DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,163,480

Vũ Tuấn - Từ Ngữ Tiếng Việt

Tuesday, August 27, 20197:55 AM(View: 424)
Vũ Tuấn - Từ Ngữ Tiếng Việt
Từ Ngữ Tiếng Việt

blank


I/ Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. 
Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.
Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?

‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.

Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’..
Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?
‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.
 
‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa. 

Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?
‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này []. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.

Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.
Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?
Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.
Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.

Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?
‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên,  ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.
‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tát’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.
Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,… 
Riêng từ ‘to tát’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.
Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘’ có nghĩa gì không?
‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.
 
Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ () chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao). 

Truyện Kiều có câu: ‘Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’. Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

Bếp núc

– Bếp là nơi nấu ăn;
– Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)
Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa.
– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
– Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm. 
 
Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa
– Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
– Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.

Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.
II/

THẮC MẮC: Từ ghép, trong đó:
– Thắc, chữ Nôm viết , nghĩa là lo lắng, bồn chồn.
- Mắc, chữ Nôm viết , nghĩa là điều khó hiểu, sự còn chưa thông.
‘Thắc mắc’ tựu trung lại có nghĩa là bồn chồn, không thoải mái về điều gì đó mình chưa rõ ràng và muốn tìm hiểu cho tường gốc ngọn.
NHIỄU NHƯƠNG: Từ ghép gốc Hán, chữ Hán viết 擾攘, giản thể viết 扰攘, đọc là /rǎorǎng/, trong đó:
– Nhiễu nghĩa là làm phiền, quấy rầy, làm loạn, chính vì vậy mà chúng ta thường hay nói ‘phiền nhiễu’;
– Nhương, chữ này có ba âm – nhương, nhưỡng và nhượng. Trong từ 擾攘 thì  đọc đúng phải là ‘nhưỡng’ (nhưng mọi người thường quen đọc là nhương), có nghĩa là rối loạn.
‘Nhiễu nhương’ là từ ghép nghĩa là hỗn loạn, xáo trộn, quấy rối. 
BÁN CHÁC: trong một từ điển giảng ‘bán chác’ là khẩu ngữ chỉ việc bán hàng hoá nói chung và có ngụ ý coi thường, xem nhẹ.. 
Cách giảng này cũng đúng với cách dùng của nhiều người. Tuy nhiên, thực chất ‘bán chác’ không chỉ có nghĩa là ‘bán’. Cụ thể:
– Bán là đổi vật mà lấy tiền (có thể lấy thứ khác tùy thỏa thuận);
– Chác là mua, chịu lấy, đa mang.
‘Bán chác’ thật ra là hoạt động mua bán nói chung. Và chữ ‘Chác’ cũng có nghĩa chứ không chỉ là tiếng đôi đi kèm với ‘bán’ để chỉ chuyện bán hàng hóa gì đó chung chung. Ngoài ‘bán chác’, ta còn thấy ‘chác’ đi với các từ khác như ‘đổi chác’, ‘kiếm chác’.
TẢO TẦN: từ ghép, chữ Hán viết là 藻蘋, giản thể viết 藻苹, phiên âm là /zǎopín/, trong đó:
– Tảo là một loại cỏ nước, cũng kêu là rong hay rau tảo;
– Tần cũng là một loại cỏ nước, còn kêu là rau tần.
Người xưa dùng rau tảo rau tần để hiến tế, để cúng gia tiên. Ngoài ‘tảo tần’ ta còn dùng là ‘tần tảo’. Từ này dần dần dùng để chỉ đức hy sinh của người phụ nữ, vì việc kiếm rau tảo rau tần thường do phụ nữ làm.
PHIỀN PHỨC: từ ghép, chữ Hán viết là 煩複 phiên âm là /fánfù/, trong đó:
– Phiền là rườm rà, lôi thôi, rắc rối;
– Phức là nhiều tầng, nhiều lớp, phàm sự việc, sự vật gì nhiều lần chồng chất thì gọi là phức, áo nhiều lớp (áo kép) cũng gọi là phức.
‘Phiền phức’ là việc gì rắc rối lôi thôi, nhiều tầng nhiều lớp, không đơn giản, không gọn gàng dứt khoát.
DẠT DÀO :từ ghép chữ Nôm. Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng:
– Dạt là dan ra (dàn ra), để nới ra, không cho giụm lại (tức không cho chụm lại, túm tụm lại);
– Dào là đổ xuống như nước mưa. 
Theo Đại Nam Quốc âm tự vị thì ‘mưa dào’ nghĩa là mưa xuống nhiều. Huỳnh
Tịnh Của chú chữ ‘dạt’ chữ Nôm viết là 𢩮, cách viết này thống nhất với từ điển Hán Nôm.
Tuy nhiên, chữ ‘dào’ Huỳnh Tịnh Của chọn chữ 𩆍. Cái chữ 𩆍 này trong từ điển viện Hán Nôm ghi là ‘rào’. Còn chữ ‘dào’ trong ‘dạt dào’ thì từ điển này có mấy cách viết khác nữa. 
Có lẽ ‘dào’ và ‘rào’ là hai hình thức liên quan nhau, như cũng có người nói ‘dạt dào’ là ‘rạt rào’. Và chữ ‘dào’ này cũng là chữ ‘dào’ trong ‘dồi dào’..
VE VÃN : từ ghép, trong đó:
– Ve là trêu chọc;
– Vãn là lôi kéo.
Trêu chọc, ghẹo chọc, thường xuyên tới lui hòng lôi kéo sự chú ý khiến cho con gái người ta xiêu lòng thì gọi là ‘ve vãn’.
Người Việt hay dùng ‘lời ong tiếng ve’ (hoặc ‘điều ong tiếng ve’) khi muốn chê bai người hay thêu dệt bịa chuyện, hoặc để chỉ việc con trai buông lời tán tỉnh con gái.


