DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,328,423

Hồ Đình Nghiêm - KỶ HỢI GỢI MẬU THÂN

Tuesday, January 29, 20199:39 AM(View: 1450)
Hồ Đình Nghiêm - KỶ HỢI GỢI MẬU THÂN
KỶ HỢI GỢI MẬU THÂN
 

Image result for kỷ hợi 2019
 
 
Vì địa hình, những con đường trong thành nội thường cụt ngắn. Dài nhất e chỉ có riêng mình Đinh Bộ Lĩnh, khởi đi từ cửa Thượng Tứ, đâm thẳng tới cuối đường, kết thúc bằng đồn Mang Cá.
 
Nép thân Đinh Bộ Lĩnh hoặc toạ lạc ngay trên danh xưng nổi tiếng kia có lắm trường học nương nhờ, che nắng mưa cho biết bao thế hệ an tâm dùi mài sôi kinh nấu sử không thành danh cũng thành nhân: Tiểu học Trần Quốc Toản, trung học Hàm Nghi, trung học Bồ Đề, trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, trung học Nữ Thành Nội, trường Nông Lâm Súc. Không tính hai ngôi trường ẩn náu trong thâm cung Đại Nội: Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật và trường Quốc Gia Âm Nhạc.
 
Tuy dài hơn nhưng bề rộng của Đinh Bộ Lĩnh không vì thế mà “nở nang” so với những con đường nó vừa giao cắt: Đinh Công Tráng (lối vào Đại Nội bằng cổng Hiển Nhơn- có cà phê Tôn), Hàn Thuyên (có quán cà phê cô Dung), băng qua đôi ba ngã tư chẳng mấy ấn tượng thì gặp Mai Thúc Loan (có chợ xép, bưu điện, cửa Đông Ba và thân cận với Ngã tư Âm Hồn).
 
Song hành, cặp kè với Đinh Bộ Lĩnh là Đoàn Thị Điểm (đường phượng bay trong nhạc phẩm Mưa Hồng của Trịnh Công Sơn), rẽ trái là đường Hoà Bình (có căn nhà mà hoạ sĩ Đinh Cường thuê, cư ngụ cùng tiểu gia đình và dựng “xưởng vẽ” từ năm 1965). Đường Đoàn Thị Điểm nên dĩ nhiên mọc lên ngôi trường tiểu học quét vôi vàng mang cùng tên, Đoàn Thị Điểm bị chận đứng bằng dãy tường chạm trổ hoa văn cao ngang bụng, dùng bao bọc lấy một phần hồ Tịnh Tâm mọc nhiều cây sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Tịnh Tâm hay Tĩnh Tâm là một trong những “thắng cảnh” được triều nhà Nguyễn dựng nên nhằm làm nơi cho vua có chỗ giải sầu hòng trôi đi bao phiền muộn, câu cá hoặc chèo ghe hoặc đánh cờ… Sau này, thầy cô vẫn mượn khung cảnh hữu tình nọ để dắt trò bè ríu rít nối đuôi tới dòm ngó thay cho buổi đi cắm trại ngoài trời. Dạo đó người anh tôi vừa lên Trung học, ngoạn cảnh về đã lén lút làm ra bài thơ gây “choáng váng” cho toàn gia: “Tịnh tâm vào lúc hai giờ, bầu trời bát ngát mây lờ đờ trôi. Trên cao có một con dơi, lượn qua lượn lại cùng chơi học trò”. Giá trị bài thơ mãi được lưu truyền, khó quên. Sau này mỗi khi trà dư tửu hậu có người bèn che miệng cười thuật lại “biến cố” đó, anh tôi đã rất lấy làm ngầy ngà: Đứa mô cả gan dám ghi tên tao là tác giả? Đồ vô hậu!
 
