DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
658,936

Du Tử Lê - Thơ Ở Nguyên Sa

Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 478)
Du Tử Lê - Thơ Ở Nguyên Sa

Thơ ở Nguyên Sa

Image result for nguyên sa trần bích lan


Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam

Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*)

Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn

thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa.

Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập!

Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi

Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ

Có đôi ba người (cũng làm thơ)

Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa

(Và thơ tình của những nhà thơ khác)

Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng

Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”

Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương:

“…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?”

Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ,

mỗi người làm thơ

Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình.

Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”

Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm

Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú.

Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”

Vì chiến tranh, cách gì cũng đã chấm dứt

Chí ít cũng trên thực tế trận địa.

Họ tiếp tục nói về những tang tóc quá khứ

Như thể đó là ý nghĩa thực sự của cuộc sống hôm nay…

Họ có quyền!!!

Chỉ duy một điều,

khi họ bẵng quên rằng:

Thơ-Tình hay thơ “tán gái” chính là một thứ dưỡng chất tinh thần

Một thứ keo sơn được ngợi ca khắp cùng trên trái đất,

giống như âm nhạc

nó an ủi những chia ly, tan tác nhất

Nó giúp nhân loại tìm đến nhau,

để yêu thương

nối tiếp sinh tồn

(nhờ vậy mà có những kẻ bỉ thử thơ tình).

.

Tôi trộm nghĩ, nếu thi sĩ Nguyên Sa sống lại,

Ông cũng chỉ thấy tội nghiệp cho những cái đầu mất thăng bằng

bệnh hoạn này.

Và, sẽ kết luận bằng mấy chữ ông thường dùng thuở sinh thời:

“bọn sa-đích! ”

.

Với nhiều người,

Thơ Nguyên Sa không chỉ đem đến cho người đọc

những chân trời thơ mộng mới.   

phong cách cách diễn tả bất ngờ của ông

Cũng làm thành những “cơn sốt” trong rung cảm của chúng tôi

Tôi tin nhiều người vẫn nhớ những câu hỏi như gửi cho chính mình

của Nguyên Sa:

“người về đêm nay hay đêm mai

người sắp đi chưa hay đi rồi

muôn vì hành tinh rung nhè nhẹ

Hay ly rượu tàn run trên môi”

(…)

“người về lòng tôi buồn hay lòng tôi vui

áo không có màu nên áo cũng chưa phai

tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ

tôi đưa người hay tôi đưa tôi?” (**)

Hay những câu thơ nói về mái tóc của người nữ,

chưa hề có trong thơ của chúng ta:

Tôi sẽ sang thăm em

Để những mớ tóc màu củi chưa đun

Màu gỗ ai ghép làm thuyền

Lùa vào nhau nhóm lửa”

Ông cũng chắp cánh cho mơ mộng của tôi bay trên bom đạn với:

“Khi đám mây cao dừng trên nếp trán

Anh chợt nghe vỗ cánh chim bay

Trái thơm ngon nặng trĩu trên môi

Dòng suối lạ chảy qua hơi thở.”

ông vẽ chân dung thế hệ chúng tôi với:

“Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc

Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao

Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét

Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào”

.

Tôi nhớ, thời chiến chiến, trong “Phương Xa”  

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng đã để lại những câu thơ bất tử như:

“Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ

Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ…”

Nhưng gần gũi hơn, trực tiếp hơn với chúng tôi

vẫn là thơ Nguyên Sa:

 “Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt

Dăm nụ cười không đủ xóa ưu tư

Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát

Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa”

Hoặc:

“Cửa địa ngục ở hai bên lồng ngực

Phải vác theo trăm tuổi đường dài

Nên có gửi cho nhau vài giọng nói

Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi”

Ông cũng là thi sĩ đầu tiên đã rất  thậm xưng

khi so sánh người yêu của ông với

“chó ốm”, “mèo ngái ngủ”, “mắt cá ươn”:

“Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chả là nước biển!...”

Dù không biết “Nga” là ai,


Image result for nguyên sa trần bích lan


Nhưng nhiều người trong chúng tôi vẫn thầm cám ơn

linh hồn của bài thơ thơ hiếm, quý ấy.

