DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,074,465

Hồ Đình Nghiêm - KỶ HỢI GỢI MẬU THÂN

Tuesday, January 29, 20199:39 AM(View: 580)
Hồ Đình Nghiêm - KỶ HỢI GỢI MẬU THÂN
KỶ HỢI GỢI MẬU THÂN
 

Image result for kỷ hợi 2019
 
 
Vì địa hình, những con đường trong thành nội thường cụt ngắn. Dài nhất e chỉ có riêng mình Đinh Bộ Lĩnh, khởi đi từ cửa Thượng Tứ, đâm thẳng tới cuối đường, kết thúc bằng đồn Mang Cá.
 
Nép thân Đinh Bộ Lĩnh hoặc toạ lạc ngay trên danh xưng nổi tiếng kia có lắm trường học nương nhờ, che nắng mưa cho biết bao thế hệ an tâm dùi mài sôi kinh nấu sử không thành danh cũng thành nhân: Tiểu học Trần Quốc Toản, trung học Hàm Nghi, trung học Bồ Đề, trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, trung học Nữ Thành Nội, trường Nông Lâm Súc. Không tính hai ngôi trường ẩn náu trong thâm cung Đại Nội: Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật và trường Quốc Gia Âm Nhạc.
 
Tuy dài hơn nhưng bề rộng của Đinh Bộ Lĩnh không vì thế mà “nở nang” so với những con đường nó vừa giao cắt: Đinh Công Tráng (lối vào Đại Nội bằng cổng Hiển Nhơn- có cà phê Tôn), Hàn Thuyên (có quán cà phê cô Dung), băng qua đôi ba ngã tư chẳng mấy ấn tượng thì gặp Mai Thúc Loan (có chợ xép, bưu điện, cửa Đông Ba và thân cận với Ngã tư Âm Hồn).
 
Song hành, cặp kè với Đinh Bộ Lĩnh là Đoàn Thị Điểm (đường phượng bay trong nhạc phẩm Mưa Hồng của Trịnh Công Sơn), rẽ trái là đường Hoà Bình (có căn nhà mà hoạ sĩ Đinh Cường thuê, cư ngụ cùng tiểu gia đình và dựng “xưởng vẽ” từ năm 1965). Đường Đoàn Thị Điểm nên dĩ nhiên mọc lên ngôi trường tiểu học quét vôi vàng mang cùng tên, Đoàn Thị Điểm bị chận đứng bằng dãy tường chạm trổ hoa văn cao ngang bụng, dùng bao bọc lấy một phần hồ Tịnh Tâm mọc nhiều cây sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Tịnh Tâm hay Tĩnh Tâm là một trong những “thắng cảnh” được triều nhà Nguyễn dựng nên nhằm làm nơi cho vua có chỗ giải sầu hòng trôi đi bao phiền muộn, câu cá hoặc chèo ghe hoặc đánh cờ… Sau này, thầy cô vẫn mượn khung cảnh hữu tình nọ để dắt trò bè ríu rít nối đuôi tới dòm ngó thay cho buổi đi cắm trại ngoài trời. Dạo đó người anh tôi vừa lên Trung học, ngoạn cảnh về đã lén lút làm ra bài thơ gây “choáng váng” cho toàn gia: “Tịnh tâm vào lúc hai giờ, bầu trời bát ngát mây lờ đờ trôi. Trên cao có một con dơi, lượn qua lượn lại cùng chơi học trò”. Giá trị bài thơ mãi được lưu truyền, khó quên. Sau này mỗi khi trà dư tửu hậu có người bèn che miệng cười thuật lại “biến cố” đó, anh tôi đã rất lấy làm ngầy ngà: Đứa mô cả gan dám ghi tên tao là tác giả? Đồ vô hậu!
 
