DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,216,783

Vũ Tuấn - Từ Ngữ Tiếng Việt

Tuesday, August 27, 20197:55 AM(View: 578)
Vũ Tuấn - Từ Ngữ Tiếng Việt
Từ Ngữ Tiếng Việt

blank


I/ Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. 
Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.
Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?

‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.

Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’..
Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?
‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.
 
‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa. 

Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?
‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này []. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.

Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.
Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?
Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.
Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.

Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?
‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên,  ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.
‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tát’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.
Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,… 
Riêng từ ‘to tát’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.
Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘’ có nghĩa gì không?
‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.
 
Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ () chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao). 

Truyện Kiều có câu: ‘Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’. Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

Bếp núc

– Bếp là nơi nấu ăn;
– Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)
Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa.
– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
– Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm. 
 
Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa
– Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
– Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.

Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.
II/

THẮC MẮC: Từ ghép, trong đó:
– Thắc, chữ Nôm viết , nghĩa là lo lắng, bồn chồn.
- Mắc, chữ Nôm viết , nghĩa là điều khó hiểu, sự còn chưa thông.
‘Thắc mắc’ tựu trung lại có nghĩa là bồn chồn, không thoải mái về điều gì đó mình chưa rõ ràng và muốn tìm hiểu cho tường gốc ngọn.
NHIỄU NHƯƠNG: Từ ghép gốc Hán, chữ Hán viết 擾攘, giản thể viết 扰攘, đọc là /rǎorǎng/, trong đó:
– Nhiễu nghĩa là làm phiền, quấy rầy, làm loạn, chính vì vậy mà chúng ta thường hay nói ‘phiền nhiễu’;
– Nhương, chữ này có ba âm – nhương, nhưỡng và nhượng. Trong từ 擾攘 thì  đọc đúng phải là ‘nhưỡng’ (nhưng mọi người thường quen đọc là nhương), có nghĩa là rối loạn.
‘Nhiễu nhương’ là từ ghép nghĩa là hỗn loạn, xáo trộn, quấy rối. 
BÁN CHÁC: trong một từ điển giảng ‘bán chác’ là khẩu ngữ chỉ việc bán hàng hoá nói chung và có ngụ ý coi thường, xem nhẹ.. 
Cách giảng này cũng đúng với cách dùng của nhiều người. Tuy nhiên, thực chất ‘bán chác’ không chỉ có nghĩa là ‘bán’. Cụ thể:
– Bán là đổi vật mà lấy tiền (có thể lấy thứ khác tùy thỏa thuận);
– Chác là mua, chịu lấy, đa mang.
‘Bán chác’ thật ra là hoạt động mua bán nói chung. Và chữ ‘Chác’ cũng có nghĩa chứ không chỉ là tiếng đôi đi kèm với ‘bán’ để chỉ chuyện bán hàng hóa gì đó chung chung. Ngoài ‘bán chác’, ta còn thấy ‘chác’ đi với các từ khác như ‘đổi chác’, ‘kiếm chác’.
TẢO TẦN: từ ghép, chữ Hán viết là 藻蘋, giản thể viết 藻苹, phiên âm là /zǎopín/, trong đó:
– Tảo là một loại cỏ nước, cũng kêu là rong hay rau tảo;
– Tần cũng là một loại cỏ nước, còn kêu là rau tần.
Người xưa dùng rau tảo rau tần để hiến tế, để cúng gia tiên. Ngoài ‘tảo tần’ ta còn dùng là ‘tần tảo’. Từ này dần dần dùng để chỉ đức hy sinh của người phụ nữ, vì việc kiếm rau tảo rau tần thường do phụ nữ làm.
PHIỀN PHỨC: từ ghép, chữ Hán viết là 煩複 phiên âm là /fánfù/, trong đó:
– Phiền là rườm rà, lôi thôi, rắc rối;
– Phức là nhiều tầng, nhiều lớp, phàm sự việc, sự vật gì nhiều lần chồng chất thì gọi là phức, áo nhiều lớp (áo kép) cũng gọi là phức.
‘Phiền phức’ là việc gì rắc rối lôi thôi, nhiều tầng nhiều lớp, không đơn giản, không gọn gàng dứt khoát.
DẠT DÀO :từ ghép chữ Nôm. Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng:
– Dạt là dan ra (dàn ra), để nới ra, không cho giụm lại (tức không cho chụm lại, túm tụm lại);
– Dào là đổ xuống như nước mưa. 
Theo Đại Nam Quốc âm tự vị thì ‘mưa dào’ nghĩa là mưa xuống nhiều. Huỳnh
Tịnh Của chú chữ ‘dạt’ chữ Nôm viết là 𢩮, cách viết này thống nhất với từ điển Hán Nôm.
Tuy nhiên, chữ ‘dào’ Huỳnh Tịnh Của chọn chữ 𩆍. Cái chữ 𩆍 này trong từ điển viện Hán Nôm ghi là ‘rào’. Còn chữ ‘dào’ trong ‘dạt dào’ thì từ điển này có mấy cách viết khác nữa. 
Có lẽ ‘dào’ và ‘rào’ là hai hình thức liên quan nhau, như cũng có người nói ‘dạt dào’ là ‘rạt rào’. Và chữ ‘dào’ này cũng là chữ ‘dào’ trong ‘dồi dào’..
VE VÃN : từ ghép, trong đó:
– Ve là trêu chọc;
– Vãn là lôi kéo.
Trêu chọc, ghẹo chọc, thường xuyên tới lui hòng lôi kéo sự chú ý khiến cho con gái người ta xiêu lòng thì gọi là ‘ve vãn’.
Người Việt hay dùng ‘lời ong tiếng ve’ (hoặc ‘điều ong tiếng ve’) khi muốn chê bai người hay thêu dệt bịa chuyện, hoặc để chỉ việc con trai buông lời tán tỉnh con gái.


