DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,094,452

Hòa Đa - Tình Muộn

Monday, May 20, 20199:44 AM(View: 633)
Hòa Đa - Tình Muộn
Tình Muộn

Image result for tình muộn
1

Thầy Hoa lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời quang mây và nắng chan hòa ngoài kia. Hai con sóc đuổi nhau trên cành cây nghiêng qua khung cửa sổ. Trong lòng, thầy có cả chút ngọt ngào lẫn cay đắng. 

Có tiếng lịch kịch trong bếp, giờ này bà Hiên, vợ thầy đang lo bữa trưa. Vẳng tiếng phim bộ léo nhéo. Bà Hiên vẫn vậy, thích vừa xem phim, vừa làm gì đó. Đó cũng là niềm vui riêng của bà sau những giờ trồng cây, nhổ cỏ chăm bón ngoài vườn. Thầy Hoa ít khi tham dự vào những sinh hoạt của vợ. Thảng hoặc, thầy cũng ngồi xem phim với bà, nhưng thường bỏ cuộc nửa chừng vì không xem liên tục, chẳng hiểu đầu đuôi. Với lại, khi không có phim mới, bà lôi phim cũ ra xem đi xem lại. Bộ phim bà ưa thích nhất là phim “Bản Tình Ca Mùa Đông.” 

Từ ngày hai vợ chồng về hưu, thì giờ như nhiều ra. Mấy đứa con gắn cable, mua TV đời mới, màn ảnh rộng, gắn trên tường. Thường ngày, mỗi buổi sáng, sau khi đi bộ chừng nửa giờ quanh xóm, thầy bắt đầu theo dõi thị trường chứng khoán, mua bán cổ phần các công ty. Thầy ăn cũng nhiều, mà thua cũng lắm. Thầy coi đây như một thú vui, cũng là cách thử thách sự nhạy bén của trí tuệ. Thầy vẫn thường tự hào sau hơn hai mươi năm trong thị trường, thầy về hưu với tình trạng tài chánh tương đối khá, một phần nhờ vào đầu tư. Bà Hiên không hiểu nhiều về cái gì gọi là đầu tư, tiền kiếm được sau bao năm lăn lộn trong nghề nail, bà nhốt hết vào mấy cái CD và trương mục tiết kiệm của ngân hàng, tiền lời dư cho bà mua mấy băng hay dĩa phim truyện bà thích, hay thỉnh thoảng về Việt Nam thăm bạn bè và bà con. Thầy cũng chẳng phản đối gì việc làm của bà, vì thầy cho rằng, bà có quyền hưởng thụ thành quả công việc của bà sau hơn hai mươi năm nơi xứ người. Công bình mà nói, công sức của bà nhiều hơn của thầy, ít ra từ ngày hai vợ chồng cùng bốn đứa con thành công trong cuộc vượt biên do người học trò cũ tổ chức. Giai đoạn đầu, nhờ khả năng Anh ngữ, thầy sớm gầy dựng một cuộc sống tương đối thoải mái cho gia đình. Vài năm sau, bà Hiên học nail, đi làm, mở tiệm... thừa thế đang có, bà học luôn nghề tóc, mở tiệm tóc... làm nhiều, khai ít, tiền mặt không bao giờ thiếu. Ngày hai ông bà về hưu, bà sang lại cả bốn tiệm vừa nail vừa tóc, thu về gần triệu bạc, gửi ngân hàng. Các con lần lượt hoàn tất đại học, đi làm, lập gia đình ra riêng, bỏ lại hai ông bà sống trong một căn nhà bốn phòng, hai tầng trị giá gần ba trăm ngàn đã trả đứt. 