Trở lại địa danh Mang Cá nằm cuối đường Đinh Bộ Lĩnh, nguyên thuỷ được mang tên Trấn Bình đài, án giữ phía đông bắc kinh thành do vua Gia Long dựng xây (1805). Đến năm 1883, vì thực lực quá yếu kém nhà Nguyễn đành nhượng bộ, trao Trấn Bình đài cho quân đội Pháp chiếm. Người Pháp đã bỏ công xây đắp thêm một bức tường thành kiên cố bằng gạch đá, họ nới rộng diện tích làm thêm doanh trại, đồn bót, bệnh xá, nhà nguyện. Vụ lấn đất mở mang đã khiến dân Huế thay đổi cách gọi, họ đặt tên mới cho Trấn Bình đài là Mang Cá nhỏ mà khu tân lập kia là Mang Cá lớn. Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, Trấn Bình đài đã lưu vào sử sách, giờ này nhỏ hoặc lớn đều gộp chung lại thành đồn Mang Cá, dùng địa thế chiến lược bền vững có sẵn để đặt bản doanh bộ chỉ huy Sư đoàn 1 trực thuộc bộ tư lệnh Quân đoàn I đồn trú ở Đà Nẵng (đặt sát phi trường).
 
Tết Mậu Thân 1968, đồn Mang Cá hoá thân thành một cái xương cá hóc hiểm khó nuốt, vì thế khởi đi từ ngày 6 tháng 2, Bắc quân phối hợp với du kích cơ sở nằm vùng đã dồn hoả lực tấn công, cố làm chủ được Mang Cá. Những trận giao tranh ác liệt đã xẩy ra, lê thê gần cả tháng trời giữa những thành quách tơi bời dấu đạn tàn phá, xoá sạch gần toàn bộ bao lầu son gác tía. Đại đội Hắc Báo (toàn người Huế, đa số đều xuất thân là gia đình Phật tử) đánh đấm ra trò, niềm hãnh diện của dân cố đô đã “bắt tay” đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến vừa từ Sài Gòn ra tiếp cứu để dành lại từng thước đất ngập đầy máu mà đối phương bất nhân vừa gieo rắc vung vãi. Phi trường Tây Lộc cách Mang Cá khoảng hơn cây số đường chim bay cũng nằm trong tầm nhắm thường trực dầu sôi lửa bỏng. Cửa Thượng Tứ, cổng Hiển Nhơn, cửa Đông Ba lần lượt rơi rụng cụt đầu, chịu chung số phận gãy đổ như cây cầu Trường Tiền 5 vài 10 nhịp nằm ngoài khuôn viên.
 
Gia đình hoạ sĩ Đinh Cường tản cư về phía hồ Mưng sau khi ông Nguyễn Đắc Xuân đi cùng ba đồng chí súng ống tận răng vừa lặn lội tìm tới xanh mặt thuyết giảng nói lời khó nghe vào ngày đầu năm nhuốm mùi tử khí. Từ đường Hoà Bình men theo bờ cây bụi cỏ thế hàng rào của dãy nhà cửa đóng im ỉm. Đi tiểu lộ chứ không dại lom khom trên đường Đoàn Thị Điểm trống lạnh. Gặp bức tường che chắn hồ Tịnh Tâm (còn đâu cảnh dơi lượn đùa chơi với học trò) nương thân bên gạch đá sứt mẻ, băng qua đường Đinh Bộ Lĩnh (nơi mà ba ngày sau sĩ quan Nguyễn Văn Phán tiểu đoàn 6 TQLC dắt con cái khó nhọc bò về Mang Cá. Trong bút ký hào hùng, người con Huế cho hay nhà Mạ ở gần hồ Tịnh Tâm, có nghĩa là chỉ cách có hơn 500 thước nhưng… Mạ ơi, con đang nóng lòng, làm răng gặp lại mạ đây? Hoả lực chúng vãi dầy đặc, cày xới, tơi bời hoa lá, con cái rụng dần).
 
Hồ Mưng nhỏ, nước đục lờ. Khá an toàn khi nhìn thoáng bóng dáng cỡ tiểu đội những anh lính quân phục rằn ri đang đào hố cá nhân. Bên hồ in bóng ngôi nhà từng thu giữ dáng luạ một nữ nhân mang tên Bồng Lai mà dạo yên tiếng súng có lắm chàng trai lén phén “lượn qua lượn lại mong chơi cùng nàng”. Gần hồ Mưng có quán cháo lòng mụ Quạ nhiều người khen ngon. Tết Mậu Thân xì ra một nguồn tin hư thực khó lường: Nhà mụ Quạ có nuôi heo, một quả đại bác rót sai mục tiêu rơi ngay trên chuồng. Heo phơi xác đã đành, một đôi kẻ ẩn nấp gần đó cũng chịu chung số phận. Tối lửa tắt đèn mụ Qua ôm nồi ra hốt xương thịt vô nhà hầm cháo, đồ chừng ngon nhức răng vì có tí ti thịt người lẩn lộn cùng heo, hương vị độc cô cầu bại. Trời ơi, chiến tranh mà! Gây ra toàn cả những điều bất nhân! Nhằm nhò chi ba chuyện lẻ tẻ.
 
