DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,326,318

KHUẤT ĐẨU - Viết Như Kinh Kha Buồn

Tuesday, July 30, 201911:11 AM(View: 1033)
KHUẤT ĐẨU - Viết Như Kinh Kha Buồn

Viết Như Kinh Kha Buồn
 
 
blank
    Nhà văn Lữ Kiều
Cuối năm, ngồi đọc lại những đoạn viết rời của Lữ Kiều, bỗng bàng hoàng nhớ lại một thời khói lửa nhiễu nhương suốt 30 năm. Thời mà anh gọi là lịch sử chọn chúng tôi, chứ chúng tôi không chọn. Hay nói như Nguyễn Gia Thiều, “cái quay búng sẵn trên trời/ mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”. Còn hơn thế nữa, không phải đi mà bị lôi xềnh xệch trong đêm tối đen. Đó là số phận của những người nhỡ sinh ra trong khoảng 40, 50 thế kỷ trước.

Cho nên, cái tựa đề “Chàng nho sinh dưới gốc tùng” cũng chỉ là một cảnh viễn mơ ngậm ngùi mà thôi!
Sự thực thì: “ngày-hai-mươi-tuổi, có-những đêm-chong-đèn-ngồi”. Không phải “chong đèn ngồi nhớ lại”, mà ngồi nhớ tới.

Nhớ nỗi khắc khoải của Trang tử: ta hóa thành bướm hay bướm hóa ra ta? Nhớ một tiếng “được” thều thào của Nguyễn Du trước khi nhắm mắt, như dấu chấm hết cho nỗi đoạn trường. Và nhớ những lúc nghe Beethoven với khúc giao hưởng số 9, ở đó anh đếm được đến những 24 lần cái nét nhạc bừng bừng thất thanh hạt lệ nóng trong cái hành âm cuối-cái choeur ấy-như một âm thanh ma trơi, càng nghe càng rùng mình.

Anh cũng nhớ tới G. Nasser, người đã quyết liệt quốc hữu hóa kênh đào Suez trước sức ép nghẹt thở của Anh, Mỹ để phục sinh một Ai Cập huy hoàng của 6000 năm trước, nhớ tới Che Guevara, nhà cách mạng latinh cực kỳ lãng mạn, đã chết một cái chết đẹp như bài thơ.
Anh còn nhớ tới Hà Thúc Nhơn, một bác sĩ chống tham nhũng giống như chàng Don Kihôtê tự tin một cách ngây thơ, để rồi cuối cùng gục chết thảm thương ở quân y viện Nha Trang.

Và dù đau đớn đến xé lòng, anh vẫn không thể không nhớ tới những người điên nói cười ngô nghê trước cảnh chợ Đông Ba bị đốt cháy hôm mùng hai tết Mậu Thân và cầu Tràng Tiền bị Bắc quân giựt sập để chứng tỏ cho thế giới thấy được sự hiện hữu nghiệt ngã và tàn nhẫn của họ.
Anh cũng không quên những người tù không chịu trở về Bắc ở trại tù Phú Quốc, không phải ở lại để hồi chánh mà để khỏi bị loại khỏi cái bầy đàn gọi là “sinh Bắc tử Nam”.

Cũng không thể không nhớ tới hai cha con một anh địa phương quân hồn nhiên đi bắt cúm núm, cha tóc đen mũi tẹt còn con tóc vàng sợi nhỏ, để rồi cảm phục cái cách anh ta biến nỗi đau của mình thành niềm vui sống...

Và, đương nhiên rất nhớ tới Huế.

Anh gọi Huế là người tình cũ, một người tình có mái tóc dài đà đuột ngát hương, là Hương giang, cài chiếc lược ngà lóng lánh, là cầu Tràng Tiền. Người tình cũ ấy cực kỳ kiêu sa, đài các, nhưng cũng cực kỳ yếu đuối. Nàng đã hai lần bị tổn thương, hai lần bị làm nhục *. Nàng đáng yêu muôn phần, nhưng thật không dễ để cùng nàng đi trọn đường tình.
Anh, cũng như những trai Huế khác, Trịnh Công Sơn, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư ... đều tự nhận mình là người tình phụ. Tôi phụ em một thời bé dại chứ không phải em phụ tôi.

Ngày chàng 20 tuổi, những đêm chong đèn ngồi nhớ, để mà chi?
Thưa để viết!
Hóa ra đây là những ghi chép, những suy tư, những chiêm nghiệm, những thao thức của một người muốn viết như một lần dấn thân.
Nhưng viết như thế nào?
“Viết như Kinh Kha cầm cây chủy thủ, “Viết như Kinh Kha buồn!”

