DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,325,176

Họa sĩ Hồ Thành Đức

Wednesday, March 23, 201112:00 AM(View: 53077)
Họa sĩ Hồ Thành Đức

Họa sĩ Hồ Thành Đức

Mặc Lâm

ho_thanh_duc_1-content

 Họa sĩ Hồ Thành Đức


Họa sĩ Hồ Thành Đức sinh năm 1940 tại Đà Nẵng, Quảng Nam. Ông tốt nghiệp Cao Đẳng Quốc Gia Mỹ Thuật Sài Gòn, sáng lập viên đồng thời là chủ tịch của Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), Giáo sư hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh (1969-1975), Khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam (1974-1975). Ông đến Mỹ cùng với gia đình năm 1989 và hiện nay đang sống cùng với vợ là Họa sĩ Bé Ký và gia đình tại tiểu bang California.

Ông đã có rất nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước. Tranh của ông cũng có mặt tại nhiều viện bảo tàng danh tiếng trên thế giới trong đó phải kể đến Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Smithsonian tại thủ đô Washington. Tranh của ông được đánh giá cao bởi nhiều cây bút phê bình hội họa trong và ngoài nước.

Giới hoạt động mỹ thuật tại Việt Nam từ xưa đến nay không ai quên ngôi trường mỹ thuật đầu tiên tại Hà Nội do ông Victor Tardieu thành lập vào năm 1925, đó là trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Những ảnh hưởng lớn lao của ngôi trường này từ những lớp đầu tiên kéo dài nhiều thế hệ họa sĩ trong Nam lẫn ngoài Bắc. Những tên tuổi lớn như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng và Tô Ngọc Vân....Tuy non trẻ nhưng những họa sĩ của lớp tiên phong này đã tạo được sự tin tưởng của lớp trẻ vào nền mỹ thuật nước nhà lúc đó vẫn còn lệ thuộc rất nhiều vào các trường phái mỹ thuật lúc đó tại Pháp, mà nổi bật nhất là trường phái ấn tượng với các danh họa như Claude Monet, Pissarro, Cézanne hay Renoir...

Phải biết chê tranh trong viện bảo tàng và phải biết khen nó như thế nào, chớ không phải chúng ta cứ đinh ninh mấy ông đó là thầy ta thì ta không thể nào vượt được, vì hoàn cảnh lúc bấy giờ là như vậy.

ho_thanh_duc-thieunu__0-content

 Tranh Thiếu Nữ - Hồ Thành Đức


Ảnh hưởng này bắt nguồn từ Victor Tardieu, hiệu trưởng đầu tiên của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, ông đã xây dựng chương trình học của trường trên khuôn mẫu của L'Ecole des Beaux Arts tại Paris, và mang theo ảnh hưởng của chủ nghĩa Ấn Tượng Pháp vào Việt Nam với một lòng nhiệt thành đối với sinh viên người bản xứ.

Nhiều họa sĩ Việt Nam trong thời kỳ này bị ảnh hưởng nặng nề lối tư duy cũng như đường nét mà họ lĩnh hội tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, và họ mang cách nghĩ, cách vẽ này truyền lại cho nhiều thế hệ sau này qua các lớp hội họa từ các trường cao đẳng mỹ thuật trong Nam ngoài Bắc.

be_ky

  Nữ Họa Sĩ Bé Ký, vợ Hồ Thành Đức

Sáng lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam

Một sự kiện đáng chú ý nhất của hội họa Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là việc thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam tại Sài Gòn vào năm 1968. Một nhóm họa sĩ ưu tú tại Miền Nam lúc đó có người đã ra trường, có người còn theo học tại Trường Mỹ Thuật Gia Định đã tập hợp nhau lại thành lập một hội nghề nghiệp mang tên là Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam. Những khuôn mặt tài năng như: Nguyễn Trung, Rừng, Mai Chửng, Nguyên Khai, Vy Cao Uyên, Hồ Hữu Thủ, Đỗ Quang Em, Đinh Cường đều là thành viên đầu tiên của tổ chức này. Một trong những người đứng ra thành lập là họa sĩ Hồ Thanh Đức.

Phát xuất từ những thay da đổi thịt liên tục của hội họa thế giới, những họa sĩ trẻ lúc đó cảm thấy bị vây quanh bởi những ý niệm lỗi thời cũng như những tư duy xơ cứng của các người thầy trên bục giảng. Sự thôi thúc tìm một hướng đi mới trong hội họa đã làm ra đời Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam lúc đó và ngay lập tức nhiều tên tuổi đã nổi lên góp vào sự hình thành một nền văn nghệ sáng tạo mới. Song song với chiến tranh nhưng không phải tranh của họ lúc nào cũng minh họa hay lấy nguồn hứng khởi từ cuộc chiến. Những họa sĩ này đã đa dạng hóa khuôn mặt mỹ thuật Miền Nam bằng nhiều cách khiến cho nó có tiếng nói riêng, diện mạo riêng và nhất là phong cách riêng so với trước đó.

Nhớ lại việc này, Họa sĩ Hồ Thành Đức cho rằng nguyên nhân sâu xa đi đến sự hình thành của Hội là các họa sĩ muốn thay đổi, thay đổi những gì mà họ cho là xưa cũ là lỗi thời:

“Phải biết chê tranh trong viện bảo tàng và phải biết khen nó như thế nào, chớ không phải chúng ta cứ đinh ninh mấy ông đó là thầy ta thì ta không thể nào vượt được, vì hoàn cảnh lúc bấy giờ là như vậy.”

Xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế

Ông cũng kể lại con đường nào đã dẫn ông vào thế giới hội họa:

“Tôi ra Huế học vào khóa thứ ba, tức vào năm 1959-1960 của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế. Tôi là đứa trẻ mồ côi từ Quảng Nam ra Huế học chứ không phải là con nhà giàu Quảng Nam được ra Huế học, thành thử khi tôi vào Trường Mỹ Thuật Huế là đúng với lại ước mơ và năng khiếu của tôi, nhưng mà tôi thiếu rất nhiều phương tiện về sơn, về mực này khác. Và sự tưởng tượng của tôi trong tranh rất là phong phú, cho nên khi tôi vào Nam thì ngoài bao nhiêu tranh ảnh màu sắc ra tôi chợt nghĩ thấy phải làm tranh trong cảnh của nhà nghèo. Có kỳ tôi đi qua đường thấy những miếng giấy màu trong tờ báo này khác, tại sao tôi không ghép để trở thành bức tranh? Thành ra câu chuyện tôi làm tranh giấy dán (tranh “coula”, tiếng Pháp gọi là “coula”) là một sự cùng tắc biến mà thôi chớ không phải là trường phái. Nhưng mà trong việc làm của tôi với lại sự suy nghĩ của tôi có đáp ứng được lòng mơ ước của tôi và năm 1963 tôi dự bức tranh đầu tiên, tôi vẽ cảnh sau giáo đường thì tôi được giải thưởng toàn quốc huy chương đồng của Mùa Xuân. Và từ đó tôi lên từ trường phái của tôi, tức là trường phái tôi làm “coula”mà một mình tôi, tôi tiếp tục con đường đó. Nhờ một mình một chiếu như vậy cũng là điều làm cho tôi có tiếng tăm với anh em. Rồi đến hôm nay thì tôi đã làm được 327 bức tranh, và tôi làm được 104 bài thơ kèm theo, thì tất cả những cái đó là sự thật của tôi, là mỗi bức tranh của tôi là có một lý lịch của nó. Tôi vẽ tranh, bán ở chỗ nào, tôi để ở đâu, ai mua, tôi đều ghi lại hết.

Tranh của Hồ Thành Đức được người xem đồng cảm ở màu sắc là điều dễ nhận ra nhất. Hầu như ông chỉ sử dụng những gam màu sáng tươi trong những hy vọng cùng những con đường nhẹ nhàng dẫn người xem vào bên trong thế giới nội tâm của khung vải. Hồ Thành Đức thành công ở thể loại acrylic hơn là ở các chất liệu khác. Ông chạy theo sự quyến rũ xảy ra cấp thời ngay sau những nhát vẽ đầu tiên cho đến khi kết thúc. Sự nhạy cảm với màu sắc đã giúp ông phân biệt một cách tài tình giữa những khoảng tối cần nhấn mạnh để các góc sáng trở nên tinh tế hơn gây cảm giác mở ra những câu hỏi mà người xem có thể tự đặt cho chính mình.

Hồ Thành Đức cũng tỏ ra khá nhạy bén trong những đề tài mà ông khai thác. Từ mùa xuân của những sắc áo tươi trong da thịt, ông nhẹ nhàng tiến vào những thao thức thân phận ngàn năm của người nghệ sĩ và những dấu hỏi lớn không phai được ông phác thảo trên nền canvas qua hình ảnh của đá, của thiên nhiên, của ánh sáng, hoặc của khung xương cơ thể con người hay thần vật.

Rồi đến hôm nay thì tôi đã làm được 327 bức tranh, và tôi làm được 104 bài thơ kèm theo, thì tất cả những cái đó là sự thật của tôi, là mỗi bức tranh của tôi là có một lý lịch của nó. Tôi vẽ tranh, bán ở chỗ nào, tôi để ở đâu, ai mua, tôi đều ghi lại hết.


Hình ảnh của Phật, của Giê Su và những suy tưởng về đời sống tâm linh cũng chiếm một phần không nhỏ trong tranh Hồ Thành Đức. Ông nhìn các đấng chí tôn với đôi mắt sắc sảo của người bị hành xác trên nẻo đường tục lụy qua chính đời thực của mình. Thấu hiểu sự cô đơn cùng cực của nghèo nàn và tối tăm là chất xúc tác khiến ông thể hiện ánh mắt của Phật từ bi hơn và sự đau đớn trên năm vết thương của Chúa bén lạnh hơn những tranh tượng bình thường. Ông không khai thác hình ảnh cuộc khổ nạn với cách nhìn hời hợt nhưng bằng sự cảm nhận đặc biệt của người nghệ sĩ, ông kể lại đoạn đường thánh giá theo cách than vãn thống hối và đớn đau chung với giòng máu đỏ nay đã thẩm đen qua con tim và nét vẽ của một người ngoại đạo.