Nên mở một dấu ngoặc đơn, là ở Huế vang dội bốn phương, chí ít cũng có hai mụ: Bún bò mụ Rớt và bánh nậm bột lọc mụ Đỏ (hai mụ ni đều cắm dùi thương hiệu ở vùng Gia Hội). Ít nổi tiếng thì có mụ Thơm chủ động hoa trôi nổi trên đò gần bến Văn Lâu, mụ Mơi làm thầy bói dưới chân núi Ngự Bình, mụ Quới chuyên việc đồng bóng ở điện Hòn Chén. Sau này, cảm thấy hơi bất lịch sự nên khi nhắc lại những tụ điểm “đặc sản” ngày trước, họ thay chữ mụ đổi thành bà: Bà Rớt, bà Đỏ. Sự thày lay đổi cách xưng hô nọ quả không hay chút nào. Nghe tới bún bò bà Rớt thấy vơi mất sự mặn mà mà mụ Rớt dày công nêm nếm hầm hon củi lửa. “Mụ” chính là môn bài lẫy lừng của người ta, sao anh đòi giải phóng nó? Ai xúi dục anh để ngày một ngày hai liền chôn tên Đồng Khánh, hoán đổi thành Hai Bà Trưng? Tầm hiểu biết của mấy anh quá thấp kém, Huế mà thiếu mất trường nữ trung học Đồng Khánh thì ra ngô khoai gì nữa! Núi Ngự Bình e cũng nên méo toàn tập là vừa (núi Ngự Bình trước tròn sau méo).
 
Lại mở thêm một dấu ngoặc khác, bạn có để ý đến danh xưng của con dân đất Thần kinh? Nói làm gì tới những Công huyền Tôn nữ nết na thuỳ mị công dung ngôn hạnh này nọ, nghe qua dễ bỏ ngoài tai. Sánh chi bằng Rớt, Đỏ, Quạ, Mơi, Thơm, Quới… Từ xưa, người Huế vẫn sợ đụng chạm tới thần linh hoặc mỹ từ mà hoàng phái thích sử dụng, lựa đặt. Do vậy con gái mang tên Hĩm, Bướm, Bẹn, Mắm, Ruốc… thì vô số, một đội ngũ khác thì Cốc, Ổi, Chanh, Cam, Xoài… Dân dã hiền lương như thế thì lớn lên con mình sẽ tránh bớt bao oan khiên liên hệ tới hồng nhan đa truân. Phụ huynh quan niệm: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Họ có lý do. Mở tiệm bán bún bò với tên chảnh “Diễm Lệ” chưa ăn đã thấy chẳng ngon bằng Mụ Rớt. Tin quá đi chớ, lý sự ấy chắc như cua gạch chớ không ngang như cua đâu.
 