Trở lại địa danh Mang Cá nằm cuối đường Đinh Bộ Lĩnh, nguyên thuỷ được mang tên Trấn Bình đài, án giữ phía đông bắc kinh thành do vua Gia Long dựng xây (1805). Đến năm 1883, vì thực lực quá yếu kém nhà Nguyễn đành nhượng bộ, trao Trấn Bình đài cho quân đội Pháp chiếm. Người Pháp đã bỏ công xây đắp thêm một bức tường thành kiên cố bằng gạch đá, họ nới rộng diện tích làm thêm doanh trại, đồn bót, bệnh xá, nhà nguyện. Vụ lấn đất mở mang đã khiến dân Huế thay đổi cách gọi, họ đặt tên mới cho Trấn Bình đài là Mang Cá nhỏ mà khu tân lập kia là Mang Cá lớn. Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, Trấn Bình đài đã lưu vào sử sách, giờ này nhỏ hoặc lớn đều gộp chung lại thành đồn Mang Cá, dùng địa thế chiến lược bền vững có sẵn để đặt bản doanh bộ chỉ huy Sư đoàn 1 trực thuộc bộ tư lệnh Quân đoàn I đồn trú ở Đà Nẵng (đặt sát phi trường).
 
Tết Mậu Thân 1968, đồn Mang Cá hoá thân thành một cái xương cá hóc hiểm khó nuốt, vì thế khởi đi từ ngày 6 tháng 2, Bắc quân phối hợp với du kích cơ sở nằm vùng đã dồn hoả lực tấn công, cố làm chủ được Mang Cá. Những trận giao tranh ác liệt đã xẩy ra, lê thê gần cả tháng trời giữa những thành quách tơi bời dấu đạn tàn phá, xoá sạch gần toàn bộ bao lầu son gác tía. Đại đội Hắc Báo (toàn người Huế, đa số đều xuất thân là gia đình Phật tử) đánh đấm ra trò, niềm hãnh diện của dân cố đô đã “bắt tay” đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến vừa từ Sài Gòn ra tiếp cứu để dành lại từng thước đất ngập đầy máu mà đối phương bất nhân vừa gieo rắc vung vãi. Phi trường Tây Lộc cách Mang Cá khoảng hơn cây số đường chim bay cũng nằm trong tầm nhắm thường trực dầu sôi lửa bỏng. Cửa Thượng Tứ, cổng Hiển Nhơn, cửa Đông Ba lần lượt rơi rụng cụt đầu, chịu chung số phận gãy đổ như cây cầu Trường Tiền 5 vài 10 nhịp nằm ngoài khuôn viên.
 
Gia đình hoạ sĩ Đinh Cường tản cư về phía hồ Mưng sau khi ông Nguyễn Đắc Xuân đi cùng ba đồng chí súng ống tận răng vừa lặn lội tìm tới xanh mặt thuyết giảng nói lời khó nghe vào ngày đầu năm nhuốm mùi tử khí. Từ đường Hoà Bình men theo bờ cây bụi cỏ thế hàng rào của dãy nhà cửa đóng im ỉm. Đi tiểu lộ chứ không dại lom khom trên đường Đoàn Thị Điểm trống lạnh. Gặp bức tường che chắn hồ Tịnh Tâm (còn đâu cảnh dơi lượn đùa chơi với học trò) nương thân bên gạch đá sứt mẻ, băng qua đường Đinh Bộ Lĩnh (nơi mà ba ngày sau sĩ quan Nguyễn Văn Phán tiểu đoàn 6 TQLC dắt con cái khó nhọc bò về Mang Cá. Trong bút ký hào hùng, người con Huế cho hay nhà Mạ ở gần hồ Tịnh Tâm, có nghĩa là chỉ cách có hơn 500 thước nhưng… Mạ ơi, con đang nóng lòng, làm răng gặp lại mạ đây? Hoả lực chúng vãi dầy đặc, cày xới, tơi bời hoa lá, con cái rụng dần).
 
Hồ Mưng nhỏ, nước đục lờ. Khá an toàn khi nhìn thoáng bóng dáng cỡ tiểu đội những anh lính quân phục rằn ri đang đào hố cá nhân. Bên hồ in bóng ngôi nhà từng thu giữ dáng luạ một nữ nhân mang tên Bồng Lai mà dạo yên tiếng súng có lắm chàng trai lén phén “lượn qua lượn lại mong chơi cùng nàng”. Gần hồ Mưng có quán cháo lòng mụ Quạ nhiều người khen ngon. Tết Mậu Thân xì ra một nguồn tin hư thực khó lường: Nhà mụ Quạ có nuôi heo, một quả đại bác rót sai mục tiêu rơi ngay trên chuồng. Heo phơi xác đã đành, một đôi kẻ ẩn nấp gần đó cũng chịu chung số phận. Tối lửa tắt đèn mụ Qua ôm nồi ra hốt xương thịt vô nhà hầm cháo, đồ chừng ngon nhức răng vì có tí ti thịt người lẩn lộn cùng heo, hương vị độc cô cầu bại. Trời ơi, chiến tranh mà! Gây ra toàn cả những điều bất nhân! Nhằm nhò chi ba chuyện lẻ tẻ.
 