Lòng kính nể của bà Hiên đối với thầy cũng giảm dần, cùng nhịp với sự thành công về tài chánh của bà. Tình yêu và lòng kính trọng chồng cứ mòn dần với thời gian. Bà cũng không nhận ra là từ lúc nào bà không thấy những lời nói của ông là cần phải nghe nữa. Có lần, bà nói thẳng giữa đám bạn bè trong một tiệc cưới:

- Nghe lời ổng, không chừng bây giờ tụi tôi phải sống nhờ vào tiền trợ cấp của nhà nước rồi. Không có tôi lo làm ăn, còn lâu, ổng mới được như bây giờ. Có bao nhiêu tiền, ổng đem đầu tư hết, muốn mua cái áo mới, chiếc nhẫn đẹp... lần nào ổng cũng nói “không có tiền.”
Thầy chỉ cười độ lượng tha thứ cho tính thiển cận của bà. Từ ngày hái ra tiền, bà đã quên nhiều thứ, kể cả tình vợ chồng và những lúc gian nan sau tháng Tư Bảy Lăm, cũng như khi vừa định cư.
Nắng vẫn chan hòa ngoài kia. Thầy bỗng nhớ lại câu chuyện ngụ ngôn đọc được ngày xưa, khi còn là học sinh trung học: “Một người lái buôn Ả Rập trên đường đi buôn, hết cả nước khi băng ngang sa mạc nóng bỏng. Ông nhìn thấy một ốc đảo, chạy vội đến, nhưng thất vọng khi chỉ thấy vài bụi cây quanh một vũng khô cạn nước. Chợt nhìn thấy bên cạnh có túi da, ông nhặt lên với hy vọng tìm thấy nước, khi mở ra, chỉ thấy toàn kim cương. Ông ném túi xuống thở dài: Ôi chỉ là kim cương, cái ta cần bây giờ là nước...”

Hai người sống cạnh nhau, nhưng ai có việc riêng nấy và không ai chạm vào ai. Hai người cũng mất thói quen nói chuyện với nhau, có chăng là những khoảng thời gian con cháu về thăm, thường là vào cuối tuần, hay những dịp lễ lớn. Cũng đôi ba lần trong năm, hai người cùng đi chung với nhau trong những đám cưới. Còn thì cả hai sống trong thế giới riêng của mình. Bà đi mua sắm với bạn bè, thầy không đi theo, ở nhà xem CNBC theo dõi thị trường. Cuối tuần, thỉnh thoảng có cuộc họp mặt đồng hương, thầy đi một mình, bà ở nhà mê mải theo dõi những chuyện tình tay ba, tay tư, chuyện tình lòng vòng của phim bộ. Cảnh đồng sàng dị mộng này dễ chừng đã ba năm nay từ lúc ông nghỉ hưu, bà cũng về hưu non. Nói là đồng sàng cho có vẻ, chứ thật ra, thường thầy ngủ luôn trong phòng làm việc. Mà hai người cũng mặc nhiên chấp nhận việc ấy, thầy có thể tránh được cái âm thanh léo nhéo của phim bộ mà thầy cho là mất thì giờ; còn bà có thể tự do xem thỏa thích, cho đến khi nào mỏi mệt thì đi ngủ, có khi đến hai ba giờ sáng, khỏi sợ phiền, cũng tránh được tiếng ngáy khó chịu của chồng.

Nói cho cùng, bà cũng không để thầy thiếu thứ gì, bà vẫn lo liệu cho thầy từ quần áo, đến bữa ăn. Người ngoài nhìn vào, ai cũng nói vợ chồng thầy sống hạnh phúc, một cuộc sống mẫu mực được nhiều người ước ao. Nhưng riêng giữa hai người với nhau, cả hai đều thấy giữa họ chỉ còn nghĩa, chứ không còn tình. Cái nghĩa của cuộc hôn nhân gắn hai người với nhau gần bốn mươi năm, bốn mặt con, sĩ diện với con cái, thông gia, người thân và bạn bè... Thầy Hoa không tìm thấy sự ấm áp của tình vợ chồng già, không tìm thấy người bạn đường hồi nào luôn khâm phục, chia sẻ những ý tưởng, việc làm của thầy. Đôi lúc riêng tư, những cử chỉ thân mật ngày nào chỉ được đáp trả bằng những tiếng hứ lạnh lùng cụt lủn hay câu trả lời phũ phàng. Trong những lúc gia đình đông đủ, nhiều khi bà còn có cách nói làm mất mặt thầy trước con cái. Thầy không chấp vì nghĩ rằng bà muốn tìm cách chứng tỏ bà là người quan trọng trong gia đình. 