Mà lạ, không cần nghe mấy mệ mấy mụ mấy dì mấy o “thuyết minh”, ngay cả các nường các em Việt kiều khúc ruột ngàn dặm về quê cũ thăm thú thụ hưởng ta về ta tắm ao ta, khi qua lại chốn dung thân mới từng khẳng định như đinh đóng cột: Ui cha mạ ơi, răng miếng thịt heo ở Huế hắn thơm ngon hắn ngọt lừ. Quạt than bắt vỉ lên nướng riu riu hắn bay mùi thơm từ Kim Long thổi qua Nguyệt Biều, tiếng chuông Thiên Mụ cũng vì làn khói nớ mà dật dờ trôi tới canh gà Thọ Xương. Thương con tôm sú nhảy liên hồi trên rỗ trên mẹt, cảm cho con cá bống thệ nằm co quắp với ớt hiểm trong nồi đất, ăn bắt cơm. Từ hồi nào tới giờ chừng như quý vị phụ nữ thường nhẹ dạ, cứ liên hồi kỳ trận ca ngợi lẻ tẻ miếng ăn rau rác nguyên vật liệu chốn xưa, ngay cả mấy o chào đời ở năm Mậu Thân cũng rứa cả, hơi bị vô tư. Cứ áo dài tím, cứ đội nón lá, cứ tay vịn vài cầu cười mím chi, cứ an phận thủ thường tạo dáng ca tụng “sông chảy dùng dằng nên Huế rất sâu” . Đi với ma mà không chịu mặc áo giấy, cứ ưa chảnh. Gần mực mà chẳng ngộ cả một màu đen quần tụ sau lưng, chực xô tới nhuộm ra màu đỏ. Huế mà có một đội bóng đá đẳng cấp, chân giò cẳng toàn siêu sao thì Bướm, Hĩm, Bẹn, Mắm, Ruốc đã lột đồ ra, nhảy ùm xuống sông Hương, la chói lói: Tự hào quá đất nước ta ơi!
 
Nguyễn Đắc Xuân vào Tết 68 năm xưa đội nón tai bèo mang dép râu, tay nắm tiểu liên AK-47, bên vai áo có buộc băng vải đỏ cùng một vài hung thần khác đi lùng sục giữa một Huế hoang lạnh. Tên nghe cũng ngộ: Xuân. Là mùa thích hợp cho hoa lá cựa mình thức giấc sau đông dài phủ trùm. Cũng chính Xuân về khiến mọi vật ủ ê, tang thương đổ nát. Những người đang cúng kiếng đốt nhang dâng lễ vật lên bàn thờ ông bà trong ba ngày Tết linh thiêng, lòng thành của họ chẳng có ai chứng giám. Chính số phận thảm thương, họ chưa kịp rửa chân đã vội leo lên ngồi đoàn viên sum họp cùng bao nhân ảnh quây quần trên bàn thờ trải khăn đỏ. Tết sau, ai là kẻ cúi đầu thành tâm đứng khấn vái dưới di ảnh?
 
Xuân này hơn hẳn những xuân xưa là lời chúc mà các chú đoàn viên đảng viên thường mang ra xài mỗi độ năm hết tết tới. Đồng chí Xuân cũng thế, thay đổi theo thời cuộc, hơn hẳn thuở đầu xanh mãi ghì siết khẩu AK, nay Xuân này đã trở thành nhà nghiên cứu đế đô, nhà Huế học thuộc làu bao kinh điển (tự hào quá Huế ơi!). Có dạo chàng Xuân bỏ công đi nghâm cứu tận kinh thành ánh sáng Ba lê, sứ mạng đặt ra không phải đi dọ tìm nơi xuất phát ra hai cục gạch mà đêm đông lạnh giá vào Min-nớp-xăng-hồi-đó (một chín mấy mươi?) bác Hồ đã nhanh trí ký gửi nhờ vào lò nướng bánh mì của thằng thực dân, đợi gạch nung đỏ chín hồng như hòn than bỏng mới gói ghém (không rõ bằng chất liệu gì?) mang về đút dưới giường giúp kinh qua giấc ngủ cơ hàn chịu đói rét hy sinh vì lý tưởng cách mạng. Nay tiêu chí Xuân tự đề ra là tìm cách phỏng vấn những vị cận thần hoặc thân nhân gần gũi bên cựu hoàng Bảo Đại để tìm hiểu về quãng đời trước khi lưu vong của vị vua cuối triều Nguyễn.
 
Sau này, đọc phải bài nghiên cứu của nhà Huế học, bà Mộng Điệp (1924- 2011) thứ phi của vua Bảo Đại, người cung cấp thông tin, dữ liệu, thuật lại bao giai đoạn lịch sử đã giận dữ thoá mạ (nguyên văn): “Cái thằng Nguyễn Đắc Xuân nó xin tôi kể. Nhưng khi viết lại, nó viết sai nhiều lắm” (nguồn DCVonline).
 
