DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,297,773

Vũ Ngọc Tiến - Bà Tuất Phe

Tuesday, October 1, 20194:47 PM(View: 801)
Vũ Ngọc Tiến - Bà Tuất Phe
Bà Tuất Phe

Amedeo Modigliani4

Giật cái tít này tôi cứ lăn tăn bởi đã có một thời ở Hà Nội hễ ai bị ghép thêm chữ “phe” vào sau tên gọi là tỏ sự kỳ thị của xã hội với đối tượng làm nghề “phe phẩy” ngoài chợ hoặc quanh các cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Họ mua bán, đổi chác các loại tem phiếu rồi móc ngoặc với mậu dịch viên mua lương thực, thực phẩm ngon nhất, đem ra ngoài bán ăn chênh lệch giá. Cái nghề nhàn hạ, chỉ cần phe phẩy chiếc quạt giấy ngoài chợ một buổi sáng cũng kiếm được dăm tờ “cụ mượt”, loại tiền 10 đồng, có ảnh ông cụ mới cứng.

Thời đó lương kỹ sư mới ra trường của tôi một tháng kể cả phụ cấp khu vực cũng chỉ được ngót nghét 7 tờ. Người làm nghề “phe phẩy” đếu phải đanh đá chua ngoa mới trụ được với nghề, nhưng bà Tuất Phe lại thuộc tạng người khẩu xà tâm Phật. Bà ngang tàng đến mức dữ dằn nhưng tốt bụng và rất thương người nghèo khổ, cô đơn. Hễ gặp người đói rách, bệnh tật bà cho tiền, bị kẻ khác ức hiếp bà bênh vực.

Gái chưa chồng ở tuổi 40 cho bà một nét đẹp mặn mòi, quyến rũ từ vóc dáng, làn da đến điệu cười, giọng nói và nhất là đôi mắt đen huyền long lanh sâu thẳm như hai miệng giếng thơi đầy bí hiểm. Bởi thế, khối ông từ cấp Trưởng phòng Thương nghiệp của Khu, nơi có quyền cấp phát tem phiếu xuống đến mấy ông Trưởng hoặc Phó cửa hàng mậu dịch từng bị bà “cách chức” dễ ợt bằng trò đùa tình ái rất tinh quái.

Bà ghét cay ghét đắng lũ cán bộ dẻo mồm hót hay mà đê tiện háu gái ấy chuyên dọa dẫm gạ tình hết lượt các cô mậu dịch viên trẻ nên tìm cách chơi khăm cho bõ tức, chứ các cô thì ngấm ngầm biết ơn, quý bà hết mức, thân thiết như tình ruột thịt. Bà muốn nhờ họ mua gì chẳng được, nhưng bà không thích, vẫn đàng hoàng xếp hàng cho phải phép…

Làm nghề “phe phẩy” nhưng bà Tuất Phe không mua bán tem phiếu như người khác, chỉ mua hàng thuê cho các gia đình neo đơn hay các cặp vợ chồng trẻ bận con mọn không có thì giờ xếp hàng. Trong chiếc túi xách của bà lúc nào cũng căng phồng những sổ gạo, tem phiếu các loại của các nhà như thế, mỗi nhà được bà gói kỹ trong mảnh giấy vỏ bao xi măng có ghi chú rõ tên chủ hộ, tiêu chuẩn và lịch cần mua hàng trong tháng. Nhà nào đông con, cần mua sườn, thịt chân giò hay thịt thủ để được trọng lượng gấp đôi tiêu chuẩn bà đều thuộc làu.

Ai có công việc cần mua loại thịt cá ngon thì báo cho bà từ hôm trước, thậm chí có người không đủ tem phiếu bà cũng có thể giúp thương lượng với người chưa có nhu cầu cho vay tem phiếu tháng sau trả bù. Giá công mua thuê mỗi lần thay đổi từ 5 hào với nhà dân đen có tiêu chuẩn tem phiếu thấp và 1 đồng với nhà công nhân viên chức trong biên chế có tiêu chuẩn cao hơn.

Mỗi sáng, bà thức dậy từ 4g00, xếp viên gạch cũng bọc giấy vỏ bao xi măng ghi rõ hai chữ “Tuất Phe” ở ngay chân quầy bán thực phẩm, không ai dám qua mặt bà chen lên trước. Sau đó bà lại tất tưởi chạy ra bến tàu điện cách chợ chừng 200 mét để dọn quán bán nước. Gọi là quán cho sang thôi chứ nó tuềnh toàng một chiếc bàn mây cũ kỹ, trên đó bày ấm chén, một lọ kẹo nhồi, mấy bao thuốc lá và dưới chân bàn đặt chiếc điếu cày. Khách quen của quán chủ yếu là những người lao động hay buôn thúng bán mẹt chờ chuyến xe điện đầu tiên chạy vào trung tâm thành phố hoặc những bác đạp xích lô chở hàng ra chợ Bưởi. Họ ghiền nước trà của bà Tuất Phe bởi có hương vị rất đắc biệt.