Khoảng thời gian sau này, thầy sống trong cô đơn. Còn nhớ ngày xưa, quê thầy ngoài Trung, mùa hạn làm cây cỏ khô héo, chỉ cần vài trận mưa rào, cây lại có sức sống, nụ xanh lại nhú. Bây giờ, thầy như một cây khô trong mùa hạn mong chờ mưa rào.

2

Thứ Bảy hôm đó, thầy đi dự buổi họp mặt cựu học sinh của trường ngày trước. Rủ vợ đi, nhưng bà Hiên than mệt từ chối, dù ngày xưa bà cũng là một cựu học sinh của trường. Thầy cũng biết, mệt chỉ là cái cớ, từ lâu rồi bà Hiên vẫn không thích đi chung với chồng đến những chỗ họp mặt tương tự. Lần trước Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh của trường tổ chức ở tiểu bang khác, thầy không tham dự. Lần này, tổ chức tại đây, ban tổ chức đã liên lạc gửi thiệp mời. Thầy cũng muốn nhân dịp này gặp lại những gương mặt thân thương ngày xưa, đồng nghiệp và học sinh cũ. Thầy không ngờ buổi họp mặt đó đã ghi một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn tưởng như khô héo của thầy.

Thầy đã ngỡ ngàng khi một cựu nữ sinh - không còn trẻ nữa - lên sân khấu, gõ nhẹ vào micro, lên tiếng:
- Trong không khí đầm ấm và đầy kỷ niệm của một thời cùng quây quần bên mái trường thân yêu ngày nào, tôi xin góp vui bằng một bản nhạc tiền chiến mà ai cũng biết, và cũng để riêng tặng thầy Hoa, người thầy ngày nào tôi hằng ngưỡng mộ...

Thầy giật mình nhìn lên, không nhận ra người hát là ai. Sau hơn mười năm trên bục giảng, thầy có cả ngàn học sinh cũ, làm sao nhớ hết... Nhưng lời ca của bài Tà Áo Xanh và giọng ca đó đã đưa thầy về những ngày tháng cũ. Chắc đúng rồi! có lẽ là Lan rồi. Thoáng chút bối rối nhìn quanh, nhưng thầy không làm gì khác được trong tình huống này.