Như nhiều họa sĩ Việt Nam trong cùng thời đại với ông, niềm hứng khởi của Hồ Thành Đức cũng thường lập đi lập lại trên đối tượng người nữ mà ông và bạn bè ông như Đinh Cường, Nguyên Khai, Nguyễn Trung, hay Rừng cùng đồng cảm. Hồ Thành Đức nhìn người nữ dịu dàng và đôi khi dè dặt. Những đường viền của tóc hay của môi trên chân dung người nữ trong tranh ông thường được chăm chút cẩn thận với một dụng ý khá rõ là nhằm tăng thêm nữ tính trong từng vết cắt của màu sắc. Ít khi Hồ Thành Đức để cho người nữ của mình im lặng hay bị buộc phải im lặng. Ông đưa hơi thở của nét, của màu, của ánh sáng vào nhân vật khiến người nữ trong tranh ông chừng như muốn bước ra, tung tăng với gió ngàn hay bước ra chỉ trong một khoảnh khắc để đối thoại với người đang đối diện với mình.

Nét sống động trên khuôn mặt mà họa sĩ diễn tả không dính gì tới cách vẽ truyền thần mà nhiều người vẫn thường trầm trồ. Hồ Thành Đức đi theo con đường khác, ông dẫn người xem tranh của ông vén lá để nhìn hoa, lật đá để tìm sức sống bên dưới hay trầm tư để những minh triết nở rộ trong tư tưởng. Suy tưởng khi nhìn tranh của ông là yêu cầu đầu tiên mặc dù mới thoạt nhìn thì tranh Hồ Thành Đức rất đơn giản và hiển thị.

Họa sĩ Hồ Thành Đức đã đi qua một đoạn đường rất dài và ông cũng là chứng nhân của nhiều cuộc biến động từ chính trị, lịch sử đến thăng trầm của nền hội họa nước nhà. Ông đã có tranh trong nhiều bảo tàng viện nhằm góp tiếng nói hiếm hoi của mỹ thuật Việt Nam vào nền mỹ thuật thế giới. Tuy thế, niềm thao thức về một sức sống mới đẩy hội họa Việt Nam lên cùng nhịp điệu của thế giới vẫn luôn bên cạnh ông trong những ngày còn lại nơi xứ người.

ML


 

 

Thơ HỒ THÀNH ĐỨC

 

 

Khi viết về Hồ Thành Đức, ai cũng sẽ nghĩ tôi sẽ viết về một họa sĩ, trong hành trình gần năm mươi năm ông sống và vẽ. Vẽ, đó là cuộc đời ông, gắn liền với nữ họa sĩ Bé Ký, người vợ hiền của ông. Tôi phải gọi Bé Ký là người vợ hiền, như vậy mới đúng danh từ cho chị.

Dĩ nhiên khi nhắc đến Hồ Thành Đức, là phải nhắc đến những công trình hội họa của ông.

Họa sĩ Hồ Thành Đức sinh năm 1940 tại Đà Nẵng, Quảng Nam. Ông tốt nghiệp Cao Đẳng Quốc Gia Mỹ Thuật Sài Gòn, sáng lập viên đồng thời là chủ tịch của Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), Giáo sư hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh (1969-1975), Khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam (1974-1975). Ông đến Mỹ cùng với gia đình năm 1989 và hiện nay đang sống cùng với vợ là Họa sĩ Bé Ký và gia đình tại Little Sài, tiểu bang California.

Ông đã có rất nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước. Tranh của ông cũng có mặt tại nhiều viện bảo tàng danh tiếng trên thế giới trong đó phải kể đến Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Smithsonian tại thủ đô Washington. Tranh của ông được đánh giá cao bởi nhiều cây bút phê bình hội họa trong và ngoài nước.

Một sự kiện đáng chú ý nhất của hội họa Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là việc thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam tại Sài Gòn vào năm 1968. Một nhóm họa sĩ ưu tú tại Miền Nam lúc đó có người đã ra trường, có người còn theo học tại Trường Mỹ Thuật Gia Định, đã tập hợp nhau lại thành lập một hội nghề nghiệp mang tên là Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam. Những khuôn mặt tài năng như: Nguyễn Trung, Rừng, Mai Chửng, Nguyên Khai, Vy Cao Uyên, Hồ Hữu Thủ, Đỗ Quang Em, Đinh Cường... đều là thành viên đầu tiên của tổ chức này. Một trong những người đứng ra thành lập là họa sĩ Hồ Thanh Đức.

Về tranh của Hồ Thành Đức, theo Mặc Lâm trong một bài phỏng vấn trên đài Á Châu Tự Do có nhận xét như sau: “Hồ Thành Đức cũng tỏ ra khá nhạy bén trong những đề tài mà ông khai thác. Từ mùa xuân của những sắc áo tươi trong da thịt, ông nhẹ nhàng tiến vào những thao thức thân phận ngàn năm của người nghệ sĩ và những dấu hỏi lớn không phai được ông phác thảo trên nền canvas qua hình ảnh của đá, của thiên nhiên, của ánh sáng, hoặc của khung xương cơ thể con người hay thần vật.”

Và công trình hội họa và thơ của Hồ Thành Đức được ông đúc kết như sau:

“Rồi đến hôm nay thì tôi đã làm được 327 bức tranh, và tôi làm được 104 bài thơ kèm theo, thì tất cả những cái đó là sự thật của tôi, là mỗi bức tranh của tôi là có một lý lịch của nó. Tôi vẽ tranh, bán ở chỗ nào, tôi để ở đâu, ai mua, tôi đều ghi lại hết.”