Khi hoàn thành cuốn bút ký “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” (1971), tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường cho biết là dựa trên tư liệu, những ghi chép dài 5 đến 7 trang do Nguyễn Đắc Xuân cung cấp, vì Xuân có mặt trực tiếp, liên hệ với người giữ lá cờ của mặt trận giải phóng. Ngôi sao nọ, nỏ biết “cái thằng Nguyễn Đắc Xuân, nó viết sai nhiều lắm” không?
 
Từ bấy đến nay đã biết bao xuân qua, bao mùa lá rụng, tóc xanh nay đã trắng như bông cỏ lau, không có một vị chức sắc nào, một nhà Huế học, Sài Gòn học, Hà Nội học nào đứng cúi đầu đốt nhang trước những mồ chôn tập thể kinh thiên động địa ở Huế, để thì thầm: “Cái vụ càn quét thảm sát năm Mậu Thân, nó sai nhiều lắm”.
 
Từ khi khởi động chiến dịch  nổi dậy “con Khỉ” thất bại toàn tập, chẳng có một oan hồn nào trên địa phận Huế được nhắm mắt mỉm cười nơi chín suối. Có ai vỗ ngực tự hào nữa, thôi? Xuân này có ai về bên đó làm ơn rộng lòng đốt giùm tôi nguyên một bó nhang. Tôi xin thành kính tri ân. Tự hào quen được một người biết chia sẻ nỗi đau, dù bé nhỏ.


 
Hồ Đình Nghiêm
(Tác giả gởi)




Mời đọc

Nhà thơ Thành Tôn và Nguyễn Vũ đã tiếp tục thực hiện ebooks cho
Tân Truyện và Tạp Ghi Văn Nghệ

Sấp Ngửa


Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_

Mẫu Hệ
Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa


Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=h_n_55_n_m_l_m_th___opt__-_tr_n_y_n

Đi Mỹ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=_i_m___opt__-_tr_n_y_n_ho_

---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content 3 con gai TYH                                                3 con gái của TYH, từ trái, Trần Yên Đông Nghi , Trần Yên Thư và Trần Yên Quế Chi, (Ô Mai - Cindy Y. Trần) áo trắng

Hòa 70                                                                      TYH và ba cô con gái tại Acacia Pharmacy