Vũ Tuấn
 
(sưu tầm)
(từ: email)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, December 7, 201911:28 AM(View: 60)
Trong di chúc chính trị ngày 7-7-1963 của ông Nhất Linh, có một câu 28 chữ mô tả và đánh giá đầy đủ một trong những chính sách độc tài của chế độ Ngô Đình Diệm: “… Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản …”. Thật vậy, vì thừa kế bản chất phong kiến quan lại của dòng họ Ngô Đình và vì tâm địa cuồng tín của một con chiên Thiên Chúa giáo, ông Diệm và các anh em ông ta không bao giờ thừa nhận ai khác mình, lại càng không chấp nhận ai chống lại mình. Do đó mà trong chính trị, nhất là chính trị quyền bính, gia đình họ Ngô không chấp nhận đối lập và không ngần ngại “bắt bớ và xử tội” đối lập. Nhưng độc ác hơn cả là đã thủ tiêu những người khác chính kiến dù họ là những chiến sĩ quốc gia đã từng là những ân nhân, đồng chí, bạn bè của anh em ông Diệm. Ngoài hung thần miền Trung là Ngô Đình Cẩn đã sát hại các đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng, các nhà thầu ở Huế trong vụ án “Gián điệp miền Trung”, … ở trong Nam, Ngô Đình Nhu
Wednesday, December 4, 20196:54 PM(View: 60)
Hà Nội có tháp nước tròn to cao lừng lững hơn trăm năm tuổi, tọa lạc ở ngã năm các con phố Hàng Đậu – Hàng Than – Hàng Giấy – Quán Thánh – Phan Đình Phùng. Từ lâu nó không còn hoạt động, trở thành hiện vật bảo tàng ngoài trời về kiến trúc đô thị của Pháp ở xứ thuộc địa Đông Dương cuối thế kỷ 19. Trong ký ức của tôi, vào khoảng những năm 70-80 thế kỷ trước, đó còn là nơi tụ tập vào buổi sáng mỗi ngày của một đám bụi đời do Tâm sứt làm đại ca chỉ huy. Địa điểm tập trung là chân tháp nước tròn, trên vỉa hè nhìn ra vườn hoa Vạn Xuân còn gọi nôm na là vườn hoa Hàng Đậu. Hành nghề của đám bụi đời này chia hai nhóm: gánh nước thuê và móc túi trên tàu điện. Mỗi nhóm chừng năm đứa choai choai cỡ 14-15 tuổi, ban ngày hành nghề, tối ngủ ở chợ Hòe Nhai gần đó. Tâm sứt hồi ấy khoảng 18 tuổi, là con trai độc nhất của bà bán rau và dưa gang muối trong chợ. Hai mẹ con sống ở căn hộ nhỏ tại số nhà 20 phố Hòe Nhai. Ai đã từng sống ở Hà Nội thời bao cấp đều biết câu thành ngữ: “Thứ nhất Hòe Nhai, thứ hai
Saturday, November 30, 20196:02 PM(View: 117)
Trần Thị NgH là một tác giả bắt đầu nổi tiếng vào những năm cuối cùng của chế độ VNCH. Chỉ với hai truyện ngắn đầu tiên, “Chủ Nhật” và “Nhà Có Cửa Khóa Trái,” xuất hiện trên hai trong những tạp chí hàng đầu của văn học miền Nam thời đó là Văn và Vấn Đề, tên tuổi bà đã lập tức được văn giới và độc giả đánh giá cao và trở thành một hiện tượng văn học. Sau 1975, cũng như nhiều nhà văn miền Nam khác, bà ngừng viết một thời gian dài, chỉ có mặt trên văn đàn