khơi lại một chút dư âm, dù một chút thôi, cũng đủ làm cho những con sóng đã một lần ngủ yên trong lòng tôi trỗi dậy. Một kỷ niệm khó quên, dù biết rằng, thời đánh giặc năm xưa của chúng tôi thật lòng nói ra buồn nhiều khi nhìn thấy nếp sống của người dân phố thị. Nhưng sao đọc lại, nhớ vô cùng trong bài “ Kích Đêm” mà Sơn đã làm khi còn trong quân ngủ:

 

“ Gió lòn qua kẽ lá

Cuốn tròn trong poncho

Rét từng cơn mệt lả

Đồi tiếp đồi bao la

….

Đêm rơi sương ướt đẫm

Quả tim vết đạn hằn

Bao năm ôm súng đạn

Không một lần về thăm”

 

Để rồi hôm nay, sống trên đất người, nắng mưa là chuyện của trời đất. Nhưng sao, đọc những vần thơ lục bát về mưa của Sơn viết về quê nhà, tôi thấy như gần gũi quá. Mưa quê nhà có khác mưa trên xứ người không? Tôi đang mong những cơn mưa vội đến rồi đi như ngày nào Sài Gòn đang nắng chợt mưa/ Dừng chân đụt vội mưa vừa dứt cơn. Chỉ cần cơn mưa chợt đến như thế, một chút thôi để thấy cái mùi đất ẩm ở quê nhà khi cơn mưa vừa rớt hột. Cái mùi đất ẩm ngây ngây, nhưng lại ngất ngây lòng người ít gặp được nơi tôi đang sống. Những cơn mưa quê nhà, để: thương quá người ơi/ Giọt mưa và giọt hồn tôi rơi đều.   

Đọc thơ Sơn thấy đầy ấp những hình ảnh kỷ niệm của đời anh đã trải qua, nơi chốn, bạn bè, tù tội. Để rồi những nơi ấy đã gợi lên cho tôi những hình ảnh, địa danh mà tôi cũng đã đến. Những nỗi khổ trong trại cải tạo, miền Bắc hay miền Trung. Những người bạn tù thiếu ăn, thiếu thuốc khi ngã bịnh thì chết. Chiếc hòm không đáy lại được đem đến. Manh chiếu bó lại đem ra nghĩa địa tù để chôn. Bạn tù đi ngang qua, cúi đầu tưởng nhớ. Trại tù nào cũng giống nhau. Đói. Lạnh. Và khổ. Anh trải qua những trại cải tạo miền bắc. Tôi trải qua những trại cải tạo miền rừng núi Trung phần. Đọc những câu thơ anh ghi lại trong tù, sao nghe buồn quá đỗi.

 

Thơ Sơn gần gũi với tôi đến thế. Ngôi miếu cổ Bảy Đầu Rồng, nhà thơ ngồi uống rượu với Nguyễn Bắc Sơn bên cạnh ngôi miếu cổ đó. Nơi đó, gần 20 năm qua, tôi không về lại thăm, người bạn khốn khổ của tôi với Nguyễn Bắc Sơn không biết ra sao? Anh Huỳnh Tấn Ngọc mà NBS đưa anh về tá túc trong ngôi cổ miếu ấy sau những năm sống ở kinh tế mới. Bây giờ đọc thơ Sơn, chẳng lẽ ngôi cổ miếu ấy, hôm nay:

 

Ngổn ngang gạch đá lạnh hương trầm

 

để nhà thơ ngồi buồn mà:

 

chợt thoáng trong ly bóng nguyệt rằm?

 

Rồi quê hương anh. Nơi chốn anh sinh ra và lớn lên; mà ngày ngày tôi với những người “đồng khổ” đẩy chiếc xe ba gác chở theo nào những nồi niêu, thùng bọng, cát và xi măng ra núi Cố để trùng tu ngôi mộ cụ Nguyễn Thông. Con dốc đá cao cao mà người dân quê tôi gọi là dốc lầu Ông Hoàng, nơi sinh trưởng của nhà thơ. Với tôi, đẩy chiếc xe ba gát lên dốc cực vô cùng, thế mà nghe người lính cũ cũng làm nghề thợ hồ như tôi, đẩy xe lên dốc mà miệng vẫn hát nghêu ngao: đường lên dốc đá, nhớ xưa hai người đã một lần đến. Lầu Ông Hoàng đó…trong bài nhạc của Trần Thiện Thanh. Mệt, nhưng lại thấy vui vui và khỏe khi gió biển thật nhiều, thật đầy thổi lên từ bờ biển Phú Hài, quê anh. Cái mệt như tan vào bọt biển mất hút trên những đồi cát ngút ngàn bất tận, mà sau này trên những đồi cát ấy nhà thơ Từ Thế Mộng đã an giấc ngàn thu.. Để hôm nay, đọc bài thơ: Chiều Trên Lầu Ông Hoàng bỗng dưng những kỷ niệm xưa như sống lại. Nhưng khác với Sơn, tôi không thể:

“Chiều ngồi bên em

Bay bay tà áo mỏng

Tháp Chàm vẫn trăm năm

Chờ ai mùa biển động.

