DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,531,447

Nhân một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75 - Vương Trí Nhàn

Sunday, December 28, 201412:00 AM(View: 11259)
Nhân một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75 - Vương Trí Nhàn

Nhân một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75

 

 

blank

vương trí nhàn


Một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75 vừa được tổ chức ở bên Mỹ. Tôi hơi thất vọng vì ba lẽ:

1/ các đồng nghiệp của tôi ở hải ngoại vẫn bị cảm xúc chi phối quá nặng. Bây giờ mà các anh vẫn nhắc nhở đến những đánh giá bất công của mấy ông X, Y. Z., những ý kiến cực đoan tồn tại từ đã trên dưới ba chục năm trước. Vào thời điểm này trong nước có mấy ai còn nghĩ như thế?

Theo sự nhìn nhận của tôi, thì hiện nay nghiên cứu văn học trong nước đang ở thế bế tắc đến cùng cực. Nhiều việc cần làm mà không ai đủ sức làm. Với cả nền văn học Hà Nội từ sau 1945 cũng không ai có được phát hiện gì mới.

Chính là lúc này, một số bạn trẻ rất có năng lực ở Hà Nội có, ở Sài Gòn Huế có, đang âm thầm hướng tới những Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan… để hy vọng qua kinh nghiệm của các nhà văn bậc thầy ấy, may ra hé lộ con đường đi tới của văn chương nước nhà. Sao các anh không tính chuyện thảo luận cùng họ, cộng tác với họ?

Các anh than thở “Văn học miền Nam (VHMN) từ 54-75 là một trong những nền văn học bất hạnh nhất trong lịch sử văn học Việt Nam” với nghĩa nó bị cấm đoán, nó không được thu thập đầy đủ. Cái đó có, nhưng tình cảnh đâu đến nỗi bi đát lắm, hiện nay nó đang được khôi phục dần dần.


blank

Quan cảnh Hội thảo 20 năm Văn học miền Nam ngày 6.12.14 tại Hội trường nhật báo Người Việt, Westminster, CA, USA


Nếu muốn dùng chữ bất hạnh, tôi nghĩ tới cả nền văn học dân tộc nói chung, bao gồm cả văn học miền Bắc. 
Nhưng hiểu theo nghĩa này, thì cứ gì văn học VN. Mà văn học Trung Hoa lục địa cũng bất hạnh, văn học Nga xô viết cũng bất hạnh.

Nay là lúc chúng ta cùng nên gạt những cảm xúc bi lụy ấy đi.

May mà những năm ấy, còn có văn học miền Nam!
Nay là lúc chúng ta phải nhìn về nó với niềm tự hào và gắng đi tìm ra những bài học của nó, để tiếp tục làm văn học trong hoàn cảnh mới và giúp cho văn học trong nước cùng phát triển.

2/ Xin phép nói một cảm tưởng sau khi đọc các bài tham luận. Gạt đi mọi khách sáo, tôi muốn được thẳng thắn mà nói rằng cách tôn vinh VHMN của các anh rất nhiệt tình đấy, nhưng còn thiếu sức khai phá gợi mở.

Theo tôi hiểu, các phương pháp tiếp cận văn học trên thế giới hiện nay đủ mạnh để phát huy hiệu quả cả với văn học các nước Đông Nam Á, các nước Ả Rập…(nói chung là những nền văn học bên ngoài văn học phương Tây). Lâu nay đọc các anh viết trên mạng, các cuốn sách các anh mới in, tôi biết rằng trong mấy chục năm qua, ở xứ người, các anh đã học hỏi được rất nhiều.
Thế mà nhìn vào những nhận xét các anh nêu lên trong hội thảo này, tôi chưa thấy được cái mới đó - các anh chưa mở ra được cái phương hướng mới đủ sức giúp bạn đọc hôm nay hiểu thêm về một nền văn học mà mọi người cùng yêu mến.

3/ Khi nói về văn học miền Nam, lẽ tự nhiên người ta phải đả động đến văn học miền Bắc.

Đã có lần, trong một cuộc phỏng vấn của một đồng nghiệp, tôi nói rằng một trăm năm sau, khi nói tới thế kỷ XX, người ta không bỏ được nền văn học miền Nam, cũng như không thể bỏ được văn học miền Bắc.
Dù phân lượng không đồng đều, song mỗi bên có đóng góp riêng vào việc ghi lại đời sống tinh thần dân tộc, không bên nào thay thế được bên nào.