*

Ngày đó, Thầy mới hai mươi ba, tốt nghiệp Đại Học sư phạm, dạy tại một tỉnh lỵ nhỏ bên bờ Cửu Long. Lan là học sinh Đệ Nhị A. Mười tám tuổi, con gái vùng sông sâu nước chảy có tiếng là đẹp. Lan học giỏi, là phó trưởng lớp học tập, con một thương gia giàu có, dư điều kiện cho bao chàng trai theo đuổi. Nhưng tâm hồn trong trắng ấy chỉ vương vấn một người, Thầy Hoa, giáo sư hướng dẫn lớp. Mối tình thầm lặng đơn phương ấy lâu ngày rồi cũng lộ. Bạn bè dần nhận ra tình cảm của Lan đối với ông thầy trẻ độc thân, tài hoa qua những lời nói vô tình, cử chỉ lãng mạn, ánh mắt mộng mơ say đắm nhìn thầy như chiêm ngưỡng một thần tượng. Thầy vẫn vô tình không biết hay làm như không nhận biết tình cảm đặc biệt ấy. Cho đến một ngày, thầy vào lớp, ngay giờ thứ nhất của buổi học, trên bảng đen là một đóa hoa lan vẽ bằng phấn. Cả lớp đứng lên chào thầy, nín lặng một cách cố ý, chờ xem phản ứng, trong khi Lan đang cúi mặt bẽn lẽn mân mê tà áo dài. Thầy Hoa ra dấu cho học sinh ngồi, thản nhiên bôi bảng, bắt đầu giảng bài. Tuần sau, cũng giờ học đó, trên bảng lại có hình đóa hoa, bên dưới còn thêm hai chữ in HOA LAN, tuồng như cố ý phụ đề cho hình vẽ. Thầy Hoa lại bôi bảng, nhưng lần này thầy nghiêm trang nói:
- Hôm nay, tổ nào trực lớp? Qui định của trường là bảng phải được lau sạch trước khi giáo sư vào lớp, các em biết chứ? Cuối giờ, tổ trưởng và phó trưởng lớp trật tự xuống phòng Tổng Giám Thị gặp tôi.
Sau đó, thầy thản nhiên giảng bài. Cả lớp im phăng phắc.

Chuyện cũng qua đi, lớp học không còn dám nói bóng gió gì về chuyện ấy nữa... cho đến một ngày, thầy bệnh, không đi dạy được. Giám thị vào lớp báo tin, mang theo bài kiểm thầy gửi vào để giữ lớp ngồi yên trong lúc các lớp khác đang có giờ học bên cạnh. Lan bứt rứt không yên, làm bài không được... Tối hôm đó, Lan tìm đến nhà trọ của thầy, mang theo một gào mên cháo cá giải cảm vì biết thầy Tùng ở trọ chung đã về Sài Gòn vào cuối tuần. Lan ép thầy ăn hết cháo bằng nước mắt của mình... Khoảng hơn tuần sau, trong lúc Thầy Hoa đang ngồi uống cà phê, Lan ghé vào nói nhanh “em gửi trả thầy cuốn tập” rồi hấp tấp bỏ đi ngay. Thầy sững người, nhưng cũng đủ tế nhị không nói gì giữa chốn đông người... Về nhà, thầy mở tập, một phong thư còn đượm mùi thơm nhè nhẹ rơi ra.

“Thầy yêu,
... Tối hôm qua, em đã soi gương rất lâu để biết mình không phải là một cô gái xấu, nhưng sao thầy cứ hờ hững? Em phải làm gì, em van thầy nói cho em biết, em phải làm gì để thầy thấu rõ tấm lòng của em.
... Em đã ôm gối khóc rất nhiều trong những đêm vắng cô đơn. 
Tại sao em không yêu ai khác mà yêu thầy? Yêu thầy của mình đâu phải là thứ tình yêu tội lỗi, vậy tại sao em phải dấu kín nỗi lòng?...
... Em chép lại đây những dòng thơ tình của cô học trò xứ Huế trót yêu thầy giáo của mình, để thầy hiểu rõ nổi lòng cô học trò bé bỏng này của thầy:

Chi lạ rứa? chiều ni tui muốn khóc
Ngó chi tui? đồ cỏ dại hoa hèn,
Nhìn chi tui? hình đom đóm trong đêm
Cho thêm tủi bên ni bờ cô tịch.
Tui mơ ước, không bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin, răng mà nớ cứ làm ngơ.
Rồi ngó chi tui? chi lạ rứa hững hờ.
Ghét? yêu mến? vô duyên và trơ trẽn!
(...) 
Thầy ơi! em có phải thứ cỏ dại hoa hèn đó không thầy?...”

Thư Lan kín bốn trang giấy học trò, giải bày mối tình si mê cuồng đắm đơn phương của mình. Lan cũng không dấu giếm ý nghĩ của mình là sẽ chờ đợi... không phản lại lòng mình dù không được đáp trả...

