DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,216,776

Vũ Tuấn - Từ Ngữ Tiếng Việt

Tuesday, August 27, 20197:55 AM(View: 576)
Vũ Tuấn - Từ Ngữ Tiếng Việt
Từ Ngữ Tiếng Việt

blank


I/ Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. 
Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.
Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?

‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.

Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’..
Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?
‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.
 
‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa. 

Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?
‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này []. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.

Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.
Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?
Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.
Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.

Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?
‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên,  ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.
‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tát’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.
Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,… 
Riêng từ ‘to tát’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.
Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘’ có nghĩa gì không?
‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.
 
Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ () chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao). 

Truyện Kiều có câu: ‘Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’. Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

Bếp núc

– Bếp là nơi nấu ăn;
– Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)
Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa.
– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
– Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm. 
 
Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa
– Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
– Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.

Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.
II/

THẮC MẮC: Từ ghép, trong đó:
– Thắc, chữ Nôm viết , nghĩa là lo lắng, bồn chồn.
- Mắc, chữ Nôm viết , nghĩa là điều khó hiểu, sự còn chưa thông.
‘Thắc mắc’ tựu trung lại có nghĩa là bồn chồn, không thoải mái về điều gì đó mình chưa rõ ràng và muốn tìm hiểu cho tường gốc ngọn.
NHIỄU NHƯƠNG: Từ ghép gốc Hán, chữ Hán viết 擾攘, giản thể viết 扰攘, đọc là /rǎorǎng/, trong đó:
– Nhiễu nghĩa là làm phiền, quấy rầy, làm loạn, chính vì vậy mà chúng ta thường hay nói ‘phiền nhiễu’;
– Nhương, chữ này có ba âm – nhương, nhưỡng và nhượng. Trong từ 擾攘 thì  đọc đúng phải là ‘nhưỡng’ (nhưng mọi người thường quen đọc là nhương), có nghĩa là rối loạn.
‘Nhiễu nhương’ là từ ghép nghĩa là hỗn loạn, xáo trộn, quấy rối. 
BÁN CHÁC: trong một từ điển giảng ‘bán chác’ là khẩu ngữ chỉ việc bán hàng hoá nói chung và có ngụ ý coi thường, xem nhẹ.. 
Cách giảng này cũng đúng với cách dùng của nhiều người. Tuy nhiên, thực chất ‘bán chác’ không chỉ có nghĩa là ‘bán’. Cụ thể:
– Bán là đổi vật mà lấy tiền (có thể lấy thứ khác tùy thỏa thuận);
– Chác là mua, chịu lấy, đa mang.
‘Bán chác’ thật ra là hoạt động mua bán nói chung. Và chữ ‘Chác’ cũng có nghĩa chứ không chỉ là tiếng đôi đi kèm với ‘bán’ để chỉ chuyện bán hàng hóa gì đó chung chung. Ngoài ‘bán chác’, ta còn thấy ‘chác’ đi với các từ khác như ‘đổi chác’, ‘kiếm chác’.
TẢO TẦN: từ ghép, chữ Hán viết là 藻蘋, giản thể viết 藻苹, phiên âm là /zǎopín/, trong đó:
– Tảo là một loại cỏ nước, cũng kêu là rong hay rau tảo;
– Tần cũng là một loại cỏ nước, còn kêu là rau tần.
Người xưa dùng rau tảo rau tần để hiến tế, để cúng gia tiên. Ngoài ‘tảo tần’ ta còn dùng là ‘tần tảo’. Từ này dần dần dùng để chỉ đức hy sinh của người phụ nữ, vì việc kiếm rau tảo rau tần thường do phụ nữ làm.
PHIỀN PHỨC: từ ghép, chữ Hán viết là 煩複 phiên âm là /fánfù/, trong đó:
– Phiền là rườm rà, lôi thôi, rắc rối;
– Phức là nhiều tầng, nhiều lớp, phàm sự việc, sự vật gì nhiều lần chồng chất thì gọi là phức, áo nhiều lớp (áo kép) cũng gọi là phức.
‘Phiền phức’ là việc gì rắc rối lôi thôi, nhiều tầng nhiều lớp, không đơn giản, không gọn gàng dứt khoát.
DẠT DÀO :từ ghép chữ Nôm. Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng:
– Dạt là dan ra (dàn ra), để nới ra, không cho giụm lại (tức không cho chụm lại, túm tụm lại);
– Dào là đổ xuống như nước mưa. 
Theo Đại Nam Quốc âm tự vị thì ‘mưa dào’ nghĩa là mưa xuống nhiều. Huỳnh
Tịnh Của chú chữ ‘dạt’ chữ Nôm viết là 𢩮, cách viết này thống nhất với từ điển Hán Nôm.
Tuy nhiên, chữ ‘dào’ Huỳnh Tịnh Của chọn chữ 𩆍. Cái chữ 𩆍 này trong từ điển viện Hán Nôm ghi là ‘rào’. Còn chữ ‘dào’ trong ‘dạt dào’ thì từ điển này có mấy cách viết khác nữa. 
Có lẽ ‘dào’ và ‘rào’ là hai hình thức liên quan nhau, như cũng có người nói ‘dạt dào’ là ‘rạt rào’. Và chữ ‘dào’ này cũng là chữ ‘dào’ trong ‘dồi dào’..
VE VÃN : từ ghép, trong đó:
– Ve là trêu chọc;
– Vãn là lôi kéo.
Trêu chọc, ghẹo chọc, thường xuyên tới lui hòng lôi kéo sự chú ý khiến cho con gái người ta xiêu lòng thì gọi là ‘ve vãn’.
Người Việt hay dùng ‘lời ong tiếng ve’ (hoặc ‘điều ong tiếng ve’) khi muốn chê bai người hay thêu dệt bịa chuyện, hoặc để chỉ việc con trai buông lời tán tỉnh con gái.