Đến hôm nay, tôi vẫn nghĩ thế, và tôi muốn các anh cùng chia sẻ.

Làm sao trong khi đề cao VHMN 54-75, các anh có thể sổ toẹt cái phần thành tựu theo một cách riêng của văn học miền Bắc trong thời gian đó.

Tôi không nói tất cả, tôi chỉ nói rằng vượt lên trên một số đông tầm thường và xu thời, vẫn có những cây bút miền Bắc tin ở sứ mệnh cầm bút của mình.

Ở những người này có rất nhiều mâu thuẫn, cũng có lúc họ đã chùn tay, đã đầu hàng, nhưng rồi tiếp sau đó, bên cạnh đó, lại vẫn giữ được cái phần lương tâm lương tri của một người viết văn

chân chính. 

Nỗ lực đó của họ còn được ghi lại trong các trang sách.

Đối lập và tuyệt đối hóa những khác biệt văn học giữa hai miền chẳng những là bất cận nhân tình mà còn là phản khoa học.

Nó ngăn cản người ta đi dần tới một cách hiểu đúng đắn về mỗi bên.

Chính ra là trong sự phát triển của mình, văn học hai miền thời gian 1954-75 đã có sự nhìn vào nhau, đối thoại ngấm ngầm với nhau.

Việc nghiên cứu trở lại cuộc đối thoại xảy ra trong những năm đó là một trong những phương cách thiết yếu để đẩy tới cuộc đối thoại giữa văn học trong nước và văn học hải ngoại hôm nay.

Vương Trí Nhàn

Nguồn: http://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/12/nhan-mot-cuoc-hoi-thao-ve-van-hoc-mien.html


Comment

(từ: damau)


  • black raccoon viết:

  • Đối lập và tuyệt đối hóa những khác biệt văn học giữa hai miền chẳng những là bất cận nhân tình mà còn là phản khoa học. (VTN)

    Tôi không rõ liệu trong văn học “đối lập” và “khác biệt” có thể đem lại “bất cận” và “phản” như ông Vương Trí Nhàn chủ trương hay không?
    Theo tôi nghĩ, đã đối lập thì đâu cần phải “cận”. Mà, khoa học mình có muốn phản lại nó cũng khó, có khi bất khả. Nói thí dụ, xe có 4 bánh tròn, nay làm cho nó vuông thì làm sao chạy? Về đối lập, theo tôi biết ngay văn học thời VNCH, có nhừng nhóm, những cá nhân, những tạp chí họ khá trái ngược nhau, thậm chí không giao du với nhau. Họ bất cận và họ khác biệt nhau nhưng họ hoàn toàn không (thể) triệt tiêu nhau, nền văn học đó vẫn … chạy. Như vậy thì nó vẫn nhân tình và vẫn … khoa học chứ!

    Vấn đề của văn học tựu trung có thể kể: tác giả, tác phẩm, xuất bản và đọc giả. Ở trong nước hiện nay có đầy đủ. Nó lại được sống trong thời kỳ hoà bình ổn định. Nó hùng hậu gấp 10 lần thời chiến tranh của văn học VNCH. Nay, quý vị than thở là nó đang bế tắc. Theo ý của quý vị, có lẽ là bế tắc “khâu” tác phẩm. Tác phẩm thuộc về hoàn toàn của tác giả. Chịu. Làm sao cho một tác giả sáng tác được hay? Chịu. Tôi tin là sẽ chả có cuộc bắt tay làm việc nào có thể chen vào lĩnh vực hoàn toàn tư riêng này được cả. Còn như vấn đề thuộc về xuất bản hay học thuật chẳng hạn, thì tự điều chỉnh lại. Cho “Giấy Vụn” chính thức hành nghề đi. Đừng tịch thu bằng cấp của nhà văn Nhã Thuyên v.v…

    - 26.12.2014 vào lúc 10:37 am

  • Thiệp Hằng viết:

    Ông VTN viết: “Tôi không nói tất cả, tôi chỉ nói rằng vượt lên trên một số đông tầm thường và xu thời, vẫn có những cây bút miền Bắc tin ở sứ mệnh cầm bút của mình.