Nên mở một dấu ngoặc đơn, là ở Huế vang dội bốn phương, chí ít cũng có hai mụ: Bún bò mụ Rớt và bánh nậm bột lọc mụ Đỏ (hai mụ ni đều cắm dùi thương hiệu ở vùng Gia Hội). Ít nổi tiếng thì có mụ Thơm chủ động hoa trôi nổi trên đò gần bến Văn Lâu, mụ Mơi làm thầy bói dưới chân núi Ngự Bình, mụ Quới chuyên việc đồng bóng ở điện Hòn Chén. Sau này, cảm thấy hơi bất lịch sự nên khi nhắc lại những tụ điểm “đặc sản” ngày trước, họ thay chữ mụ đổi thành bà: Bà Rớt, bà Đỏ. Sự thày lay đổi cách xưng hô nọ quả không hay chút nào. Nghe tới bún bò bà Rớt thấy vơi mất sự mặn mà mà mụ Rớt dày công nêm nếm hầm hon củi lửa. “Mụ” chính là môn bài lẫy lừng của người ta, sao anh đòi giải phóng nó? Ai xúi dục anh để ngày một ngày hai liền chôn tên Đồng Khánh, hoán đổi thành Hai Bà Trưng? Tầm hiểu biết của mấy anh quá thấp kém, Huế mà thiếu mất trường nữ trung học Đồng Khánh thì ra ngô khoai gì nữa! Núi Ngự Bình e cũng nên méo toàn tập là vừa (núi Ngự Bình trước tròn sau méo).
 
Lại mở thêm một dấu ngoặc khác, bạn có để ý đến danh xưng của con dân đất Thần kinh? Nói làm gì tới những Công huyền Tôn nữ nết na thuỳ mị công dung ngôn hạnh này nọ, nghe qua dễ bỏ ngoài tai. Sánh chi bằng Rớt, Đỏ, Quạ, Mơi, Thơm, Quới… Từ xưa, người Huế vẫn sợ đụng chạm tới thần linh hoặc mỹ từ mà hoàng phái thích sử dụng, lựa đặt. Do vậy con gái mang tên Hĩm, Bướm, Bẹn, Mắm, Ruốc… thì vô số, một đội ngũ khác thì Cốc, Ổi, Chanh, Cam, Xoài… Dân dã hiền lương như thế thì lớn lên con mình sẽ tránh bớt bao oan khiên liên hệ tới hồng nhan đa truân. Phụ huynh quan niệm: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Họ có lý do. Mở tiệm bán bún bò với tên chảnh “Diễm Lệ” chưa ăn đã thấy chẳng ngon bằng Mụ Rớt. Tin quá đi chớ, lý sự ấy chắc như cua gạch chớ không ngang như cua đâu.
 
Mà lạ, không cần nghe mấy mệ mấy mụ mấy dì mấy o “thuyết minh”, ngay cả các nường các em Việt kiều khúc ruột ngàn dặm về quê cũ thăm thú thụ hưởng ta về ta tắm ao ta, khi qua lại chốn dung thân mới từng khẳng định như đinh đóng cột: Ui cha mạ ơi, răng miếng thịt heo ở Huế hắn thơm ngon hắn ngọt lừ. Quạt than bắt vỉ lên nướng riu riu hắn bay mùi thơm từ Kim Long thổi qua Nguyệt Biều, tiếng chuông Thiên Mụ cũng vì làn khói nớ mà dật dờ trôi tới canh gà Thọ Xương. Thương con tôm sú nhảy liên hồi trên rỗ trên mẹt, cảm cho con cá bống thệ nằm co quắp với ớt hiểm trong nồi đất, ăn bắt cơm. Từ hồi nào tới giờ chừng như quý vị phụ nữ thường nhẹ dạ, cứ liên hồi kỳ trận ca ngợi lẻ tẻ miếng ăn rau rác nguyên vật liệu chốn xưa, ngay cả mấy o chào đời ở năm Mậu Thân cũng rứa cả, hơi bị vô tư. Cứ áo dài tím, cứ đội nón lá, cứ tay vịn vài cầu cười mím chi, cứ an phận thủ thường tạo dáng ca tụng “sông chảy dùng dằng nên Huế rất sâu” . Đi với ma mà không chịu mặc áo giấy, cứ ưa chảnh. Gần mực mà chẳng ngộ cả một màu đen quần tụ sau lưng, chực xô tới nhuộm ra màu đỏ. Huế mà có một đội bóng đá đẳng cấp, chân giò cẳng toàn siêu sao thì Bướm, Hĩm, Bẹn, Mắm, Ruốc đã lột đồ ra, nhảy ùm xuống sông Hương, la chói lói: Tự hào quá đất nước ta ơi!
 