Vũ Tuấn
 
(sưu tầm)
(từ: email)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, December 26, 20198:40 AM(View: 311)
Thiếu phụ mở to mắt, long lanh. Những đôi mắt trẻ trai sáng rực trong đêm quây quanh giường từ lúc nào. Khẩn thiết. Đợi chờ. Van xin. Thiếu phụ hiểu họ muốn gì. Nàng ra hiệu cho họ về chỗ nằm. Nhẹ nhàng ngồi dậy. Chèn thêm chăn cho hai con. Tuột hẳn chiếc áo xuống giường. Phần thân trên và bộ ngực to căng tràn trắng lóa tỏa ra một thứ ánh sáng mơ màng thần bí trong đêm. Nàng luồn xuống, thả mình vào giữa những người trẻ trai đang khao khát cực điểm. Những tiếng rên rỉ sung sướng cất lên át cả tiếng côn trùng ăn đêm. Tiếng hơi thở dồn dập nóng bỏng nồng nàn. Những thanh âm đứt quãng xôn xao. “Mẹ em đây...” “Chị em đây...” “ Người yêu em đây...” “ Bạn gái em đây....” “ Của em đây...”. Hối hả. Gấp gáp. Nóng rực. Cả gian quán nồng nàn hương đàn bà, hương trai trẻ thanh tân, hương sữa mẹ... Ba thứ hương ấy hòa trộn với nhau thành một mùi hương thơm lạ lùng đê mê trong đêm. Nó như một thứ hương thơm thần thoại trong cổ tích làm cho con người ta mê mụ. Nó khiến con người ta làm những
Monday, December 23, 20198:51 PM(View: 619)
Ông quận truởng Đặng thắp hương truớc quan tài ông Ngọ và có lời thảm thiết: - Chúng tôi rất lấy làm buồn khi đuợc tin ông Phạm Ngọ, một chiến sĩ quốc gia chân chính đã bị cộng sản âm mưu sát hại. Chúng tôi cố gắng hết sức để trả mối thù này cho gia đình nạn nhân. Truớc hết, tôi sẽ can thiệp để các con ông Ngọ được huởng quy chế Quốc Gia Nghĩa Tử, mong đem lại một chút an ủi cho gia đình. Chúng tôi cầu nguyện linh hồn ông Ngọ đuợc siêu thăng tịnh độ và mong gia đình bớt buồn đau. Những tiếng thở dài rất nhẹ của những nguời đi tham dự. Đám tang đuợc diễn ra sau đó với thật đông đồng bào từ các thôn, ấp xa, nghe tin ông mất, đã tới thăm viếng và đưa tiễn. Ba phát súng của dân vệ bắn lên trời để đưa ông khi quan tài hạ huyệt. Bà Ngọ và những đứa con lăn lộn khóc. Trong đám đông có tiếng nói rỉ tai nhau: - Việt cộng ở đâu mà giết ông Ngọ, chỉ bọn công an chìm lập mưu ám hại ổng thôi. Ông không cho xây nhà thờ ở xã nên họ muốn triệt hạ ổng. Tội nghiệp một con người cương trực.
Saturday, December 21, 20196:48 PM(View: 360)
Đang làm việc tại một cơ sở thuộc nhà sách Hachette, tôi đành bỏ ngang để làm nhà hàng với ông xã ở phố quận 13, Paris. Nghĩ rằng mở một cái tiệm ăn nhỏ tự đứng ra cai quản, coi bộ khỏe hơn đi làm nhân viên dưới quyền điều khiển của sếp đầm khó chịu . Chọn cái tên cho tiệm ăn giống như tìm đặt tên cho đứa con của mình. Chợt nhớ quê nhà quê mình có một biệt phủ xưa tên gọi An Hiên. Hiên là mái nhà, an là bình an. Ai mà chẳng mong có