    Ở những người này có rất nhiều mâu thuẫn, cũng có lúc họ đã chùn tay, đã đầu hàng, nhưng rồi tiếp sau đó, bên cạnh đó, lại vẫn giữ được cái phần lương tâm lương tri của một người viết văn chân chính. Nỗ lực đó của họ còn được ghi lại trong các trang sách”

  • Thưa ông, qua những trang sách của những ấn phẩm trong giai đoạn 54-75 đã được phát hành tại miền Bắc VN , tôi cố tìm để xem ai là thiểu số cây bút miền Bắc này nhưng chưa tìm đươc. Mong ông chỉ giáo dùm Cảm ơn ông.

    - 26.12.2014 vào lúc 12:15 pm

  • Nguyễn Đức Tùng viết:

    Bài nhận định của nhà phê bình Vương Trí Nhàn chứa quá nhiều điểm có thể gây tranh cãi, trong khi nó khá ngắn, có lẽ vì viết cho blog riêng.
    Tuy nhiên, nó vẫn có thể phản ảnh đúng thực trạng của sự suy nghĩ của nhiều người như ông ấy, ở vào các vị trí khác so với các nhà văn hải ngoại.
    Dù sao, Vương Trí Nhàn vẫn là một nhà phê bình có uy tín ở miền Bắc, và có thiện cảm với văn học miền Nam. Tôi thiết nghĩ, đọc văn bản một cách cẩn trọng, và góp ý hay phê phán, nếu có, một cách ôn tồn, sẽ dễ thuyết phục người có ý kiến khác biệt với mình hơn.
    Như thế mới có thể mở rộng đối thoại đa chiều, có ích cho văn học.
    Việc đặt bài nhận định của Vương Trí Nhàn bên cạnh các bài khác, nhất là bài tham luận sắc sảo của anh Phùng Nguyễn, gợi ra nhiều điểm khác biệt cần mọi người suy nghĩ thêm.
    Sự công bố bài nhận định của VTN, anyway, là một việc làm công bằng và trọng học thuật của Da Màu.
    Bravo các bạn.
    Nguyễn Đức Tùng

    - 26.12.2014 vào lúc 11:48 pm
  • black raccoon viết:

    Sự ganh đua trong văn học

    Sự ganh đua trong văn học chỉ có giá trị khi nó xảy ra trong phạm vi … văn học. 2 người chạy đua chỉ có thể duy nhất dựa vào sức phóng tới của mình. Ở mức đến, người thắng hân hoan nhưng người thua sẽ khâm phục. Tôi thấy vào thời VNCH, văn học cũng đầy sự ganh đua. Nhóm Sáng Tạo dường như khá kiêu ngạo. Mai Thảo và Thanh Tâm Tuyền có khi đã công khai “phủ nhận” Thơ Mới hay TLVĐ chẳng hạn. Nhưng nói vậy thôi. Chứ họ làm gì có cái quyền lực phũi sạch được người khác? TLVĐ vẫn được chính thức dạy học suốt năm Việt Văn lớp 11th thời kỳ ấy. Có vụ án nhà văn Nhất Linh tự tử gây nhiều xôn xao cảm kích. Nhưng đấy là hành động phản kháng thuộc chính trị chứ không phải NL bị tước doạt quyền tự do sáng tác. Hoặc, có những hiện tượng như trường hợp văn sĩ Phạm Công Thiện với nhiều biện thuyết triết học văn học đụng chạm văn giới. Và, PCT cũng viết vậy thôi chứ ông chỉ có trần sì cây bút và khối óc thì làm gì ai? Có điều, Thanh Tâm Tuyền nói được mà ông “làm” cũng được. Phạm Công Thiện khinh bạc người ta, đồng thời Thiện cũng sống đời phiêu lãng bất cần.

    Tôi không theo dõi nhiều và sát văn học hiện nay trong nước. Tôi không rõ sự tự do tỏ bày của người cầm bút VN thật sự nó như thế nào ? Phạm vi tới đâu ? Vì, trông bề ngoài thì văn học đó cũng có gồm đầy đủ và hùng hậu phồn phạp. Nếu nó cũng được tự do thì có gì phải nói ? Cũng như 2 người chạy đua thôi. Tiềm lực ai hơn thì thắng.Chứ chui, luồn, lách thì chán lắm.