Kinh Kha buồn.
Không phải vì sông Dịch lạnh.
Không phải vì đất Tần lang sói.
Chàng buồn.

Vì phải lên đường cùng với Tần Vũ Dương to xác nhưng hèn yếu. Buồn vì thái tử Đan quá nôn nóng không đợi được Cao Tiệm Ly. Nghĩa là buồn vì cảm thấy việc lớn sẽ không thành. Buồn nhưng không sợ, dù biết rằng “nhất khứ hề bất phục phản“. Ba ngàn tân khách tiễn đưa tóc dựng ngược khi nghe chàng cất tiếng hát. Trong cổ kim chưa có một cuộc lên đường nào bị tráng như thế.
Tần Thuỷ Hoàng chưa biết sợ ai ngoài chàng.

Chàng đã bị băm vằm, nhưng hơn 2000 năm qua chàng vẫn sống. Và chàng vẫn tiếp tục sống đến nhiều ngàn năm sau nữa. Chàng sống không phải vì đã vung con dao chuỷ thủ trước mặt Tần Thuỷ Hoàng. Chàng sống vì đã dám chứng tỏ sự bất khuất. Chàng sống bằng chính cái chết của chàng.

“Viết như Kinh Kha buồn”
“Viết như Kinh Kha cầm chuỷ thủ”.

Nghĩa là, biết chẳng đi tới đâu, biết là thất bại mà vẫn cứ viết. Phải viết. Vì đó là sứ mệnh của những nhà văn ở các nước nhược tiểu, những nước không chỉ có một Tần Thủy Hoàng ngất ngưởng trên ngai vàng đẫm máu, mà còn có rất nhiều bạo chúa ở khắp nơi, nhất là trong lĩnh vực văn chương và nghệ thuật.

Biết là thất bại nên “viết còn là một thú tội”
Vì, đã là nhà văn thì “không có sự thật nào là cấm ky."

Rồi chàng vẽ ra “một nền kiến trúc mới, tinh thần khí thế như tiền nhân những ngày xưa hào hùng... Phải giết con sâu bò trên giấy trắng. Sống hùng dũng và viết như chém đá”... Làm sao đừng ngụy tín. Bởi vì tự hạ giá mình, chúng ta hạ giá văn chương”.

Không nguy tín, không tự hạ giá mình nên ngay từ tuổi 20, anh đã xác tín mình không thể nào và không bao giờ là nhà văn cộng sản.
Anh viết: ”Người cộng sản không tin ở giá trị tự thân cô đơn của nhà văn...” Y là đám đông. Y bị lãnh đạo một cách tự nguyện”
Viết như thế quả thực rất khó. Vậy nên, cho dù những gì anh đã sống, đã hạnh phúc, đã khổ đau, đủ để làm nên một cây chủy thủ, nhưng anh vẫn ngại ngùng chưa viết, dù rằng trong anh vẫn luôn giục giã:

“Kinh Kha thôi đừng bịn rịn, hãy lên đường!”

Thực ra, chẳng phải anh không đủ tự tin để cầm lấy bút như Kinh Kha cầm cây chủy thủ. Anh dùng dắng, đắn đo chỉ vì tự trọng. Cái cốt cách rạng rỡ nhất của một nhà văn chính là lòng tự trọng. Viết hay không viết, còn hơn Hamlet tự hỏi “to be or not to be”.
Bởi vì, viết cho ai? Cho những em bé sơ sinh khi anh đang ở tuổi 20, hay viết cho thế hệ vừa bị cướp mất và vừa tự đánh mất cái “bản lai diện mục” của chính mình.

Viết làm sao, nếu không phải là khúc sinh ca của đồng lúa trỗ thì cũng đừng là bão giông, là hí luận để làm ngu dại cả một dân tộc. Theo anh, “nhà văn đích thực, là nhà văn bị đầy đọa, nhà văn của địa ngục”... Đó là nhà văn bị đóng đinh. Nhà văn bị trừng phạt: viết!

Vì vậy, những đoạn viết rời được bạn bè góp nhặt để in thành sách cách đây 10 năm chỉ được anh khiêm tốn gọi là: Thử Bút. Như thử test trước khi tiêm thuốc. Đó là tính cẩn trọng của một người vừa yêu vẻ đẹp ngất ngây của văn chương mà cũng vừa thấp thỏm ngại ngần trước uy lực phù thủy của ngôn ngữ.