Thầy nhắm mắt thở dài: đáp trả gì? chờ đợi gì? Với thầy, Lan chỉ là một học sinh như bao học sinh khác. Có chăng là tình cảm vô cùng trong sáng của thầy đối với trò. Thầy cũng đang có một mối tình say đắm với cô nữ sinh viên Văn Khoa, Hiên, cũng là học sinh của trường, trước khi thầy về dạy mấy năm. Họ quen nhau từ lúc thầy Hoa còn học sư phạm, và cũng vì yêu Hiên nên khi tốt nghiệp, thầy xin về đây dạy để biết rõ thêm về quê hương người yêu của mình. Thầy không thể san sẻ tình yêu nam nữ với ai khác ngoài Hiên. Cho nên với tình cảm của Lan, thầy chỉ ghi mà không nhận. Thầy cũng nghĩ rằng, tình yêu của Lan chỉ là tình lãng mạn của tuổi mới lớn, rồi thời gian sẽ làm cho Lan quên đi mối tình vô vọng đơn phương của mình.

Cuối năm học, những giây phút liên hoan văn nghệ lớp xôn xao trong buổi học cuối trước lúc chia tay nghỉ hè, Lan hát bài “Tà Áo Xanh,” mắt đắm đuối nhìn thầy Hoa, nàng đã cố ý đổi chủ từ trong lời ca, cả lớp biết Lan mượn lời ca để tỏ nỗi lòng không còn muốn che dấu “...em còn nhớ anh nói rằng: khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh... anh ơi có tình nào không phai như tình em với anh.” 

Cuối bài, Lan gục xuống bàn khóc.

Nắng quái buổi chiều còn đọng trên các cành phượng vĩ đỏ rực trong sân trường đang vắng dần bóng học sinh... Liên, bạn của Lan, đến gần thầy ngập ngừng:
- Lan còn ngồi khóc trong lớp, em nói mấy nó cũng không về. Em sợ nó làm bậy, có lẽ chỉ có thầy nói nó nghe.
Thầy Hoa thấy lạnh dài theo xương sống, nhưng cũng rảo bước về phía lớp học. Liên tế nhị tránh mặt.
... Lan ngẩng lên, nhìn thầy Hoa qua màn lệ rồi không kềm chế được lòng, Lan ngã vào lòng thầy nức nở. 
- Thầy ơi, em yêu thầy, em yêu thầy, em yêu thầy. Thầy có biết em yêu thầy đến mức nào không?...

Sau hè đó, hình như gia đình Lan biết chuyện, gửi nàng về Sài Gòn ở với người cô học tiếp. Thầy Hoa và Lan cũng không gặp lại nhau từ dạo ấy.



Sau tháng Tư Bảy Lăm, cơn lốc cuốn mọi người theo mọi hướng, thầy Hoa bị cho nghỉ việc và đi học tập cảo tạo vì là sĩ quan biệt phái. Sau khi ra trại ít lâu, gia đình thầy cùng người học trò tốt bụng vượt biên. Trong chuyến hải hành đó, Tuấn, bạn học cùng lớp với Lan ngày xưa, kể cho thầy Hoa nghe chuyện tình của Lan đối với thầy lúc đó mà cả lớp đều biết... chuyện Lan cạo đầu để phản đối cha mẹ khi bị ép đi Sài Gòn... Chuyện Lan tuyên bố không lấy chồng và dọa sẽ tự vẫn nếu gia đình làm quá... chuyện Lan vượt biên hai năm trước, nghe nói bị hải tặc Thái Lan cướp tàu và mất tin từ đó. Thầy Hoa ngồi yên nghe, trong lòng có chút ngậm ngùi, nhớ lại hình bóng mảnh dẻ của Lan và khuôn mặt thanh tú đẫm lệ của nàng khi ngã vào lòng thầy buổi chiều cuối năm học nào. Thầy đã đưa khăn cho Lan thấm nước mắt, an ủi, vỗ về nàng như an ủi một cô em gái dại dột. Thầy đã cố vận dụng mọi khéo léo và uy tín của mình để khuyên Lan về nhà...