  •  

    *

     

    Về nhận định của nhà phê bình Vương Trí Nhàn

    Bùi Vĩnh Phúc

     

    blank

    bùi vĩnh phúc

     

    (qua bài “Nhân Một Hội Thảo về Văn Học Miền Nam”)

    Tôi đã được đọc bài viết của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn (VTN) ở trong nước, với tựa đề là “Nhân Một Hội Thảo về Văn Học Miền Nam” (*). Bài viết tương đối ngắn nhưng cho thấy có những thiện chí trong việc thắp sáng niềm tin vào sự tất yếu của một sự kết hợp văn học hai miền trong thời gian hai mươi năm chiến tranh 1954 – 1975, và của văn học trong và ngoài nước.

    Dù sao, trong bài viết này của Vương Trí Nhàn, tôi cũng thấy có những nhận xét nên được xem xét lại, vì có lẽ chúng đã được phát biểu khi chưa có đủ thông tin; qua đó, chúng sẽ dẫn đến một vài nhận định có thể tạo sự hiểu lầm về thiện chí giữa những người đã cùng chung tay đóng góp cho những điều tốt đẹp chung.

    1.

    Anh VTN bảo là anh hơi thất vọng vì cuộc hội thảo này. Tôi hiểu. Thật sự, khi người ta đặt niềm tin vào một điều gì đó, vào một đối tượng mà người ta quan tâm hay quý mến, người ta dễ bắt gặp cảm giác như thế, khi một số kỳ vọng không được đáp ứng. Hay, không được đáp ứng đúng mức. Thất vọng có thể đến từ nhiều nguồn, nhiều lý do. Thứ nhất, có thể vì ta đã đặt kỳ vọng quá cao. Thứ hai, có thể vì ta đã không nhìn đúng được hiện tượng từ vị trí nhìn ngắm, tiếp cận của mình. Và, thứ ba, khi ta vội vã, xem xét hiện tượng một cách nhanh gọn để có thể sớm đi đến kết luận, và ta thất vọng vì kết luận ấy.

    Anh VTN trách là “các đồng nghiệp của tôi ở hải ngoại vẫn bị cảm xúc chi phối quá nặng”. Tôi đề nghị nhìn lại vấn đề như thế này: Hãy thử nghĩ, khi người ta nói về một nền văn học bị cố tình tẩy xoá khỏi ký ức con người, một nền văn học bị buộc tội, bị truy diệt, bị đẩy cho trôi dạt trên dòng lịch sử, chưa nói đến việc người ta là một người đã sống và lớn lên trong dòng văn học ấy, chắc chắn người trình bày vấn đề sẽ không khỏi ít nhiều bị cảm xúc chi phối. Còn cảm xúc ấy chi phối người ta như thế nào, đến mức độ nào, hoặc theo hướng nào, thì người quan sát nên có một cái nhìn bình tĩnh và kiên nhẫn hơn. Họ nên để tâm thu thập tài liệu. Cần đọc kỹ và tìm hiểu ý nghĩa của chúng trước khi đưa ra kết luận.

    Trong bài nhận định của mình, anh VTN cho biết là cảm tưởng, ý kiến của anh được đưa ra “sau khi đã đọc tất cả các bài tham luận”. Thật sự, vào thời điểm anh đưa ý kiến (ngày 21 tháng Mười Hai, 2014, trên diễn đàn Văn Việt, và còn sớm hơn nữa trên trang blog của VTN, ngày 19-12-14—Văn Việt sử dụng lại bài đã có trên trang blog đó), tất cả các báo chí (trên giấy và trên mạng), trong và ngoài nước, chỉ mới phổ biến được một vài bài trong nhiều bài tham luận hoặc thuyết trình từ cuộc hội thảo này. Thật sự, đây là một cuộc hội thảo khá quy mô, được tổ chức trong vòng hai ngày, với 16 diễn giả. Theo tôi biết, Ban tổ chức đã để cho các diễn giả quyền tự do chọn lựa đề tài riêng của mình. Mỗi diễn giả chỉ được phép trình bày tối đa trong vòng 30 phút. Cộng thêm 10 phút cho phần đặt câu hỏi, thảo luận và đưa ý kiến từ phía những người tham dự. Bởi thế, gần như tất cả các bài thuyết trình hay tham luận này, theo tôi biết như một người trong cuộc, đều phải rút gọn lại. Đa số các anh chị diễn giả cũng đều cho biết như thế trên diễn đàn hoặc trong những khung cảnh khác ở ngoài diễn đàn. Và họ hứa sẽ cho phổ biến tham luận của mình sau đó, trên các phương tiện truyền thông, một cách đầy đủ hơn. Tôi nghĩ, anh VTN, vào thời điểm anh viết bài nhận định, giống như nhiều độc giả khác, ở trong và ngoài nước, mới chỉ được đọc một vài bài tường thuật trên báo chí, cũng như có thể mới được theo dõi một vài phần phát biểu của một vài thuyết trình viên từ các video clips.