Thử bút, nhưng có nhiều đoạn rất đẹp, gần như hoàn chỉnh. Như viết về Mẹ trong Sen. Viết về Huế trong Người tình cũ. Và, rất cá tính, rất đời trong Quán trên đồi.

blank
    Tranh phác thảo của Thân Trọng Minh
Ngày đầu năm, lên chơi điền trang Thân Trọng, ngôi nhà gỗ cũ kỹ đối với anh, quý nhất vẫn là những bức phác thảo, những bức tranh của Đinh Cường, Lưu Công Nhân, Dương Cẩm Chương. Chỉ vào một bức tranh do chính anh vẽ, anh bảo: “Một bức tranh ai hiểu thế nào cũng được... Nhưng nếu cần giải thích thì cũng có thể. Như bức này. Những mảng màu trắng đục là những trang báo. Con cá thì mắt không bao giờ nhắm. Cây đèn dầu tuy bé nhỏ nhưng vẫn tỏa ra ánh sáng. Tức là, người viết phải luôn tỉnh thức và viết dưới ánh sáng của lương tri”.

Vậy đó! Viết hay vẽ, đối với anh tuy là một hình phạt, một định mệnh, thì vẫn là một dấn thân hết sức nghiêm cẩn. Bởi thế, cho dù con đường anh đi chưa trọn, chỉ một tập truyện ngắn, 7 vở kịch, một tập thơ, đúng là thử viết, thử bước chứ chưa thực sự đi vào đất Tần bất trắc.

Nhưng chẳng phải vì thế mà tôi bớt kính trọng anh. Bởi vì, tuy có ít nhiều hồ đồ, tôi đã thực sự xúc động khi nhìn thấy mình trong Thử Bút những năm anh 20, 30. Ở tuổi đó, tôi cũng có những đêm thao thức: viết cái gì, viết cho ai, viết hay không viết?
Cứ tưởng tuổi tam thập là vừa đủ vốn sống để có thể phóng lên giấy trắng những con chữ chứ không phải những con sâu, thì, hỡi ơi, cả đất trời bỗng dưng sụp đổ.

Tháng 4, 1975 Lữ Kiều bẻ bút!

Đành nghe trong im lặng khúc giao hưởng số 9 ai điếu cho chính mình.

Ở đâu đó, anh viết, tình yêu như là sự chết. Và chết chỉ một lần. Nhưng rồi anh lại bảo, tình yêu cũng có thể phục sinh. Và anh đã làm sống lại chàng Kinh Kha bằng cách cầm cọ vẽ. Những nhát vẽ từ năm 1982 đến nay như chém vào đá. Và những con cá không bao giờ nhắm mắt, dù đã chết. Những con cá vẫn tỉnh thức.

Nhà văn bị bức tử giờ thành họa sĩ. Thì cũng như Trang tử mơ thấy mình hóa bướm. Tuy hai mà một. Có sao đâu!