trở lại vào khoảng giữa thập niên 1990. Văn chương của bà không chỉ lạ ở câu chuyện mà còn lạ ở cách kể chuyện, cách viết. Mỗi truyện, bà có một cách kể riêng. Và do cách kể mà đôi khi, dù truyện có đề tài tương tự, đọc lên, nghe vẫn khác. “Người Đàn Bà Có Hai Con” là một trong những truyện như thế. Điểm đặc biệt đầu tiên của truyện: có 18 tiểu mục, mỗi tiểu mục được đặt một nhan đề, lấy những nhóm chữ xuất phát từ các tác phẩm văn chương hay âm nhạc đã trở thành phổ biến: “ngày xưa hoàng thị,” “động hoa vàng” (thơ Phạm...
Tuesday, November 26, 20196:39 AM(View: 108)
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đá, dưới tàn cây phong đã bắt đầu thưa lá vì những cơn gió mùa thu, những tia nắng yếu ớt, đến lưng trời thì nhạt dần, và cũng như mọi lần, sau ba vòng đi bộ, tôi đều đến chỗ này, nghỉ chân dăm ba phút, trước khi về nhà. Chung quanh tôi cảnh vật không có gì thay đổi, thay đổi chỉ là sắc màu của bốn mùa, hoặc mùa đến sớm hay muộn. Tối qua ông Văn gọi điện thoại, nói là ở Việt Nam mới về, chiều nay muốn gặp tôi khoảng 3 giờ để biếu quà. Thoạt đầu chúng tôi quen nhau, chỉ là đi bộ trên cùng một lộ trình, chào hỏi, nói dăm ba câu chuyện, rồi thành thân, riết rồi thân hơn bình thường, nên có chuyện gì vui buồn, ông cũng kể tôi nghe, thường thì nghe ông nói, tôi ít khi có ý kiến, vì một người, khi có chuyện buồn phiền, họ rất cần người để chia sẻ, chịu ngồi nghe, là giúp họ giải tỏa được rất nhiều căng thẳng, đó cũng là việc tốt, nên tôi hay nói đùa: - Ông đang giúp tôi tích phước, đáng lẽ tôi phải cảm ơn ông, không phiền đâu, ông cứ nói hết đi, thấy nhẹ lòng là
Thursday, November 21, 201910:10 AM(View: 171)
Trung Tá Alexander S. Vindman, một người Mỹ gốc Ukraine, vừa trở thành đề tài cho nhiều người Mỹ đánh giá lòng yêu nước của ông ta. Vị sĩ quan này sinh quán là Ukraine; ông được cha mẹ đưa vào lãnh thổ Mỹ năm mới lên ba. Dĩ nhiên, với tuổi đó ông không biết gì nhiều về Ukraine, và từ vài chục năm nay, ông đã nhận Hoa Kỳ là quê hương. Đến tuổi trưởng thành ông nhập ngũ, được gửi sang tác chiến tại Iraq và bị thương vì một quả mìn gài trên đường. Do thương tích, ông được sử dụng trong những công tác văn phòng ở hậu phương. Công việc văn phòng của ông là chuyên gia hàng đầu về Ukraine, phục vụ tại Hội đồng an ninh quốc gia (National Security Council), làm việc ngay trong Tòa Bạch Ốc. Trong lúc làm việc, hai lần Vindman chứng kiến Tổng Thống Trump điện đàm yêu cầu tổng thống Ukraine điều tra tìm tội lỗi của đối thủ chính trị tranh cử với ông. Vindman viết trong “lời nói đầu” của ông trước khi điều trần với Ủy Ban Truất Phế Tổng Thống, là “ý thức trách nhiệm” không cho phép tôi im