    Tôi nghĩ, từ những quan sát, theo dõi ấy, người ta chỉ có thể có được một ấn tượng nào đó về cuộc hội thảo mà thôi. Người ta khó có thể đưa ra được một nhận định có cơ sở và đáng tin cậy về nó khi chưa được đọc hết nguyên văn các bài tham luận. Cũng như để phê bình một tác phẩm, người ta không thể chỉ đọc phần tóm lược nội dung tác phẩm. Thậm chí, nếu có đọc thêm một vài bài phê bình, nhận xét về tác phẩm đó, người ta cũng không thể đưa ra những nhận định khách quan và có giá trị về tác phẩm. Người ta, tôi nghĩ, phải tự mình thâm nhập vào tác phẩm, phải sống với nó, rung động với nó, đồng thời, tỉnh táo theo dõi, xem xét nó. Ở cuối hành trình ấy, người ta mới có thể hy vọng đưa ra được một vài suy nghĩ, một vài ý tưởng khả dĩ tạo được dấu ấn cho những nhận xét của mình. Cố gắng đó sẽ giúp cho người đọc mở rộng thêm cái nhìn về tác phẩm, mở rộng biên độ cảm xúc cũng như rung động của họ đối với tác phẩm.

    2.

    Có vẻ như nhà phê bình VTN không chấp nhận phát biểu, được đưa ra trong buổi hội thảo, về “sự bất hạnh” của văn học miền Nam. Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, trong phần mở đầu bài thuyết trình của mình, cho rằng: “Văn học miền Nam, 1954-1975, là một trong những nền văn học bất hạnh nhất trong lịch sử văn học Việt Nam”. Anh VTN cho rằng “Nếu muốn dùng chữ bất hạnh, tôi nghĩ tới cả nền văn học dân tộc nói chung, bao gồm cả văn học miền Bắc. Nhưng hiểu theo nghĩa này, thì cứ gì văn học VN. Mà văn học Trung Hoa lục địa cũng bất hạnh, văn học Nga xô viết cũng bất hạnh.” Tôi không chắc ý kiến của anh VTN sẽ được tất cả mọi người cùng chia sẻ (nhất là, ở đây, khung quy chiếu chỉ thu hẹp trong “lịch sử văn học Việt Nam”), nhưng rõ ràng ý kiến ấy, ở một khía cạnh nào đó, cho thấy một sự nhạy cảm sâu sắc, mang đậm nét nhân bản, cùng với sự cộng cảm trong nỗi đau xót và thiết tha về nền văn học của dân tộc nói chung trong khoảng thời gian hai mươi năm chia cắt. Tôi nghĩ, nếu có sự bất hạnh, thì nó vẫn còn đó, không biến mất đi, cho dù có những sự bất hạnh khác được mang ra so chiếu. Cùng mang một thuộc tính “bất hạnh”, nhưng mỗi nỗi đau có một số những đặc điểm, “đường nét” riêng. Không phải vì nhiều đối tượng cùng chia sẻ một thuộc tính nào đó mà thuộc tính ấy có thể triệt tiêu lẫn nhau và biến mất.