Giải Thưởng:

1963 Huy Chương hạng nhất/l Mùa Xuân

1964. Phần thưởng danh dự triển lãm Công Giáo Quốc Tế.

Triển lãm nhiều lần chung và riêng tại Mỹ và các nước khác.

 

*

 

Vì thấy Hồ Thành Đức nhắc đến Thơ, nên hôm nay tôi có bài này viết về thơ ông.

Trước đây, và ngay bây giờ, Hồ Thành Đức luôn luôn là thành viên quen thuộc tại cà phê Factory mỗi thư bảy, chủ nhật. Nhà ông ở từ đường Bolsa và New Land, ông không lái xe được nhưng ông là người thích bạn bè, bù khú với nhau bên ly cà phê buổi sáng, nên sáng thứ bảy, chủ nhật nào, nếu ông không có bạn bè đến đón, thì ông cũng đón xe buýt để đi uống cà phê. Nhờ những lần uống cà phê như thế này, nhóm anh em văn nghệ hay ngồi với nhau nói chuyện trên trời dưới đất, tôi mới biết đến ông, dù trước đó danh tiếng của Hồ Thành Đức và Bé Ký đã nổi, có thể nói, nhiều người biết đến rồi. Hồ Thành Đức, dù xa Quảng Nam Đà Nẵng lâu ngày, nhưng ông vẫn mang sắc thái Quảng Nam, con người Quảng Nam, giọng nói Quảng Nam. Điều này tôi rất yêu thích.

Khi tôi còn phụ trách tờ Đặc San Quảng Nam (những năm 2000-2003), mỗi dịp Tết thực hiện một số để kỷ niệm của Hội Đồng Hương Quảng Nam, Hồ Thành Đức lúc nào cũng sốt sắng đóng góp bài vở, ông không có cái kiêu hãnh (nói theo danh từ thời thượng là chảnh) của người đã nổi tiếng, là người đã thành danh - thành công về hội họa.

 

Sau đây là bài thơ tôi đọc đầu tiên của Hồ Thành Đức và là một bài thơ hay. (bài thơ đầu tiên tôi đã đọc của Hồ Thành Đức chứ không phải bài thơ Hồ Thành Đức làm đầu tiên):

 

MÁU CHẢY VỀ TIM

 

Cứ ngỡ em về trong giấc mơ

Vàng son buổi trước lỗi câu thề

Ai đem khăn trắng treo đồi tím

Cây nhớ nhung buồn hoa nhớ hương

Trời khoanh một mảnh tình tan vỡ

Đất cũng cúi đầu rỉ vết thương

Ta biết! Rồi đây em sẽ thấu

Mối tình ngang trái đóng vào đinh

Giọt máu nào trên cây Thánh Giá

Nhỏ vào đời thấm nỗi oan khiên

Ta như chim bay hoài thấm mệt

Bỏ giáo đường mòn mỏi đức tin

Em, như giòng sông trôi chảy mãi

Rã cuộc tình gãy cánh uyên ương!

Từ buổi đó có cây nến lạ

Thắp giữa trời mười ngón đau thương

Từ buổi đó ta đi em ở lại!

Núi sông buồn cây cỏ hoang vu

Ta ở đây đất khách quê người

Nghe chim hót đau từng khúc ruột

Nghe kinh khuya thở cuộc đời buồn

Ước gì có cánh tay nghìn dặm

Níu tình em qua Thái Bình Dương

Ta cũng muốn trải dài cơn mộng

Để lỗi lầm về với ăn năn

Để trăng khuya trở lại đêm rằm

Để sáng dậy nghe chim ca hót

Để tình anh gặp lại đời em!

Xin hãy nhổ cây đinh oan trái

Giọt máu nào không chảy về tim.

 

HỒ THÀNH ĐỨC

 

(Trích trong tập tranh và thơ:"Ngựa Trắng Đi Khuya")

 

Lại xin nói về những người nghệ sĩ đa năng, có người lại muốn ôm đồm qua nhiều lãnh vực, như Văn Cao vừa sáng tác nhạc, vừa làm thơ, vừa vẽ. Trịnh Công Sơn sáng tác nhạc rồi lại vẽ. Tranh Trịnh Công Sơn cũng muốn bon chen cùng các hoạ sĩ khác trong nhiều cuộc triển lãm ở Sài Gòn trước đây, nhưng giới thưởng ngoạn không “felling” cho lắm. Rừng ngoài vẽ cũng làm thơ và viết văn với bút hiệu Kinh Dương Vương hay Nguyễn Tuấn Khanh, tuy nhiên viết văn và làm thơ chỉ là “nghề tay trái” của họa sĩ Rừng. Ngoài ra còn có Đặng Hiền, hiện chủ biên tờ Hợp Lưu (thay Khánh Trường) là một người làm thơ, cũng có những bức tranh anh vẽ treo ở văn phòng sửa chữa computer của anh và vẫn khoe về tranh của mình, nhưng theo tôi, tranh của Đặng Hỉền thì chưa đạt), cũng như Duy Lam, có một thời đi đâu ông cũng đem tranh ông vẽ cho bạn bè xem, nhưng tranh cũng không đạt. Cho nên cái gì trời đã thiên phú cho người, thì nên nhận lãnh cái đó, ôm đồm quá cũng không hay.