.

Như đa số những người cùng thế hệ thời tỵ nạn của mình,

Chúng tôi ẩn náu trong giao-thông-hào-thơ lục-bát Nguyên Sa

sau tháng 4-1975

 Dù cho đám dây leo thi ca,

Khởi đi tự bởi cái đầu bệnh hoạn, đố kỵ

Vẫn tiếp tục gọi thơ-tình là thơ… “tán gái”

Nhưng thơ-tình Nguyên Sa

Vẫn thăng hoa nỗi buồn tỵ nạn:

Mở ra những chân trời cho thơ,

Khi từ một giáo sư trở thành thợ điện,

Ông viết:

Ta vô dòng điện hai chiều

Xẹt ngang cũng đủ cháy vèo thịt da,

Em nằm ngay chỗ điện ra

Chỗ đuôi con mắt đèn hoa muôn màu…

Nghề thơ anh bỏ đã lâu

Gặp em sao nhớ nhung đầu dây xưa?”

Hoặc “Trận Vong”:

“những ngày còn chuyện binh đao

Thằng tuôn máu họng, thằng trào máu tim,

Ta còn nhớ mấy thằng em

Trúng cơn mưa pháo bỏ quên đường về

Ta là thằng Triệu Tử thua

Long thành cán cuốc, rượu chua mùi phèn,

Đứng đây, thành quách trong tim,

Ngọn cờ rách nát, cúi nhìn trận vọng.”

Ông cũng ghi lại tâm cảnh khác,

tiêu biểu cho một phần sinh hoạt quê người:

“Chờ em ở góc cây săng

Em không thấy tới ta nằm trong xe

Nhạc buồn ta vặn thật to

sao buồn không vỡ sao ta vẫn còn?”

Hơn thế, cuối đời, Nguyên Sa lại mở ra những đường bay

Tựa như vượt ngoài quỹ đạo cho thơ xuôi,

Với loạt hoài niệm được nhân cách hóa

Để hoài niệm trở thành nhân vật có đầy đủ thịt, xương, linh hồn, trí nhớ:

“Đi chơi cuối tuần tôi dắt ký ức đi theo

Ký ức thật vui, nó ôm chầm lấy bãi biển, tâm sự thật lâu với dòng sông, trò chuyện với đồng cỏ mà tôi không hề quen biết.

“Nó chạy tung tăng trên con lộ ở Hà Nội, ở Hà Đông, ở Sài Gòn, ở Paris, đường nào nó cũng biết thật rõ và nó di chuyển thật mau làm tôi lạc…”

Hay bất ngờ của những liên-ảnh đổi chỗ:

“Khi nàng hì hục, lúc buổi chiều, đắp pho tượng tuyết, tôi không hề biết gì về điều đó,

Khi nàng cắm lên vai pho tượng tuyết chiếc cành khô nàng gọi là cây nêu, tôi không hề biết gì về điều đó,

Khi nàng đeo lên tay pho tượng tuyết chiếc hộp giấy màu đỏ, nàng gọi là bánh pháo, tôi cũng chưa hề biết gì về điều đó

(...)

“… Nửa khuya nàng đánh thức tôi dậy, nói dậy đi, dậy đi anh, giao thừa rồi, tôi ngồi dậy, chúng tôi mặc quần áo mới, chúng tôi thắp nhang, chúng tôi uống trà với nhau, ngồi tựa lưng vào nhau, hát cho nhau nghe bằng ánh sáng của những ngày mới gặp nhau.

Khi nàng quay đầu lại tôi thấy mắt nàng đỏ hoe, mắt nàng ngơ ngác giống như mắt con vành khuyên một mình, để định hướng, bay theo những màu vàng của một khu rừng mai.

Tôi thật sự không có ý niệm gì về màu vàng, khu rừng mai và con chim ngơ ngác đó.