hình Quang ở đám cưới Ô Mai hình đám cưới Cindy Y.Tran







 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, May 8, 20195:20 PM(View: 325)
Nói đến vị Hùng Vương thứ 19 tức là mặc nhiên chấp nhận có 18 vị Hùng Vương trước đó. Đây là nói về mặt logic chớ hầu như tất cả sử sách của ta đều dành chỗ trang trọng cho các vị hiền nhân minh triết này trong thời kỳ sơ khai khuyết sử của dân tộc. Trong Việt Nam Sử Lược (VNSL), học giả Trần Trọng Kim tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của thời đại Hùng Vương trải dài trong 2622 năm với 18 đời “Vua,” bắt đầu từ năm 2879 trước Công nguyên (CN), tức cách đây (năm 2019) 4898 năm, và kết thúc sau khi Thục Phán đánh chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương thứ 18 để sáp nhập với nước Tây Âu hay nước Âu Việt lập ra nước Âu Lạc vào năm 258 trước CN. Có người, không biết dựa vào đâu, đã kể vanh vách tên của 18 vị “Vua” Hùng, như thể ngay từ thời khởi thủy xa xăm đó người Việt đã có tổ chức quốc gia chặt chẽ và đã có sách vở để ghi chép tên mỗi vị “Vua.” Thật ra, Vương không phải là vua. Hùng Vương không phải là “Vua” Hùng. VƯƠNG là một từ cổ có mặt và được dùng trong cả hai ngôn ngữ, Hán và Việt,
Sunday, May 5, 20198:57 PM(View: 442)
Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc. Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kĩ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lí, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm... in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo. Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục
Wednesday, May 1, 20196:40 AM(View: 407)
Tháng Tư anh về Sài Gòn Đi tìm em trên đường Tự do Đồng khởi Chùm me chín vội trong tay em ngày ấy Mái ngói rêu xanh còn đây Bầy sẻ nâu bằng đất Cửa sổ đèn khuya hiu hắt người về Dân tộc đi qua cơn mê Người lính trận mạc miền quê Bên kia núi, lạc đường thành phố Kẻ ngây thơ khốn khổ hoặc trở thành lưu manh Hay bị gạt ra ngoài Trả về quê cũ Kiếp ăn mày Người lính thất trận cởi áo giáp Cởi nón sắt Ngơ ngác Quần cọc ra về Đi từng hàng trước lưỡi lê họng súng AK Về làng, qua lũy tre xanh Ngày ấy chúng ta tưởng rằng chiến tranh đã qua Nhưng chiến tranh không hề đi qua Trái ổi xanh bên tường nhà em ngày một chín Nàng Tô thị đi lấy chồng Đường Tự do không còn tự do Người thắng trận thành người bại trận Người bại trận chết trên biển Đông Dinh Độc lập hóa thành dinh Thống nhất Mà lòng người cách chia Chiến tranh càng lùi xa hận thù càng lớn Càng nói càng không hiểu nhau Càng đọc nhau càng thêm ngu ngốc Núi sông không biết khóc Nhân dân đã già Các mùa hoa
Sunday, April 28, 20197:59 PM(View: 1137)
Trở lại Sài Gòn, tôi bắt đầu để ý đến ngôn ngữ của người miền Nam, đặc biệt những người lái taxi. Chỉ cần một câu hỏi: cô chú ở đâu về? là biết chắc chúng tôi Việt kiều, họ bắt đầu tâm sự. Một cái tên được nhắc nhở khá nhiều trong những câu chuyện taxi là Võ Thị Sáu; có lẽ vì cô này chết trẻ. Sau này tôi còn gặp lại cô ở Côn Đảo. Người taxi phân trần: Cô coi, mấy đứa nhỏ phải học trường Võ Thị Sáu, thiếu gì tên hổng xài, lấy tên con nhỏ vô học đặt cho trường học, tui hổng cho đi, tui cho chúng học tư, tốn kém mấy thây kệ. Một người taxi trẻ đưa chúng tôi từ quận Bình Thạnh về quận Nhất, qua một khu sang trọng, nhà cửa mới tinh, tuồng của các đại gia, văng tục: ĐM, chiếm đất đấy, dám xuống trỏng (miệt vườn) mà chiếm, có mà chúng chặt đầu! Tôi rợn người, chừng máu cô Quờn (ngày xưa chém chồng 36 nhát dao) đang chảy trong huyết quản anh taxi vạm vỡ này. Bấy giờ tôi mới cảm thấy những đợt sóng ngầm. Nguy hiểm. Taxi vào vùng Thủ Thiêm, sự khác biệt còn dữ dội hơn: một quần thể biệt thự sang
Friday, April 26, 20198:08 PM(View: 811)
Việc Tướng Minh “tuyệt tích giang hồ” cũng dễ hiểu. Từ năm 1963, ông Minh trở thành kẻ thù của nhiều hơn một thế lực chính trị tại Việt Nam. Nhóm kẻ thù hằn học nhất là những người ủng hộ và còn tưởng nhớ Tổng thống Ngô Đình Diệm (1955-1963). Cuộc đảo chính 1/11/1963 không những chỉ mang lại cái chết cho ba anh em nhà họ Ngô, mà còn khiến nhiều cộng sự viên và nha trảo của chế độ bị tử hình (Phan Quang Đông, đồ tể miền Trung), tù đày (Dương Văn Hiếu, Nguyễn Văn Y, Trần Kim Tuyến, Nguyễn Văn Hay), tịch thu tài sản, truy nã, săn đuổi, v.. v... Trong khi đó, Giám mục Nguyễn Văn Thuận, cháu ngoại ông Ngô Đình Khả—hiện đã trở thành Hồng Y ở Vatican—cũng muốn khôi phục lại thế giá cho các bậc trưởng thượng của mình, qui tụ tàn dư đảng Cần Lao làm hậu thuẫn chính trị. Tướng Minh, người đào mộ vùi chôn nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam và gây nên cảnh tang tóc thê lương của họ Ngô, khó thể được yên lành. Ngay trong hàng ngũ quân đội nhiều người cũng không muốn “huynh đệ chi binh”