Vũ Tuấn
 
(sưu tầm)
(từ: email)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, February 19, 20208:21 PM(View: 63)
Tuệ Sỹ ngồi đó, chiếc bóng sậy gầy. Sững như một ngọn gió. Đôi mắt tròn to, long lanh. Mãi long lanh với miệng cười. Như Niêm Hoa Vi Tiết. Bỗng ông bật dậy đi rót cốc nước lọc cho tôi, cho ông. Tôi im lặng dõi theo dáng nguòi nhỏ bé di động, lắng nghe tiếng vạt áo lam phất phất trong căn phòng nhỏ một buổi chiều. Rồi chắp tay cung kỉnh, thưa Thầy khoẻ không? Miệng cười nở rộ hơn, ánh mắt tinh nghịch hơn, Tuệ Sỹ đáp như reo, anh thấy tôi khỏe không hè? Tôi cười nheo mắt, Thầy khoẻ con mừng. Trông ông khỏe hơn mấy năm trước thật, lúc mới ra tù được đúng một tháng. Ngày ấy đầu ông như đóng trốc, da bọc sát sọ, mường tượng như Thế thân Thiền sư Vũ Khắc Minh, không ngồi kiết già nhập đại định ở chùa Đậu nữa, mà đi lại, mà nói cười, nhập vào cơn huyễn mộng. Nay da đầu đã nhuận thắm, những vết chốc ghẻ biến mất, nhưng cái ót sọ ông vẫn nhô ra quá khổ với thân mình. Quá khổ đối với thế tục. Chắc nó phải cứng, khiến bạo quyền lui lại. Tuệ Sỹ luôn cười, bằng “đôi mắt ướt tuổi vàng cung
Sunday, February 16, 20207:21 AM(View: 124)
Hồ Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ. Nhưng Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu... mới nghe tưởng là tôn vinh, thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái. Tên thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt. Hồ Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này "phải là" con cháu Hồ Biểu Chánh. Hồ Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải),
Wednesday, February 12, 20209:06 PM(View: 311)
Ngày 31 tháng 1, năm 2020 Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh của Báo Người Việt phổ biến một thông báo với nội dung: Thông báo gửi toàn thể nhân viên NV. Xin thông báo cùng các bạn, kể từ ngày Jan 15, 2020, ông Đinh Quang Anh-Thái. và kể từ ngày Jan 24, 2020, ông Đỗ Quý Toàn, hai ông sẽ không còn làm việc với công ty NV dưới bất cứ mọi hình thức nào khác! Như thế là thế nào? Dẫu không phải là nhân viên hoặc cộng tác viên của NV, nhưng do một cơ duyên đã cho bản thân cá nhân dịp tìm hiểu, giao tiếp với người sáng lập Người Việt, Đỗ Ngọc Yến từ những năm 50, 60 qua các hoạt động Báo Ngàn Khơi (1957), Trại Hướng Đạo Trãng Bom (1958); mối giao tiếp càng chặt chẽ hơn trong thập niên 70 khi cộng tác với Đỗ Ngọc Yến qua Báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc ở Sài Gòn. Sau hơn nửa thế kỷ quen thân từ Đỗ Ngọc Yến, bản thân dần biết thêm Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và hiểu ra giữa họ có một Giây Liên Lạc – Mối Ân Tình Huynh Đệ Rất Chặt Chẽ. Vậy tại sao có lần đỗ vỡ quá đổi bất ngờ và ngạc nhiên như vậy đã
Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 98)
Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch… Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp. Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào. Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được? Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi: - Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô
Monday, February 3, 20208:06 PM(View: 146)
Sau này nghĩ đến chị Ngát làm tôi nhớ đến cả miền Bắc mà tôi đã xa nó từ năm 1952. Cái tên của chị quả hăm mốt năm ở miền Nam tôi rất ít hoặc không hề nghe, nó như một cái tên đặc trưng của gái miền Bắc. Khi tản cư qua Điền Hộ mùa hè năm ấy, tôi mới tám chín tuổi. Dọc đường, nhiều khi gia đình còn phải thuê người gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu. Những dòng sông, con đê, những thửa ruộng nứt nẻ, những đứa trẻ cỡ tôi vỏn vẹn với cái quần đùi, chăn trâu trên những cánh đồng cỏ cháy, những mẹ già mặc váy đụp lúp xúp quang gánh đi bên đường, những chiếc xe đò chạy bằng lò than chết máy dọc đường đang được đám lơ tài quay cho máy tái nổ, những ngôi nhà vách rơm trộn bùn, những thánh đường lỗ chỗ dấu đạn… Điền Hộ cuối thời chống Pháp, sang thời Việt Minh kiểm soát trong mắt tôi là như thế. Những sản phẩm từ mạn ngược, xứ Thanh của tôi, từ những chum vại Lò Chum cho đến nước mắm Kẻ Bạng Ba Làng, qua cửa Thần Phù, đem vào đây để phân phối đi xuống phương Nam gần như vắng bóng. Hơn một