Nguyễn Đắc Xuân vào Tết 68 năm xưa đội nón tai bèo mang dép râu, tay nắm tiểu liên AK-47, bên vai áo có buộc băng vải đỏ cùng một vài hung thần khác đi lùng sục giữa một Huế hoang lạnh. Tên nghe cũng ngộ: Xuân. Là mùa thích hợp cho hoa lá cựa mình thức giấc sau đông dài phủ trùm. Cũng chính Xuân về khiến mọi vật ủ ê, tang thương đổ nát. Những người đang cúng kiếng đốt nhang dâng lễ vật lên bàn thờ ông bà trong ba ngày Tết linh thiêng, lòng thành của họ chẳng có ai chứng giám. Chính số phận thảm thương, họ chưa kịp rửa chân đã vội leo lên ngồi đoàn viên sum họp cùng bao nhân ảnh quây quần trên bàn thờ trải khăn đỏ. Tết sau, ai là kẻ cúi đầu thành tâm đứng khấn vái dưới di ảnh?
 
Xuân này hơn hẳn những xuân xưa là lời chúc mà các chú đoàn viên đảng viên thường mang ra xài mỗi độ năm hết tết tới. Đồng chí Xuân cũng thế, thay đổi theo thời cuộc, hơn hẳn thuở đầu xanh mãi ghì siết khẩu AK, nay Xuân này đã trở thành nhà nghiên cứu đế đô, nhà Huế học thuộc làu bao kinh điển (tự hào quá Huế ơi!). Có dạo chàng Xuân bỏ công đi nghâm cứu tận kinh thành ánh sáng Ba lê, sứ mạng đặt ra không phải đi dọ tìm nơi xuất phát ra hai cục gạch mà đêm đông lạnh giá vào Min-nớp-xăng-hồi-đó (một chín mấy mươi?) bác Hồ đã nhanh trí ký gửi nhờ vào lò nướng bánh mì của thằng thực dân, đợi gạch nung đỏ chín hồng như hòn than bỏng mới gói ghém (không rõ bằng chất liệu gì?) mang về đút dưới giường giúp kinh qua giấc ngủ cơ hàn chịu đói rét hy sinh vì lý tưởng cách mạng. Nay tiêu chí Xuân tự đề ra là tìm cách phỏng vấn những vị cận thần hoặc thân nhân gần gũi bên cựu hoàng Bảo Đại để tìm hiểu về quãng đời trước khi lưu vong của vị vua cuối triều Nguyễn.
 
Sau này, đọc phải bài nghiên cứu của nhà Huế học, bà Mộng Điệp (1924- 2011) thứ phi của vua Bảo Đại, người cung cấp thông tin, dữ liệu, thuật lại bao giai đoạn lịch sử đã giận dữ thoá mạ (nguyên văn): “Cái thằng Nguyễn Đắc Xuân nó xin tôi kể. Nhưng khi viết lại, nó viết sai nhiều lắm” (nguồn DCVonline).
 
Khi hoàn thành cuốn bút ký “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” (1971), tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường cho biết là dựa trên tư liệu, những ghi chép dài 5 đến 7 trang do Nguyễn Đắc Xuân cung cấp, vì Xuân có mặt trực tiếp, liên hệ với người giữ lá cờ của mặt trận giải phóng. Ngôi sao nọ, nỏ biết “cái thằng Nguyễn Đắc Xuân, nó viết sai nhiều lắm” không?
 