Tôi cũng không biết khi nàng ngủ say, tôi ra đứng bên cửa sổ,

tôi không biết ở ngoài cửa sổ có con vành khuyên đang bay lộn vòng

Tôi không biết tôi đứng ở dưới,

Tôi không biết con chim bay quanh trên đầu tôi,

Tôi không biết sau đó, chúng tôi đổi chỗ,

Con chim đứng làm pho tượng tuyết và tôi bay lượn trên không trung,

Trên những màu vàng

Của khu rừng mai trong kiếp khác.”

(Một ẩn dụ, hoài niệm quê hương?)


Image result for nguyên sa trần bích lan


Cuối đời, những năm, tháng lưu vong,

Người thi sĩ làm thợ điện nói về những điều ông không biết

Lại chính là những điều ông biết rất rõ…

Cũng như thế hệ chúng tôi trong chiến tranh và di tản biết rất rõ,

Chúng tôi có

Một thi sĩ thơ-tình lẫm liệt, như thế.

Du Tử Lê,

(April 2019)
(từ: dutule.com)

…………………………………………………………………………

(*) Nguyên Sa: Sinh 3-1932, tại Hà Nội. Mất tháng 4-1998, tại miền nam California.  

(**) Tất cả thơ trong bài viết này trích từ “Thơ Nguyên Sa, Toàn Tập”. Nhà XB Đời, Hoa Kỳ, 1998.


                                  *

Mời đọc

Nhà thơ Thành Tôn và Nguyễn Vũ đã tiếp tục thực hiện ebooks cho
Tân Truyện và Tạp Ghi Văn Nghệ

Sấp Ngửa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_
Mẫu Hệ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=h_n_55_n_m_l_m_th___opt__-_tr_n_y_n
Đi Mỹ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=_i_m___opt__-_tr_n_y_n_ho_