3

Những bận bịu mưu sinh nơi xứ người làm thầy quên đi chuyện cũ cho đến khi nghe lại bài Tà Áo Xanh với lời ca bị đổi chủ từ một cách cố ý, với ánh mắt đắm đuối nhìn mình như thủa nào, thầy thấy tim mình như thắt lại, không dám tin người đang hát chính là Lan.

Bài hát dứt, tiếng vỗ tay râm ran lôi thầy trở lại thực tế. Người ca sĩ bước xuống bục, tiến về phía thầy Hoa.
- Thưa thầy! thầy còn nhớ em chứ, thầy cho em ngồi đây với thầy một chút được không? 
- Lan phải không? - Em ngồi đi
- Cám ơn thầy còn nhớ tới em.
- Bây giờ em đang làm gì? gia đình ra sao?
- Trước em làm cho Compaq bây giờ là Hewlett Packarg đó.
Câu chuyện có tính xã giao kéo dài không lâu. Lan xin địa chỉ email và số điện thoại của thầy Hoa.

Sau buổi họp mặt, Lan mời thầy đi uống cà phê, sau đó về khách sạn nàng đang ở. Lan đã kể vắn tắt chuyện đời mình một cách bình thản.

Lan xa thầy từ lúc đó, nhưng trong tim hình ảnh thầy không bôi xóa được. Lan vẫn âm thầm theo dõi bước chân thầy. Ngày thầy lập gia đình, Lan đã nuốt trọn lọ thuốc ngủ để quyên sinh, nhưng trời chưa bắt chết nên khiến Liên tình cờ đến chơi, khám phá đưa nhà thương cấp cứu. Nàng không thể còn yêu ai được nữa, cho đến khi vượt biên vào năm bảy tám. Sau ba ngày lênh đênh trên biển, tàu vượt biên bị hải tặc Thái Lan cướp ba lần, lần nào đàn bà trên tàu cũng bị làm nhục. Lần cuối, bọn chúng sau khi thỏa mãn thú tính, húc cho tàu chìm để phi tang. Nàng nghĩ đã đến lúc phủi sạch nợ đời... nhưng khi tỉnh dậy nàng thấy mình đang ở trên đất liền, sau mới biết là trại Palawan ở Phi Luật Tân. Từ đó, Lan coi như mình đã chết. Sau một thời gian định cư trên đất Mỹ, nàng chấp nhận lập gia đình với một người bản xứ. Chẳng may, chồng Lan là một kẻ nghiện rượu và chết trong một
tai nạn xe khi đang say. Ngày đó cách đây cũng hơn mười năm. Lan chán, sống một mình cho đến ngày nay với cái tên nửa Việt nửa Mỹ: Lan Mc. Lain. Hai năm trước đây, cũng trong một hội ngộ cựu học sinh của trường, Lan biết thầy sống ở thành phố này. Nên lần hội ngộ này, Lan nhất quyết tham dự, với lòng mong ước gặp lại người xưa, dù nàng không biết thầy có đến hay không.

Lan nói, mắt vẫn nhìn thầy với ánh mắt thiết tha của năm nào. Thầy Hoa ngồi nghe, trong lòng có chút bùi ngùi. Thầy đã thoáng thấy phần nào ân hận và có chút trách nhiệm cho cuộc đời đầy gian truân của Lan, dù thầy chẳng có lỗi gì...

Lan đã vòng ra sau lưng, choàng hai tay qua vai, tựa đầu lên mái tóc đã điểm bạc của thầy, thổn thức. Tiếng Lan tha thiết, van nài:
- Thầy hôn em một lần đi! Em ao ước được thầy ôm hôn em, dù chỉ một lần thôi, em cũng mãn nguyện rồi, em sẽ không làm gì tổn thương tới gia đình thầy đâu. Ngày mai, em về Cali đi làm lại, rồi chúng ta lại mỗi người một ngã... không lẽ chỉ một ao ước nhỏ nhoi trong bao năm rồi của em cũng không được thỏa nguyện?