 

ho_thanh_duc3-content


Riêng Hồ Thành Đức, dù Thơ ông không bằng tranh vẽ của ông, nhưng cũng khá hay như bài thơ trên.

Ngồi với Hồ Thành Đức, nghe ông nói, cũng là một niềm vui (nhưng cũng có người bực mình) vì ông nói rất sa đà về ông, về Bé Ký, hay những hiểu biết thơ văn của ông với các tác giả khác. Ông nói thao thao bất tuyệt, có những giai thoại rất hay về các tác giả khác mà ông biết như về Bùi Giáng, về Nguyễn Đức Sơn. Ông mê thơ Bùi Giáng nên ông thuộc thơ nhiều của Bùi Giáng. Hồ Thành Đức có một trí nhớ rất tốt là thuộc nhiều thơ của các tác giả mà ông thích và ông kể chuyện Quảng Nam, cũng là một đề tài hấp dẫn.

Trong thời gian gần đây, Hồ Thành Đức có thực hiện một tuyển tập lấy tên là Ngựa Trắng Đi Khuya, ông bỏ công hàng năm trời để “thực hiện cho bạn bè văn nghệ” tập này. Mỗi bạn văn nghệ, nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, ông lấy một số đoạn thơ hay, hay một lời nhạc hay, rồi ghép với tranh ông, để thành tuyển tập. Sau khi thực hiện xong, ông muốn in tập này trong nước, nhưng vì qua kiểm duyệt, tác phẩm không được cho in, ông bèn phải bỏ dỡ dang công trình này, thật đáng tiếc. Nhắc về công trình này của Hồ Thành Đức, nhà thơ Luân Hoán ghi lại như sau:

“Tác phẩm của Đức là những bản chụp tranh màu của anh được đi kèm với vài câu thơ, vài dòng nhạc, dòng văn của bạn bè. Dĩ nhiên toàn những anh chị đã thành danh lâu ngày với cuộc đời văn học, nghệ thuật. Tôi được Hồ Thành Đức dành cho 2 trang. Sách sẽ được in trên giấy tuyệt hảo nhất, do một nhà xuất bản uy tín ở quốc nội ấn hành ngay sau khi Đức hoàn tất. Tôi chia sẻ niềm vui cùng Đức và cũng như anh, tôi mong mỏi những tác phẩm có giá trị chóng được ra mắt bạn đọc. Đức cũng không quên kể với tôi sự thành công về tài chánh từ một họa phẩm anh bán được gần đây. Mừng cho bạn nhưng tôi chợt cảm thấy băn khoăn, vì những mẩu chuyện ấy, anh thỉnh thoảng nhắc lại, kể lại như mới nói lần đầu tiên. Sự chợt quên chợt nhớ hình như đã đến với Đức. Nhà thơ Đặng Hiền thì nói nhỏ với tôi về sự ảo tưởng của Đức. Ảo tưởng cũng là một điều thú vị, nhiều khi chúng ta cũng nên cần nó chút đỉnh.”

 

Tôi không hiểu trong đoạn văn này, Luân Hoán viết về chuyện Đặng Hiền nói “Hồ Thành Đức “ảo tưởng”, là ảo tưởng gì? Tôi nghĩ câu nói này chỉ có một ý là Hồ Thành Đức nói không thực, vẽ vời về mình. Sự thực chuyện đó có, nhưng vô hại, đó là do tính người “nói cho vui thôi mà”.

Trong công trình tác phẩm Ngựa Trắng Đi Khuya của Hồ Thành Đức, là tôi cũng được Hồ Thành Đức chiếu cố cho một trang, với bức tranh Đá Đam Mê của ông và 2 đoạn thơ trong bài thơ Uyên Ương của tôi:

 

Em hương nhụy hồng hoa ta hãy hái

Chùm môi thơm từng cánh rã trên tay

Lòng hoang tưởng mùa thu em thức dậy

Bàn tay mềm cho tình ái mê say

 

Ta hát khúc uyên ương trên đồi cọ

Giữa mùa thu trùng điệp ánh sao rừng

Lòng đã mở tan hoang bài ca cũ

Khúc tình tang trùng khuất giữa mùa xuân

 

*

 

Cuộc Tình của Vợ Chồng Hồ Thành Đức, Bé Ký 

 

Về cuộc tình của Hồ Thành Đức và Bé Ký, theo Luân Hoán kể lại cũng rất thú vị, xin ghi lại sau đây: 

“Trong tất cả những cuộc triển lãm, Hồ Thành Đức đều thu lượm được nhiều kết quả khả quan về tinh thần cũng như tài chánh. Nhưng đáng kể hơn hết là cuộc bày tranh lần đầu tiên. Lần đó, anh có thu hoạch bất ngờ và quá tuyệt vời.