    Ngoài ra, trong cái nhìn của tôi, nếu có nói về “sự bất hạnh” thì chỉ là để xác định một hoàn cảnh, một thế sống, để từ đó tiếp tục vươn lên. Anh VTN nói đúng, và thật thiết tha, “May mà những năm ấy, còn có văn học miền Nam!”. Vâng, và cả những người con của nó. Chủ đề của buổi hội thảo là nói về hai mươi năm văn học miền Nam. Những gì đã xảy ra với dòng văn học này nên và cần được nhìn lại. Còn cái khung cảnh văn học hiện tại ở quê nhà có thể cho thấy đã có một số những cởi mở, tháo gỡ, thông cảm ở một mức độ giới hạn nào đó, chúng ta rất nên ghi nhận, để có lòng tin vào tương lai. Nhưng việc nhìn lại, xem xét và đánh giá lại mọi sự đã xảy ra là một điều cần thiết. Những bài học lịch sử cũng vẫn nhắc nhở con người phải làm điều đó.

    3.

    Về vấn đề áp dụng những phương pháp tiếp cận văn học mới mẻ để tìm hiểu, phát huy những khía cạnh đặc thù của văn học miền Nam, nói riêng, văn học Việt Nam, nói chung, điều này cần phải được tiếp tục thực hiện. Và ta có thể áp dụng bất cứ hướng tiếp cận nào thích hợp. Một cuộc hội thảo, lại là cuộc hội thảo đầu tiên, có thể chưa cho ta cái cơ hội để nhìn ngắm rõ những nỗ lực ấy. Dù sao, khi chúng ta chưa có cơ hội đọc và tham khảo hết các bài tham luận, có lẽ chúng ta cũng chưa nên phán đoán vội.

    Trong cái nhìn của tôi, riêng về mặt này, ta có thể để ý đến hai bài tham luận của nhà nghiên cứu Đinh Từ Bích Thuý và nhà văn Đặng Thơ Thơ. Ở một mức độ nào đó, hai tham luận này, theo tôi, đã có những nỗ lực khá tốt để, qua việc nhìn lại một vài tác phẩm trong dòng văn học miền Nam trước đây, phần nào đóng góp một cái nhìn mang tính khai phá về những khía cạnh giao lưu văn hoá, di sản hậu thuộc địa, tính dị hoá/xa lạ hoá như một căn cước, v.v. Tuy nhiên, tôi nghĩ, văn học miền Nam, nói riêng, trong vòng hai mươi năm chiến tranh, và văn học cả nước nói chung, tính đến thời điểm hiện tại, là những khu vườn rộng lớn. Chúng cần được ta gìn giữ, chăm bón, tìm hiểu để tiếp tục phát huy những hương thơm và sắc màu tươi đẹp của chúng, không riêng cho sự thẩm thức, thưởng ngoạn của chúng ta, trong thế hệ này, mà còn cho những thế hệ nối tiếp nữa. Ta không nên chỉ mong mỏi và dừng lại ở một cuộc hội thảo duy nhất. Và, có lẽ, cũng không nên chỉ chăm chắm trông chờ để nhìn vào những cái mới. Cái mới, nói chung, là tốt. Và cần thiết. Nhưng ngoài cái mới, có thể chúng ta cũng nên quan tâm đến việc đào sâu vào những giá trị cốt lõi, nhưng có thể chỉ mới được thăm dò một cách khái quát hay trên bề mặt. Sự đào sâu theo bề dọc và xới tung ra bề ngang cũng có thể là những điều có ích cho cái học và cái hiểu của ta. Hơn là chỉ nhắm vào việc áp dụng cho bằng được những phương pháp mới. Có khi điều ấy chỉ đem lại sự khiên cưỡng.

    Dù sao, mong mỏi làm mới, có được cái mới, vẫn là một mong mỏi chính đáng và đầy thiện chí. Nó thúc đẩy chúng ta tiếp tục làm mới sự thẩm thức, mở rộng địa lý của cái hiểu, cái biết về văn học của mình.

    4.

    Cuối cùng, anh VTN phát biểu: “Làm sao trong khi đề cao VHMN 54-75, các anh có thể sổ toẹt cái phần thành tựu theo một cách riêng của văn học miền Bắc trong thời gian đó.” (phần gạch dưới là theo nguyên văn trong văn bản của VTN). Và anh cho rằng Đối lập và tuyệt đối hóa những khác biệt văn học giữa hai miền chẳng những là bất cận nhân tình mà còn là phản khoa học.”