 

Đá mòn bước chân người

Tường xám xịt khắc đầy tên kỷ niệm

Thời gian! Thời gian ơi

Thầm mơ vầng trăng Hàn Mặc Tử

 

Em về hoa mắc cở

Phủ đầy mộ Nguyễn Thông

Lầu Ông Hoàng- núi Cố

Giữa biển trời mênh mông.

 

Cũng cùng khổ như tôi sau cái ngày tan hàng rã đám ấy, nhà thơ cũng: Cõng con dắt vợ leo đồi/ Phá rừng làm rẫy cất chòi tịnh tâm/ Vợ con tắm vũng trâu nằm/ Lưng gùi tay rựa quanh năm cuốc cày/ Đầu trần chân đất hôm nay/ Mai sau rồi cũng bóng mây lưng đèo. Hay nhà thơ đã ngộ được ra chăng? khi biết: Tử sinh bóng ngã bên bờ nhân gian.

 

Có lẽ thế, đời là vô thường mà, có phải thế không Sơn? Cho nên anh mới nhìn thấy được quanh cuộc sống của anh, nơi nào cũng : thấp thoáng vài nụ hoa. Mà, tôi nghĩ ít có ai như nhà thơ Trần Văn Sơn khi mà cuộc sống đời thường còn có quá nhiều vất vả ( tinh thần lẫn vật chất).

 

 

Ngay cả khi Sơn đến định cư ở Mỹ trong tuổi đời quá mệt mỏi, chẳng có thời gian để hưởng thụ để bù lại những năm tháng khổ ải trong tù, những năm tháng cõng con dắt vợ lên lên rừng để dựng chòi làm nương , làm rẫy. Ngày qua ngày, sống trên đất tạm dung anh đã viết: Chín năm hít toàn bụi vải/ Nhìn quanh bốn bức tường trơn. Những câu thơ trong bài thơ; Thơ Viết Trên Bàn Máy May nghe thật não lòng của một người lính cũ. Để rồi hằng ngày trên vùng Đất Mới, anh phải:

 

Mình nhỉ! Dậy đi trời sắp sáng

Ngủ hoài nuôi mộng cũng bằng không

Quê nhà xa lắc cơn hồng thủy

Cuồn cuộc muôn phương vẫn một lòng

 

Mình nhỉ! Dậy đi trời sắp sáng

Ngủ hoài nuôi mộng cũng bằng không

Bao đêm thao thức nghe mình khóc

Hận muốn quay về thuở kiếm cung

 

Mình nhỉ! Dậy đi trời sắp sáng

Chiếu chăn không dịu nỗi đau đời

Mười năm lưu lạc hồn u uẩn

Thương mái nhà xưa vắng tiếng người

 

Mình nhỉ! Dậy đi trời sắp sáng

Chiếu chăn không dịu nỗi đau đời

Quê người có phải là cố xứ

Đất mới ươm mầm hạt thóc rơi

 

Cái nặng lòng của nhà thơ cứ âm ấp trong người anh một cõi trời cố xứ. Dù nơi ấy, đã một lần làm anh khổ nhục. Nhưng, với anh, quê hương vẫn là Phố quẩn quanh vài ba quán cốc

Hay :

 

Phố quạnh hiu vài ba xóm nhỏ/Đường quanh co ngõ hẹp tối tăm.

Thế mà, khi rời xa nó, anh nhớ vô cùng:

Dặn lòng không khóc

Sao giọt lệ rơi

Quê hương

Chìm trong mây.

 

Bốn câu thơ ngắn ngủi ấy của Sơn mới hiểu tấm lòng của nhà thơ xa xứ hôm nay./.

 

PVN

 

 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, May 27, 201112:00 AM(View: 35630)
Quang Dũng (tên thật là Bùi Đình Diệm (1921–1988) là một nhà thơ Việt Nam. Ông là tác giả của một số bài thơ nổi tiếng như Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ... Ngoài ra ông còn là một họa sĩ, nhạc sĩ. Quang Dũng sinh tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Sunday, May 15, 201112:00 AM(View: 33008)
Hoài Khanh, tên thật Võ Văn Quế. Sinh ngày 13 tháng 6 năm 1934 tại phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Cựu công chức. Từng chăm sóc tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ và chủ trương nhà xuất bản Ca Dao.
Monday, May 9, 201112:00 AM(View: 42324)
- Tổng động viên K1/68 trường BBTĐ. - 10 năm tù CS, từ 1975-1985. - Đến Mỹ 1991. - Hiện công chức TP/HOUSTON, TX, USA từ 1993 đến nay. Làm thơ nhiều nhưng ít đăng báo. Có thơ đăng ở Thư Quán Bản Thảo và mới đây trên trang Bạn Văn Nghệ. Thơ ngôn ngữ lạ mà hay.
Friday, May 6, 201112:00 AM(View: 34454)
Sinh ngày 01.01.1954 - Quảng Nam. Vào Nam 1972, hiện đang sinh sống tại Tân Bình, Sài Gòn. Có thơ đăng trên các báo và tuyển tập xuất bản ở phía Nam. Đã xuất bản tập thơ: HOA TIM - NXB Trẻ, 1997. Thơ Nguyễn - in chung 4 người làm thơ họ Nguyễn - 2010
Sunday, May 1, 201112:00 AM(View: 41833)
Nhà thơ Bùi Chát bị giữ ngay sau khi đi nhận giải thưởng về tự do xuất bản ở Argentina về lại VN