Hồ Thành Đức kể lại, vào một giờ vắng khách, anh đang lai rai dạo quanh phòng tranh, ngắm lại những tác phẩm của mình đang hít thở trên các mặt tường. Anh muốn chia sẻ với chúng những hồi hộp chờ đợi, những băn khoăn, nghi ngại, chợt anh thấy từ cửa phòng tranh xuất hiện một cô gái tóc kẹp, thả dài xuống lưng. Anh bất ngờ giật mình, nhưng làm tỉnh được ngay. Cô gái đã dừng trước họa phẩm thứ nhất, im lặng ngắm. Ánh nắng chiều của Sài Gòn hình như đang dịu lại. Những tiếng ồn ào của một thành phố sinh động cũng chừng như lắng xuống. Hồ Thành Đức tưởng chừng những tiếng bước thật khẽ của cô gái là những âm thanh hiện hữu duy nhất trong phòng tranh giàu linh hồn của anh...Đức thật tình không muốn rình rập người khách đặc biệt mà anh đã biết rõ là ai. Nhưng lòng anh cứ thắc thỏm. Và sự chờ đợi như được sắp xếp từ tiền định đã đến.

- Chào ông, phòng tranh có vẻ vắng quá.

Đức chợt tìm thấy ngay cái mau miệng lém lỉnh của mình:

- Không đâu thưa cô, có lẽ giờ này chưa được thuận tiện.

Anh cười dù cỏ vẻ hơi phật lòng. Cô gái không mỉm cười trả lễ, nhưng không lạnh lùng, cô nhìn quanh phòng tranh. Đức cũng đưa mắt theo chiều quan sát của người khách. Bình hoa màu vàng óng, đang ánh lên những tảng nắng ghé thăm. Chiếc khăn trải bàn trắng nõn. Đức thấy cây bút nằm hờ hững trên lòng tập đựng chữ ký lưu niệm. Anh đang định mời cô gái, thì bất ngờ nghe tiếng hỏi

- Anh có biết tôi là ai không?

Chừng nửa giây ngập ngừng, Đức đáp chững chạc, tự nhiên;

- Thưa rất làm tiếc, xin lỗi cô là ai.

Không lưỡng lự, cô gái, giới thiệu mình:

- Tôi là Bé Ký

- A, thế ra cô là những họa sĩ của hè phố

Lẽ ra Đức phải có cái nụ cười tinh nghịch, châm chọc như thói quen. Nhưng không hiểu sao, lòng anh thấy yên ả, bình thản và có cái gì như ấm áp đang vây bọc lấy anh.

- Hôm nay cô không ra Lê Lợi, Catinat...?

- Không, mấy hôm nay tôi không ở Sài Gòn. Tôi vừa từ Ba Mê Thuột về đây, cốt yếu xem phòng tranh của anh. 

Đức lượm được cái cảm động thật tình thứ nhất. Anh mơ hồ thấy sự bềnh bồng của hồn vía mình. Tảng nắng chiều đang ngả sang màu vàng nhạt, mở ra cho hai người họa sĩ một khoảng không khí tươi mát vừa đủ để nói chuyện đời.

Hoá ra chặng đời làm con nuôi của Bé Ký không được bằng phẳng dễ đi. Chị đã chịu đựng khá nhiều vất vả cũng như tủi nhục. Không chọn lựa sự giàu sang, nhưng "vừa ăn vừa khóc như mưa tháng mười" vẫn từng xảy ra. Chị đã mở hết một khoảng đời mình để cho người bạn họa sĩ vừa mới quen nhìn vào. Không hiểu vì sao họ chóng đọc được lòng nhau mau như vậy. Đức quên cô tình nhân đang có. Anh đưa người nữ họa sĩ của thủ đô Việt Nam Cộng Hòa về nhà. Và chẳng bao lâu sau. Anh chị cho bạn bè một bữa tiệc thân mật. Ngày cưới của Hồ Thành Đức, Bé Ký gần như không có họ hàng, bà con của cả hai bên. Họ sống chân tình với bằng hữu, nên trong ngày vui thật vô cùng đông đảo. Cánh bạn đồng hương Quảng Nam, cánh bạn họa sĩ, cánh bạn làm văn thơ, viết báo. Có cả những viên chức rủng rảng chức vụ, quyền uy. Ngày vui đó nằm trong năm 1965.”

 

*

 

Viết về thơ của Hồ Thành Đức tôi xin nói thêm, ông là người rất có tình với quê hương Việt Nam, nên khi ở quê nhà bị bão lụt, ông đã có bài thơ với tâm tình sâu nặng, sau đây:

 

 

Bão Lụt Lòng Ta

 

Thấy một người khăn sô trên báo Việt

Nơi đàn con chiu chít chỗ chia lìa

Chiếc quan tài người cha chưa tẩm liệm

Giữa khung trời bão lụt ở Thừa Thiên!

Nghìn cánh tay, vạn con mắt ưu phiền

Đang ngụp lặn trong bão bùng mưa thét

Đang chơi vơi hãi hùng trong gió rét

Một màu tang quấn chặt chốn quê nhà

Nhìn hung ảnh kia ta bỗng khóc òa

Như lúc bé hồi cha vừa mới mất!

Ta đinh ninh quê hương là có thật

Nên ruột rà khúc rốn vẫn chung nhau

Nên âm dương chia cắt vẫn một trời

Tình nghĩa ấy thấm ngầm trong tim phổi

Của loài chim bay, của con thú dữ

Biết ngậm ngùi khi đồng bọn đớn đau!