    Trong cái nhìn của tôi, buổi hội thảo này, về văn học miền Nam, bao gồm nhiều đề tài nhỏ, do các diễn giả tự chọn, trong đó có những đề tài không có những gắn bó rõ rệt với văn học miền Bắc để có thể đặt chúng trong thế đối sánh. Nhưng có những trường hợp, khi trình bày về hệ thống này, người ta phải nói đến hệ thống khác; và khi nói về nền văn học miền Nam, có những lúc có lẽ cũng khó tránh để không đưa nó vào thể đối sánh với văn học miền Bắc. Cũng xin nói thêm, chủ đề của cuộc hội thảo là nói về văn học miền Nam, nên chắc chắn ta phải nhấn mạnh đến nó. Độ nhấn, dấu nhấn và hướng nhấn là ở nơi mỗi diễn giả với mỗi đề tài cụ thể. Tuỳ theo cách nhìn nhận và cách diễn đạt, trong bối cảnh cần thiết của chủ đề, mỗi diễn giả có một cách trình bày, tiếp cận vấn đề của mình. Và sự đánh giá là ở nơi người đọc, người đón nhận.

    Về phần mình, tôi cũng chia sẻ cái nhìn của nhà phê bình VTN là cả hai nền văn học đều có cái bối cảnh và những nét đặc thù riêng của chúng. Chúng có những đặc tính và giá trị riêng. “Dù phân lượng không đồng đều”, như cách mà anh VTN nói. Cả hai cần được nhìn ngắm trong một toàn bộ của nền văn học Việt Nam giai đoạn hai mươi năm chiến tranh. Tôi đã nhắc đến ý này không phải chỉ một lần trong bài tham luận của mình. Tạm trích: “(…) [V]ăn học miền Bắc trong giai đoạn ấy cũng có những đường nét riêng của nó. Nó phản ánh một gương mặt của chiến tranh. Và gương mặt ấy có thật. Ở một mức độ nào đó, và trong những góc nhìn nào đó, dù bị chỉ đạo, nền văn học ấy, ngoài âm vọng sử thi, ngoài những tấu tụng về chiến công, về vinh quang, nhiều khi được tô mầu một cách khá thô sơ, vụng về, cũng nói lên được cái đời sống, cả tinh thần lẫn vật chất, của cả một xã hội, của những con người, với những tâm trạng, những hy sinh và những đớn đau riêng. Và, như thế, nó cũng đã đóng góp những đường nét của mình để vẽ nên khuôn mặt chung của văn học Việt Nam giai đoạn ấy. Khuôn mặt của văn học Việt Nam thời chiến. ”

    Và, ở một chỗ khác: ” Văn học miền Bắc, trong bối cảnh và chủ trương riêng của mình, trong hai mươi năm của cuộc chiến, đã có những nét vẽ riêng, những bảng mầu, những cung bậc, tiếng nói riêng, để, phần nào, định dạng và định tính xã hội và con người miền Bắc. Qua đó, cũng cho thấy một khuôn mặt cần được nhìn ngắm của cuộc chiến, của lịch sử Việt Nam.”

    Ngoài ra, trước khi bài nhận định của VTN được phổ biến, trong một thảo luận trên mạng, với cương vị của một người sống tại miền Nam, nói riêng, được cưu mang bởi nền văn học miền Nam, gắn bó với những giá trị nhân bản, công bằng và bình đẳng mà nền văn học ấy luôn xiển dương, và với cương vị của một người Việt Nam, nói chung, tôi cũng có dịp nói rõ: “(…) Trong cái lý tưởng của riêng họ, những người đã đóng góp vào nền văn học miền Bắc, nói chung, họ cũng đã nhìn cuộc chiến đấu và hy sinh của những con người miền Bắc là một cuộc chiến đấu để bảo vệ đất nước. (…) Dĩ nhiên, nền văn học miền Bắc có một giá trị riêng của nó khi ta nhìn toàn bộ nền văn học Việt Nam trong bối cảnh 20 năm chiến tranh. Còn nền văn học miền Nam, như tôi đã trình bày, là một nền văn học rất phong phú. (…) Hai nền văn học đó rất khác nhau. Chúng có những đặc tính riêng và những giá trị riêng của chúng.”