---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 





 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, October 1, 20194:47 PM(View: 153)
Thời đó lương kỹ sư mới ra trường của tôi một tháng kể cả phụ cấp khu vực cũng chỉ được ngót nghét 7 tờ. Người làm nghề “phe phẩy” đếu phải đanh đá chua ngoa mới trụ được với nghề, nhưng bà Tuất Phe lại thuộc tạng người khẩu xà tâm Phật. Bà ngang tàng đến mức dữ dằn nhưng tốt bụng và rất thương người nghèo khổ, cô đơn. Hễ gặp người đói rách, bệnh tật bà cho tiền, bị kẻ khác ức hiếp bà bênh vực. Gái chưa chồng ở tuổi 40 cho bà một nét đẹp mặn mòi, quyến rũ từ vóc dáng, làn da đến điệu cười, giọng nói và nhất là đôi mắt đen huyền long lanh sâu thẳm như hai miệng giếng thơi đầy bí hiểm. Bởi thế, khối ông từ cấp Trưởng phòng Thương nghiệp của Khu, nơi có quyền cấp phát tem phiếu xuống đến mấy ông Trưởng hoặc Phó cửa hàng mậu dịch từng bị bà “cách chức” dễ ợt bằng trò đùa tình ái rất tinh quái. Bà ghét cay ghét đắng lũ cán bộ dẻo mồm hót hay mà đê tiện háu gái ấy chuyên dọa dẫm gạ tình hết lượt các cô mậu dịch viên trẻ nên tìm cách chơi khăm cho bõ tức, chứ các cô thì ngấm ngầm biết
Sunday, September 29, 201910:49 AM(View: 185)
Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức. Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Đổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống
Tuesday, September 24, 20197:47 AM(View: 134)
Lần thứ hai trong năm, lúc Chùa sửa soạn cho vụ mùa, Sư bà trụ trì lại cho tôi hai tuần nhập thất. Lúc nghe Sư cô Giáo Thọ báo tin, cổ họng tôi đắng khô. Bao giờ Nhà Dòng ở bên kia đồi cũng phái thầy Huyên kéo chiếc máy cày sang làm đất giúp Chùa vài hôm. Như thế là tiêu tan hy vọng được gặp lại thầy mùa này. Tôi ngẩn ngơ đứng nhìn ra chiều đang vàng lắm ở trên đồi mà không thấy Sư cô Giáo Thọ quay đi, giấu tiếng thở dài. Ngay từ hôm đầu tiên vào thất, tôi đã bắt gặp cái tâm tôi như “vượn chuyền cành”. Chỉ một tiếng người lao xao bên ngoài cũng đủ làm cho con ngựa chứng bất kham trong tôi trỗi dậy. Tôi nhớ thầy Huyên. Không biết từ mùa nào, khi Thầy kéo chiếc xe máy cày về lại Nhà Dòng, lòng tôi cũng đi theo về bên ấy. Bao giờ thầy cũng tận tâm làm việc với trái tim vô ưu. Thầy nào biết trong giờ tọa thiền, tôi lại chờ nghe tiếng chuông leng keng thật vui tai từ bên ấy vọng sang cũng như khi tôi đi thiền hành quanh bốn bức tường của căn phòng mà hồ như mình đang bước đi trên sóng.
Friday, September 20, 20192:51 PM(View: 152)
Trước hết, đừng quên nghị quyết của Ủy Ban Cochinchine vào tháng 5/1857. Theo tinh thần Nghị quyết này, Pháp cần biểu dương lực lượng ở Đại Nam, thiết lập một tân trào với nòng cốt là “các thày kẻ giảng, với sự ủng hộ của 600,000 giáo dân Ki-tô.”[1] Petrus Key rời Pinang vào năm 1858, trở lại Cái Mơn của Linh mục Borrelle (Giám mục Lefèbvre đang ở Chợ Quán), và chờ đợi để phục vụ “những nhà giải phóng được Thiên Chúa gửi xuống cứu độ giáo dân An Nam.” Vì Trung tá Jauréguiberry không tin tưởng GM Lefèbvre và từng lên án Lefèbvre phá hoại việc thương thuyết một hòa ước, nên Petrus Key chưa được trọng dụng ngay. Nhưng Petrus Key vẫn được làm thông ngôn ở Chợ Quán, với lương 20 đồng một tháng. Trong một phiếu trình lên Rigault de Genouilly, Jauréguiberry cho biết một thông ngôn tên “Petrus” phải uống thuốc quinine để chữa trị bệnh sốt rét, và ông ta định đưa “Petrus” ra Đà Nẵng để thẩm vấn các quan viên Việt bị Pháp bắt giữ. Tháng 6/1859, Petrus Key tháp tùng Linh mục Theophile
Tuesday, September 17, 20196:27 AM(View: 194)
Ngày hôm sau chúng tôi bay ra Đà Nẵng, thuê xe đi Hội An thăm Dinh phái 1 và Từ Đường phái 2 của dòng họ Nguyễn Tường, sau đó viếng nghĩa trang riêng của gia tộc. Đứng trước hàng bia mộ, nơi yên nghỉ của những người thân yêu, cảm giác này thật khó diễn tả! Cảm giác ấy vừa mơ hồ lại vừa cụ thể như phảng phất đâu đây cái kì bí giữa hai cõi âm dương. Sau hai ngày ở Đà Nẵng và Hội An chúng tôi ra Huế. Không khí ở đây có phần mát mẻ và tĩnh lặng hơn. Tôi tiếc là chưa có dịp đi đò trên sông Hương để nghe nhạc cung đình Huế. Đọc tác phẩm “Mưa trên cây sầu đông” của Nhã Ca, tôi định bụng ra Huế lần này sẽ coi thử “cây sầu đông” (còn gọi là “cây xoan”) xem nó ra thế nào, và tại sao người ta hay ví con gái đẹp với khuôn mặt trái soan? Vậy mà Huế đã vào đông rồi mà cây sầu đông tôi vẫn chưa có dịp nhìn thấy. Vì gia đình cháu Tường Anh chỉ có gần hai tuần lễ ở Việt Nam mà chương trình kéo dài từ Nam ra Bắc nên chúng tôi đến nơi nào cũng chỉ “cưỡi ngựa xem hoa” rồi lại vội vã lên đường đi