một mái nhà an bình để sống. Tôi không phải là người giỏi giang chi về bếp núc. Ở Việt Nam lúc đi học thì lo học chứ đâu để ý chi chuyện làm bếp. Khi lấy chồng thì có chị giúp việc nấu nướng ngon lành. Việc chi mà phải nhọc tay chân. Qua đây liều mình mở hàng ăn , quả thật mình có lá gan to của con ngỗng béo. Ở xứ sở này, nghề bếp núc nấu nướng lại là nghề có giá trị. Tìm được một người bếp giỏi không phải là chuyện dễ dàng. Tôi phải biến thành nhà bếp, bếp chính. Như thế mình không phải phụ thuộc vào bất cứ bếp chính nào. Chủ nhà hàng sợ nhất là khi
Tuesday, December 17, 201910:42 AM(View: 316)
Thi sĩ thức dậy trong cái lán tre nằm trong trại K2, vùng Vĩnh Phú, nhìn mặt trời mới lên êm dịu như một vầng trăng ửng hồng trong cơn gió núi rộn ràng. Bỗng nghe tiếng sóng biển từ muôn xa gọi dậy trong lòng. Chợt nhớ mùa xuân đang cất tiếng vang vang. Mặt trời hồng mở cõi tâm linh thăm thẳm, cất cánh lên chạm cõi không cùng. Trong khoảnh khắc trái tim thi sĩ đập cùng một nhịp với cả quê hương. Vượt ra ngoài căn phòng giam hãm, thấy chung số phận của bao nhiêu đồng bào ngoài kia cùng chia nhau mảnh đất quê hương nghèo khổ. Người đọc câu thơ có thể bay lên cao hơn, vượt thời gian sống lại bao thế hệ tổ tiên đã từng đứng vững không khuỵu chân trên mảnh đất nghèo khổ này, trong mấy ngàn năm. Những đôi chân cứng cáp đó giữ cho dân tộc Việt còn sống được tới bây giờ. Cũng trên mảnh đất nghèo khổ này tổ tiên chúng ta đứng vững không khuỵu chân suốt một ngàn năm Bắc thuộc. Ghìm vững đôi chân gầy yếu, không cong lưng cúi đầu làm thân nô lệ; không xóa bỏ ông cha để đi theo một giống
Saturday, December 14, 20196:34 PM(View: 194)
Miền Nam trước đây gọi nhạc vàng là tân nhạc để phân biệt với cổ nhạc. Sau chiến tranh, bên thắng cuộc mở “mặt trận” tấn công vào nền văn hóa miền Nam, cả tân nhạc lẫn cổ nhạc đều bị nghiêm cấm và bị hủy diệt. Tân nhạc bị gán ghép là nhạc tâm lý chiến, nhạc phản động, nhạc xuyên tạc đường lối chống phá cách mạng, hay bị xem là thứ nhạc sến, nhạc đồi trụy, nhạc ru ngủ, nhạc lãng mạn bi quan, nhạc vàng vọt. Từ ngữ nhạc vàng xuất phát từ miền Bắc đã nhanh chóng được người miền Nam chấp nhận để phân biệt với nhạc đỏ là loại nhạc cộng sản. Trong tâm tư người miền Nam màu vàng là màu da, màu dân tộc, màu mai vàng phương Nam, màu tươi trẻ, màu của kim loại quý hiếm vào bậc nhất. Bởi thế cờ vàng và nhạc vàng nhanh chóng được xem là báu vật của Việt Nam Cộng Hòa. Vì yêu nhạc vàng… Khi đất nước chia đôi cách mạng văn hóa được phát động tại miền Bắc nhạc vàng bị nghiêm ngặt cấm đoán. Nhạc đỏ với âm điệu Trung Hoa nhanh chóng thống trị nền âm nhạc miền Bắc, nhưng vẫn còn nhiều người yêu