Chia cơm xẻ áo, nối lại nhịp cầu

Trong khổ ải mới tìm ra chân lý

Ai che mặt trời! Ai người ích kỷ

Thì hôm nay đốt lửa sưởi bàn tay!

Tình quê hương nhen nhúm những vơi đầy

Thâu góp lửa cho mặt trời ấm lại

Cho chim bay cho thuyền ra cửa ải

Người nối người lấp cạn hố thiên tai!

Để đêm đêm vơi bớt tiếng thở dài

Của đàn trẻ hôm qua vừa mất bố

Trăm vạn oan hồn, trôi sông lạc chợ

Chút hương đèn trở lại chốn dương gian!

Mẹ em ta còn chút nắng ngỡ ngàng

Sưởi ấm nốt những tháng ngày đau khổ

Của thiên tai, lửa bom và cơm áo

Chất chồn lên, cao ngút đỉnh Trường Sơn!

Mẹ ở Cali mẹ ở Sài Gòn

Nghe tin sét, lòng buồn không tả nổi!

Con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ

Áo cơm nhau, chia sẻ chút tình người.

 

 Thơ Hồ Thành Đức tuy không bằng nét vẽ của ông, nhưng cũng làm người người đọc cảm động.

 

 Trần Yên Hòa

 


Hoạ sĩ Rừng ra mắt sách, triển lãm ‘tranh mini’


Hoạ sĩ Rừng ra mắt sách, triển lãm ‘tranh mini’
Họa sĩ Rừng đang ký vào sách

Họa sĩ Rừng - cũng là người ký tên Kinh Dương Vương khi viết truyện và ký tên Dung Nham khi làm thơ-- vừa thực hiện buổi triển lãm tranh và ra mắt sách hôm thứ Bảy 19-3-2011 tại Anaheim, Quận Cam. Có hơn 40 tấm tranh khổ nhỏ của họa sĩ trưng bày lần này, phần treo trên tường và phần đặt nơi các cội cây trong vườn nhà của phê bình gia Đặng Phú Phong.

 

Có 5 đầu sách trưng bày – trong đó 2 tựa sách mới là “Dung tham thơ toàn tập,” và “Kinh Dương Vương văn xuôi toàn tập.” Còn lại 3 đầu sách khác -- truyện dài “Mắt trời mù,” sách hội họa “Trên tầng thanh khí,” và tập truyện ngắn “Những chiếc mặt nạ cười” -- đã in từ các năm trước.

Trong khi cuốn “Dung Nham Thơ Toàn Tập” hiển lộ kiểu ngang ngược trước giờ của ông, thì “Kinh Dương Vương văn xuôi toàn tập” mở đầu bằng giọng văn trầm lắng, ghi lời “Thơ viết cho con đầu lòng” như đưa cạn hết tâm tình rằng tại sao ông một đời cầm bút, cầm cọ... Những truyện ngắn trong này dù cũ hay mới vẫn là tuyệt vời, mỗi lần đọc là một lần cửa mở ra một góc cạnh mới.

Tuy nhiên, Họa sĩ Rừng (tức nhà văn Kinh Dương Vương) tâm sự rằng, trong khi in cuốn này, thì ông đã viết xong một đợt văn xuối mới, cũng có độ dày cỡ cuốn “Kinh Dương Vương văn xuôi toàn tập” dày tới 1,200 trang. Nghĩa là toàn tập, thực ra là toàn tập 1, tưởng là hết, nhưng lại viết thêm cac1 bài khác với độ dày tương tự.

Với truyền thống mỗi đợt tranh trưng bày là trình bày một khám phá mới, Họa sĩ Rừng lần này đưa ra đợt tranh khổ nhỏ, tuy cũng sử dụng đa dạng chất liệu như sơn dầu, như tổng hợp, hay chất liệu đặc biệt... tranh của ông lần này đưa ra một phong thái trừu tượng mới, và rất lạ theo kiểu.

Nếu chúng ta nhớ tới lần triển lãm tranh chủ đề Bát Quái của Họa sĩ Rừng trong năm 2006 tại Gallery Việt Báo, những dị biệt hiển hiện ra thấy rõ, dù cũng là những kiểu riêng rất Rừng. Tranh Bát Quáí năm xưa của ông là khổ lớn, có tấm tranh chiều ngang 3 mét tới 4 mét, sử dụng duy nhất 3 màu đỏ, trắng, đen... đều vẽ trên canvas và không đóng khung.

Còn đợt tranh lần naỳ, mà ông gọi là tranh mini, đều khổ nhỏ, trung bình chiều ngang từ 2 tới 4 tấc, sử dụng gần như tất cả các màu – tuy vậy, một số tranh làm gam màu xám chủ đạo, cách thực hiện có vẻ như không phải dùng cọ để sơn, mà như dường chủ yếu dùng cách ép các bảng màu xuống cho loang trên giấy; do vậy, tất cả tranh đợt naỳ đều đóng khung kính.

Họa sĩ Hồ Thành Đức ngồi uống rượu liên tục trong buổi ra mắt, nói với phóng viên rằng ông học chung Đaị Học Mỹ Thuật Huế với Họa sĩ Rừng, ngay năm đầu học văn từ Giáó Sư Lê Hữu Mục, và Họa Sĩ Rừng đã hiển lộ văn tàì ngay từ năm thứ nhất, được GS Mục khen ngợi... lúc đó, “Thầy Lê Hữu Mục xin phép 2 đứa tôi (Hồ Thành Đức và Rừng) lấy 2 bài văn tụi tôi đưa qua trường Sư Phạm Huế làm bài luận mẫu.”

blank









Một tấm tranh để nơi cội hoa.