    Để kết, với tính cách cá nhân, tôi muốn nói rằng tôi nhìn bài nhận định của nhà phê bình Vương Trí Nhàn, nói chung, là một phản ánh tốt, với thiện chí, về cuộc hội thảo “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam”. Tôi quý sự thiết tha của anh VTN khi anh nhận định: “[T]rong sự phát triển của mình, văn học hai miền thời gian 1954-75 đã có sự nhìn vào nhau, đối thoại ngấm ngầm với nhau. Việc nghiên cứu trở lại cuộc đối thoại xảy ra trong những năm đó là một trong những phương cách thiết yếu để đẩy tới cuộc đối thoại giữa văn học trong nước và văn học hải ngoại hôm nay.”

    Mặc dù không lạc quan, tôi vẫn hy vọng là chúng ta đang bắt đầu có những nỗ lực để, trong những điều kiện và hoàn cảnh khả thi, thực hiện điều cần thiết đó. Và, cũng trong tinh thần ấy, tôi tin tưởng vào sự phát triển tốt đẹp của nền văn học Việt Nam, nói chung, ở cả trong lẫn ngoài nước.



    Bùi Vĩnh Phúc

    24. XII. 2014

    (từ VV)

    (*) Tựa đề lấy theo bản của Văn Việt: http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/nhn-mot-hoi-thao-ve-van-hoc-mien-nam/ . Bản trên blog của Vương Trí Nhàn, truy cập ngày 23-12-14, có tựa đề là “Nhân một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75″.



    *



    Mời đọc Quảng Cáo


     
    Mua bán nhà


    - Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.

    - Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.

    Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

    Xin gọi ngay cho:

    Marvin Trần


    (714) 768-8810

    Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình

    Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý



    scan_pic0296-content



    *


    Phòng Khám Nha Khoa


    Dream Dental Place


    Hoàng Anh D.D.S


    Làm mọi dịch vụ về Răng

    Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín

    Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại

    Gọi ngay:

    Hoàng Anh



    (714) 724-5699


    scan_pic0035-content

    hoang_anh_1_0-content


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, July 28, 20216:26 AM(View: 142)
Trong chuyến định cư sang Mỹ theo diện H.O., gia đình nhà thơ Thành Tôn ra đi rất trễ, năm 1996. Trong hành lý mang theo, ông ưu tiên nhất là hai vali sách đầy. Sách của ông toàn là những sách cũ của các nhà xuất bản tiếng tăm
Friday, July 23, 20217:40 AM(View: 146)
Trước 1975, HỒ NGẠC NGỮ chưa xuất bản tác phẩm nào, chỉ đăng thơ truyện trên các tạp chí văn nghệ của miền Nam như VĂN, TƯ TƯỞNG, KHỞI HÀNH…Sau 1975, ông tiếp tục sáng tác và đã in ấn một số tác phẩm:
Thursday, July 22, 202111:48 AM(View: 146)
Khi nhà văn Lưu Na viết về một nhà văn. Đó là chuyện bình thường. Tuy nhiên, Nguyễn Đình Toàn là một đề tài khó viết. Được nhìn như một nhà văn, hay như một nhà thơ, hay như một nhạc sĩ, Nguyễn Đình Toàn lĩnh vực nào cũng nổi bật, đứng riêng một cõi.
Saturday, July 17, 20218:23 PM(View: 288)
Tin chị Trần Mộng Tú báo cho chúng tôi biết chị Bùi Bích Hà bị bất tỉnh thình lình tại nhà và được đưa vào bệnh viện trong tình trạng hết sức nguy kịch đến với tôi ngay giữa lúc tôi đang đọc tác phẩm Đèn Khuya của tác giả Bùi Bích Hà.
Wednesday, July 14, 202112:01 PM(View: 394)
Năm 2011, ông cho xuất bản “Thơ Tường Linh Tuyển Tập” (nhà xuất bản Văn Học) khi nhà thơ đã qua tuổi 80. Hơn sáu mươi năm làm thơ, đã sống qua hai thế kỷ, Tường Linh chọn 396 bài thơ làm từ hồi những năm 1950 đến sau này (2011),