Khuất Đẩu
(từ: hocxa.com)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, May 23, 20208:25 AM(View: 288)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì. Đã thế, trên trán cũng có một vết sẹo gần giống hình lưỡi liềm, do mảnh đạn M79 nổ gần xớt qua hồi đánh nhau ở Quảng Trị. Thế là Quang được gắn cái biệt danh “bản phủ”. Mà nghe chừng Quang cũng khoái với cái danh xưng ấy. Đến đâu nói chuyện cũng xưng xưng “bản phủ”. Để “bản phủ” quyết cái này, để “bản phủ” quyết cái kia… Cán bộ công nhân viên các cơ quan ban nghành xung quanh thì thấy, kể gọi Quang là “bản phủ” cũng đúng. Vì ngày nào Quang chả thăng đường xét xử. Dân làng Ngọc thì tuy trong bụng không ưa “bản phủ” tí nào, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra nể nang. Điều này có nguyên nhân rất sâu xa.
Wednesday, May 20, 20208:27 AM(View: 391)
Có tin đồn ông Thiệu muốn tẩu tán toàn thể số vàng dự trữ của quốc gia. Chuyến bay bị hủy bỏ, nghe đâu tới 16 tấn vàng, không lấy ra khỏi ngân hàng được, vì bị phó thủ tướng đặc trách kinh tế Nguyễn Văn Hảo chặn lại. E rằng lời hứa của ông Thiệu: “Tôi từ chức thì quân đội có thêm một người nữa” lại cũng cuội mà thôi. Bà Thiệu đã tẩu tán được bao nhiêu đồ cổ rồi, bây giờ ông Thiệu muốn gom một mớ nữa. Cú này ông chơi trội, ông mang vàng của cả nước đi, ông bán máu suốt tám năm làm Tổng thống, bà Thiệu lại phúc hậu, đâu có biết buôn bán như bà Khiêm. Ông bận làm Tổng thống, giao cái vụ vàng trắng, vàng đen cho tướng Quang, giao vụ gạo, thuốc trụ sinh cho tướng Nghi, bà Thiệu thì chỉ được các anh Tỉnh trưởng đàn em, biếu cái gì cầm cái ấy, đâu có kế hoạch như bà Khiêm, đâu có giang sơn một cõi như bà Viên. Ông bán máu xương, vàng đen, vàng trắng vất vả mãi mới có số vàng gửi trong ngân khố, đó là tài sản của công ty “danh tướng Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang”, bây giờ ông mang đi.
Monday, May 18, 20201:52 PM(View: 369)
Trong ít hôm vừa qua, cộng đồng mạng người Việt huyên náo hơn mức bình thường. Một YouTube được đưa ra, trong đó người thực hiện và trình bày đánh giá Chu Văn An, một nhà giáo dục được tôn kính từ thế kỷ 14 là “rất tệ,” là “tối,” rồi đưa tới một lời miệt thị rất nặng, “thằng cha đó là một thằng cà chớn.” Phản ứng lập tức đến từ rất nhiều phía, bộc lộ một niềm phẫn nộ tới cùng độ. Trong những phản đối ấy có một vài quá đáng, tuy lăng mạ mạnh mẽ nhưng chưa vạch được rõ người đưa ra lời phê phán đã sai ở những điểm nào. Giữa hàng trăm, hàng ngàn lời buộc tội, người viết những dòng này đọc được một lời bênh. Nhưng người bênh có một điểm sai, tưởng Chu Văn An làm đến chức Tể tướng và có quyền rất lớn trong triều Trần. Để đạt được một nhận định vô tư và khách quan, bài này xin được duyệt lại sử sách Việt Nam các đời trước, xem tiền nhân đã chép về Chu Văn An ra sao, cùng tìm hiểu thêm xem trong thời của ông (qua bốn triều vua Trần Minh tông, Hiến tông, Dụ tông, Nghệ tông), Chu Văn An đã
Sunday, May 17, 20209:12 AM(View: 370)
Lời của ông Thiệu mỗi lúc mỗi làm buốt giá đầu óc. Phải, chúng tôi đâu có thiếu máu xương, chúng tôi có nhiều máu xương nữa là khác, và ông Thiệu chẳng bao giờ tiếc món hàng rẻ mạt này. Ông Thiệu, ông Kỳ, ông Khiêm, ông Viên và nhiều “danh tướng” nữa, đã đem máu của người miền Nam rải đầy trên đồi núi, trên ruộng đồng, trên sông rạch. Máu mà tiết kiệm làm gì? Phải bắn cho hết đạn đại bác 105 ly để bà Khiêm có vỏ đạn bằng đồng bán cho Nhật Bản, phải giữ cho được những lăng tẩm cũ của miền Nam, để cho bà Thiệu thu thập được các đồ cổ của tiền nhân, máu phải đổ ra chan hòa cho xứng tài danh tướng vừa có văn vừa có võ của ông Viên, ông ở trên chóp của cái thang quân đội, ông đứng giữa những tranh chấp chính trị, ông Viên là người thanh liêm, nhưng bà Viên thì sao? Bà có đỡ đầu cho đàn em cật ruột của bà không? Có đứa nào thậm thụt cửa sau tư dinh không? Do đó máu thì chúng tôi không thiếu. Hỡi những “danh tướng” của miền Nam, các ông Thiệu, Khiêm, Kỳ, Viên, Quang, Toàn… và nhiều danh tướng
Saturday, May 16, 20208:00 AM(View: 325)
Giết người vứt xác xuống biển. Trước khi tàu cập bến, Hải quân Mỹ đã liên lạc về đây nên khi xuống tàu, mọi người đều bị khám xét, có một số nạn nhân chịu nhận diện thủ phạm. Hai người bị tố cáo không biết có giết người không, có hiếp dâm không, nhưng trong ba lô họ có cả mấy trăm lượng vàng. – Thế thì xử tử là phải. Nhưng quá trễ. Nước mình trong thời chiến hai mươi năm, tôi thấy tòa án quân sự 95% chỉ xử tội đào ngũ, biển thủ, v.v. Dường như tòa quân sự mặt trận mới mở có vài lần. Một lần xử tử mấy anh Thượng Fulro, một lần xử tướng Vũ Văn Giai cái hồi 72, xử huề. Đáng lẽ mình phải xử tử vài anh tướng, cho về hưu độ hai mươi, ba mươi anh tướng khác, cách chức một số đại tá. Nếu năm năm trước mình đã làm như vậy thì hôm nay chưa chắc đã như thế này. – Ông có muốn đi coi không? – Không, tôi nản cái vụ đó lắm. Ngày mai có máy bay không Thiếu tá? – Không. Chiều nay có một chuyến nhưng chắc là không kịp. Ba ngày nữa mới có chuyến khác.