Hồ Thành Đức nói thêm, “Khen bạn ta làm việc liên tục, suốt đời vẽ tranh, làm thơ, viết turyện không ngừng, đầy tính nghệ thuật trong cả sáng tạo và đời sống... Đời sống với Rừng là sáng tác, luôn luôn khám phá, không giống ai và cũng không ai giống Rừng...”

Phê bình gia Đặng Phú Phong (người chủ nhà thực hiện buổi triển lãm và ra mắt sách) nhận xét rằng Họa sĩ Rừng lúc nào cũng có sắc mà mạnh bạo, tuy nổi tiếng trước 1975 nhưng ông vẫn liên tục từ bỏ phong cách cũ, liên tục mỗi năm mỗi khám phá mới, dám “khám phá những cái mới cho riêng mình.”

Trong buổi triển lãm còn có những khuôn mặt nghệ sĩ quen thuộc, như các họa sĩ Bé Ký, Hồ Thành Cung, nhà điêu khắc Ưu Đàm, nhiếp ảnh gia Brian Đoàn, các nhà thơ Lê Bi và Lê Trung Khiêm, nhà báo Phí Ích Bành, nhà thơThành Tôn, Trần Yên Hòa, Trần Văn Sơn, Trịnh Y Thư...

Họa sĩ Rừng, tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh ngày 14.03.1941 tại Nam Vang, Cam Bốt, nhưng khi 5 tuổi đã theo gia đình về Việt Nam.

Tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế (1963), họa sĩ Rừng là thành viên Hội họa sĩ trẻ Việt Nam từ những năm trước 1975.

Sang định cư ở Mỹ năm 1994, đến nay ông đã có nhiều cuộc triển lãm ở nhiều nứơc trên thế giới. Lúc đầu cư ngụ ở Oregon, sau về Los Angeles, California, và rồi thỉnh thỏang vẫn về Việt Nam.

Phóng viên Phạm Điền của đài RFA năm 2005 đã từng ghi nhận về họa sĩ Rừng như sau: “Không những đam mê vẽ, ông còn là một người yêu văn chương, viết văn duới bút hiệu là Kinh Dương Vương, làm thơ duới tên là Dung Nham. Dường như ông thu hẹp sân chơi của mình trong ngành nghệ thuật, dù bút lông hay bút mực.

Chẳng lạ gì, ông có rất đông bạn trong giới làm văn làm thơ. Hiện sinh sống tại Los Angeles, ông rất vui được sống với thế giới màu sắc. Gia đình ông có máu nghệ thuật, con trai ông là Ưu Đàm đã nổi tiếng là người điêu khắc từ nhiều năm nay và mới tốt nghiệp bằng cao học ở New York về Điêu Khắc Sculpture.”

BVN-TH


Reader's Comment
Monday, September 5, 20169:24 PM
Guest
I have some lacquers painted by Miss Be Ky and Mr Ho Thanh Duc during the eighties in Saigon that I bought from them when I met thiese artists. Are you interesting to see the pictures ? Could you make an expertise just viewing the pictures. I am the owner of the Ho Thanh Duc masterpiece according to him at this period of his live (Jesus-Christ).
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, May 27, 201112:00 AM(View: 35631)
Quang Dũng (tên thật là Bùi Đình Diệm (1921–1988) là một nhà thơ Việt Nam. Ông là tác giả của một số bài thơ nổi tiếng như Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ... Ngoài ra ông còn là một họa sĩ, nhạc sĩ. Quang Dũng sinh tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Sunday, May 15, 201112:00 AM(View: 33008)
Hoài Khanh, tên thật Võ Văn Quế. Sinh ngày 13 tháng 6 năm 1934 tại phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Cựu công chức. Từng chăm sóc tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ và chủ trương nhà xuất bản Ca Dao.
Monday, May 9, 201112:00 AM(View: 42325)
- Tổng động viên K1/68 trường BBTĐ. - 10 năm tù CS, từ 1975-1985. - Đến Mỹ 1991. - Hiện công chức TP/HOUSTON, TX, USA từ 1993 đến nay. Làm thơ nhiều nhưng ít đăng báo. Có thơ đăng ở Thư Quán Bản Thảo và mới đây trên trang Bạn Văn Nghệ. Thơ ngôn ngữ lạ mà hay.
Friday, May 6, 201112:00 AM(View: 34454)
Sinh ngày 01.01.1954 - Quảng Nam. Vào Nam 1972, hiện đang sinh sống tại Tân Bình, Sài Gòn. Có thơ đăng trên các báo và tuyển tập xuất bản ở phía Nam. Đã xuất bản tập thơ: HOA TIM - NXB Trẻ, 1997. Thơ Nguyễn - in chung 4 người làm thơ họ Nguyễn - 2010
Sunday, May 1, 201112:00 AM(View: 41833)
Nhà thơ Bùi Chát bị giữ ngay sau khi đi nhận giải thưởng về tự do xuất bản ở Argentina về lại VN