Thầy Hoa thấy có chút gì rạo rực trong lòng. Bất giác, thầy quay lại, ôm Lan vào lòng...
Ngoài kia, trời bỗng đổ mưa.


Houston, TX
Hòa Đa
(từ: DĐTK)



Mời đọc:

Truyện dài của Trần Yên Hòa

Mẫu Hệ
Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_


---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content




Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, September 17, 20196:27 AM(View: 28)
Ngày hôm sau chúng tôi bay ra Đà Nẵng, thuê xe đi Hội An thăm Dinh phái 1 và Từ Đường phái 2 của dòng họ Nguyễn Tường, sau đó viếng nghĩa trang riêng của gia tộc. Đứng trước hàng bia mộ, nơi yên nghỉ của những người thân yêu, cảm giác này thật khó diễn tả! Cảm giác ấy vừa mơ hồ lại vừa cụ thể như phảng phất đâu đây cái kì bí giữa hai cõi âm dương. Sau hai ngày ở Đà Nẵng và Hội An chúng tôi ra Huế. Không khí ở đây có phần mát mẻ và tĩnh lặng hơn. Tôi tiếc là chưa có dịp đi đò trên sông Hương để nghe nhạc cung đình Huế. Đọc tác phẩm “Mưa trên cây sầu đông” của Nhã Ca, tôi định bụng ra Huế lần này sẽ coi thử “cây sầu đông” (còn gọi là “cây xoan”) xem nó ra thế nào, và tại sao người ta hay ví con gái đẹp với khuôn mặt trái soan? Vậy mà Huế đã vào đông rồi mà cây sầu đông tôi vẫn chưa có dịp nhìn thấy. Vì gia đình cháu Tường Anh chỉ có gần hai tuần lễ ở Việt Nam mà chương trình kéo dài từ Nam ra Bắc nên chúng tôi đến nơi nào cũng chỉ “cưỡi ngựa xem hoa” rồi lại vội vã lên đường đi
Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 172)
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội
Tuesday, September 10, 20198:45 PM(View: 101)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn. Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình
Wednesday, September 4, 201911:51 AM(View: 85)
Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất. Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương,
Friday, August 30, 20196:15 PM(View: 161)
thời đi lính ta làm thơ lạng quạng. có, đương nhiên súng đạn máu me. chạm sự thật lẽ nào nói nhảm. tình ý trong lòng khuân hết ra khoe. chuyện đánh đấm không cần hư cấu. thơ tháp tùng theo bước hành quân. thơ cũng dán lung tung nhiều chỗ. những chi chi ẩn nấp trong quần. hương tình ái cùng hơi cuộc chiến. vo tròn nhau thành một món ăn. vật tiêu hóa không qua cửa miệng. mà đi vào máu đỏ tim đen. ta vốn dĩ không vờ cao ngạo. không huênh hoang kiểu bất cần đời. cực-chẳng-đã vài lần văng tục. thói quen bất thần từ một cuộc chơi. không hào sảng lập lờ khí cốt. dựa rượu dựa tình tạo cách nói ngông. thơ để nói và thơ để vẽ. diễn tiến mỗi ngày xâm nhập nội tâm. giết con rắn bắn con bò thượng cấp. chơi nhằm em trụi lủi no hair. sợ són đái đôi lần rút chạy. cũng cùng thơ vai sánh cặp kè. bởi biết ngượng nên không nói dốc. kiểu ngán gì chết hoặc bị thương. ngày ngày ngắm xác banh óc đổ. phi nhân chi cũng khó xem thường. một thằng ngạo nhiều thằng bắt chước