Từ bấy đến nay đã biết bao xuân qua, bao mùa lá rụng, tóc xanh nay đã trắng như bông cỏ lau, không có một vị chức sắc nào, một nhà Huế học, Sài Gòn học, Hà Nội học nào đứng cúi đầu đốt nhang trước những mồ chôn tập thể kinh thiên động địa ở Huế, để thì thầm: “Cái vụ càn quét thảm sát năm Mậu Thân, nó sai nhiều lắm”.
 
Từ khi khởi động chiến dịch  nổi dậy “con Khỉ” thất bại toàn tập, chẳng có một oan hồn nào trên địa phận Huế được nhắm mắt mỉm cười nơi chín suối. Có ai vỗ ngực tự hào nữa, thôi? Xuân này có ai về bên đó làm ơn rộng lòng đốt giùm tôi nguyên một bó nhang. Tôi xin thành kính tri ân. Tự hào quen được một người biết chia sẻ nỗi đau, dù bé nhỏ.


 
Hồ Đình Nghiêm
(Tác giả gởi)




Mời đọc

Nhà thơ Thành Tôn và Nguyễn Vũ đã tiếp tục thực hiện ebooks cho
Tân Truyện và Tạp Ghi Văn Nghệ

Sấp Ngửa


Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_

Mẫu Hệ
Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa


Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=h_n_55_n_m_l_m_th___opt__-_tr_n_y_n

Đi Mỹ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=_i_m___opt__-_tr_n_y_n_ho_

---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content 3 con gai TYH                                                3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng

Hòa 70                                                                      TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy

hình Quang ở đám cưới Ô Mai hình đám cưới Cindy Y.Tran







 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, June 10, 20208:35 AM(View: 244)
Nhìn ở bề ngoài thì những cuộc “cách mạng tí hon” này đã dồn dập “xảy ra” sau cuộc tang hải 1975 nhưng đó chưa hẳn là sản phẩm của đất phương Nam như là một hình thức phản kháng với chế độ mới. Những ngày đầu tiên sau cuộc đổi đời ấy, tôi đã trực tiếp nghe một ông anh họ, vốn là học sinh miền Nam được đưa ra Bắc vào cuối thập niên 1960, kể cho nghe cảnh người Bắc áp dụng “nghệ thuật sắp đặt” để chửi thầm lãnh tụ: hình ông tiên đánh cờ, hình ông sư tụng kinh, hình ông linh mục giảng đạo và hình ông bí thư thứ nhất để, nhìn qua, bất cứ ai cũng có thể đọc thầm trong đầu “Tiên, sư, cha, Lê Duẩn”. Cho tới bây giờ tôi vẫn không mảy may hoài nghi câu chuyện bởi người kể là con nhà cộng sản nòi, kể câu chuyện ấy khi vừa mới quay về từ “hậu phương lớn” như là một thành phần của phe thắng cuộc, và kể ngay khi đang ở độ phê cao nhất của men say chiến thắng mà, vả lại, người kể này chỉ là một con người kỹ thuật thuần túy, sống bằng nghề kỹ sư và mai này sẽ chết như một ông kỹ sư già hồi hưu,
Sunday, June 7, 20209:28 AM(View: 211)
Trong những phụ nữ thuộc thế hệ chị và mẹ của mình, tôi thương nhất chị Thanh và dì Bẩy. Khi còn đôi tám, người ta thường gọi dì là con Bẩy. “Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nước.” (Sơn Nam. “Con Bẩy Đưa Đò”. Hương Rừng Cà Mau. 51-52*). Tài sắc, cũng như đức hạnh, không mấy khi mang lại hạnh phúc và may mắn cho những kẻ sinh ra trong thời ly loạn. Cuộc đời cô Bẩy (rất) không may và (hoàn toàn) không hạnh phúc. Lúc còn thanh xuân, cô gặp (và yêu) một chàng trai trên dòng Cái Lớn. Chàng từ Bình Thủy xuống, đẹp trai, lịch thiệp, và hò hát cũng rất hay. Chỉ có điều đáng tiếc là người ta không phải loại “thường dân” nên không chịu cùng cô Bẩy kết duyên đôi lứa và sống an phận thủ thường (như những đám lục bình trôi) nơi ao hồ sông rạch. Nghe qua con Bẩy bùi ngùi tấc dạ; từ chỗ kính mến đến chỗ yêu thương
Thursday, June 4, 202010:57 AM(View: 285)
Khóa 16 ra trường có dành 15 chỗ lưu dụng tại trường để giữ các chức vụ huấn luyện quân sự và chỉ huy trong Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan các khóa đàn em. Thủ khoa Bùi Quyền không chọn chỗ…bình an này. Anh là một trong ba tân sĩ quan chọn về binh chủng Nhảy Dù. Trong cuốn Lưu Niệm của Khóa 16, khóa tiên phong trong ngôi trường đổi mới từ tên trường tới thời gian và phương pháp huấn luyện, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, nguyên Chỉ Huy Trưởng trường đã viết: Trong những giờ giáo dục tinh thần, chúng ta đã nói nhiều về Con Người Tiền Phong. Các Bạn nên hãnh diện, vì dưới mái trường này, các Bạn đã thể hiện một phần con người lý tưởng ấy, đã đặt những viên đá đầu tiên cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của những người Quân Nhân Trí Giả, đã tìm được cho mình một lý do chiến đấu và hoạt động cao cả hơn mối hy vọng tự nhiên được khích lệ và khen thưởng”. Tôi sống và làm việc tại Sài Gòn, Quyền bôn ba trên khắp chiến trận, lạc nhau nhưng tôi vẫn không quên được người đồng môn cũ. Ngày đó,
Monday, June 1, 20209:07 AM(View: 269)
Thỉnh thoảng chúng ta lại chứng kiến một “trận” boléro mà, “trận” nào cũng vậy, cuộc tranh luận văn hóa lẽ ra phải tới nơi tới chốn này chỉ rộ lên rồi xẹp xuống nửa vời với sự áp đảo của số đông, cái số đông kết nối không chỉ bằng thị hiếu âm nhạc mà cả bằng đầu óc địa phương chủ nghĩa.[1] Như gần đây nhất sau phát biểu của một ca sĩ đất Bắc và những lời chì chiết “sến-sang” tiếp nối từ số đông lấn lướt thế thắng, cái cung cách hờn mát lẽ ra chỉ thấy ở bên thua cuộc.[2] Phe thắng, như thế, chẳng mấy tự tin. Bên bại trận thì, hẳn nhiên, tra gươm vào vỏ trong tâm thế bất phục. Và cuộc tranh luận, do đó, lại đâm vào ngõ cụt. Một ngõ cụt không lối thoát y như cái phần số lẩn quẩn theo điệu buồn boléro số kiếp của chúng ta, như một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia. Phải chăng, chúng ta còn bạc nhược, còn tiếp tục chấp nhận tình trạng bị tước đoạt tiếng nói là vì, phần nào đó, chúng ta càng ngày càng mê hoặc thứ âm nhạc nhừa nhựa dĩ vãng vàng son và tình đời cay đắng dở dang
Friday, May 29, 20207:06 AM(View: 340)
Gia đình tôi ở tỉnh Phú Yên. Những ngày tháng 4 năm 1975 tôi mười một tuổi, học lớp năm trường Tiểu học Bình Nhạn. Trường nay nằm trong khuôn viên Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa. Ba tôi là lính văn phòng, chuyên đánh máy chữ, của Phòng Ba Tiểu khu Phú Yên. Ông giải ngũ năm 1969 vì bị thương ở chân, khi tàu lửa qua Đèo Cả dính mìn. Ông nói vậy cũng may, vì mỗi đợt hành quân về phía tây Phú Yên, công lệnh do ông đánh máy, Việt Cộng đều biết, không khéo trước sau gì ông phải ra tòa án binh mất. Trốn nậu trển. “Nậu trển” là cách nói thầm của người dân Phú Yên (Xứ Nẫu) chỉ người trên núi xuống, tức Việt Cộng. Nghe bộ đội Bắc Việt chiếm cao nguyên Trung phần, ba tôi đưa cả gia đình vô Cam Ranh, khoảng cuối tháng 3/1975, gọi là chạy giặc hay đi trốn nậu trển. Và để nếu chia lại đất nước ở vĩ tuyến 13 (nghe phong thanh thế) thì mình thuộc về phía Quốc Gia. Xe ba-lua chở gia đình tôi và hai gia đình người bà con đi