Sau này, khi đã quen thân tôi hỏi chuyện mới biết bí quyết câu khách của bà rất đơn giản chỉ là mỗi ấm tích pha trà cỡ hai lít nước, ngoài trà Thái Nguyên loại xịn còn được pha thêm ba thìa bột chế từ đài hoa sen sau khi người ta đã lấy nhụy ướp trà, bà xin về sấy khô rồi thuê hiệu thuốc bắc tán nhỏ thành bột. Nhờ có thứ bảo bối chứa trong túi vải bỏ vào ấm tích ấy nên nước trà của bà Tuất Phe luôn có màu hổ phách, ngậy vị trà Thái và thoang thoảng hương sen còn sót lại từ nhụy hoa.

Nghe đồn có ông tài xế lái tàu điện bị kỷ luật hạ bậc lương phải chuyển sang bán vé vì tội ghiền nước trà và mê chủ quán nên khi tàu điện về đến Bưởi là bến cuối cùng, nhưng ông cứ ngồi lỳ ở quán hàng nửa giờ vẫn chưa chịu cho tàu quay đầu nối toa chạy tiếp. Tầm 11g00 bà đã dẹp quán nghỉ ăn trưa để buổi chiều đong gạo hay mua dầu cho khách. Quán nước của bà Tuất Phe còn nổi tiếng vì con vện rất tinh khôn. Nó có đủ huyền đề bốn chân, hai bên hông có xoáy tròn với lớp lông dày, mượt hơn chỗ khác thuộc nòi chó quý tướng.

Hình như vện hiểu tiếng người, biết cả số đếm nên những lúc chủ bận lên chợ mua thực phẩm thì nó ngồi trông quán. Khách đến quán cứ việc tự ý rót nước uống hoặc ăn kẹo, hút thuốc, nhưng nếu quên trả tiền vào chiếc nón bà chủ đặt ngửa dưới gầm bàn trà là vện sủa to vài tiếng rồi chạy theo cắn áo lôi lại. Khách trả tiền thiếu nó cũng biết, ngước mắt sủa gâu gâu cho tới khi họ phải chỉ ra từng món, đưa thêm tiền và nói mình đã trả đủ vện mới chịu tha. Bà Tuất Phe yêu quý vện như con, có lúc cao hứng bà bế nó vào lòng hôn hít như người tình làm cánh đàn ông ngồi quán phát ghen với vện…

Tôi với bà Tuất Phe cùng ở trên con phố nhỏ ven đô, cách vài số nhà, nhưng phải đợi đến khi tôi lập gia đình, vợ sinh con gái đầu lòng nên phải thuê bà mua giùm thực phẩm, gạo và dầu hỏa đun bếp mới có dịp gần gũi, trò chuyện. Bà vẫn lấy tiền mua thuê như mọi người, song có phần ưu ái hơn họ vì có lẽ tôi cùng tuổi Tuất, kém bà hai giáp. Lâu dần thành thân thiết, bà thường hay cho thêm tôi, khi nửa chai nước mắm, lúc vài bìa đậu. Nếu lỡ ra trong nhà hết tem phiếu, bà lại thương tình “tạm ứng” của người khác chưa dùng đến mua miếng thịt thăn thật ngon cho con gái tôi bữa nào cũng đủ chất tươi. Những đêm thanh vắng tôi mải làm việc khuya, vợ bận dệt len trả áo cho khách đúng hẹn, nghe tiếng trẻ con khóc, bà Tuất Phe hớt hải chay sang nhà tôi bế cháu hát ru cho đến khi con bé ngủ say mới chịu về.

Ân tình sâu nặng ấy tôi làm sao quên được, thầm coi bà như người cô trong họ. Một lần bà sang nhà chơi, gặp hôm vắng vẻ, vợ đưa con về bên ngoại, tôi lựa lúc bà vui chuyện liền hỏi: “Cháu thấy cô vẫn còn trẻ đẹp thế sao không chịu lấy chồng?”. Câu hỏi chạm vào nỗi đau chôn giấu nhiều năm khiến một người nổi tiếng ngang tàng như bà Tuất Phe ứa nước mắt, nín lặng ngồi như tượng đá. Trước lúc ra về, bà nói nhỏ: “Đời bạc lắm mà cô thì số ruồi bâu, suốt cả thời thiếu nữ toàn gặp đàn ông đểu cáng lừa tiền gạt tình nên ớn chuyện lấy chồng. Giờ cô đã có vện làm chồng là đủ. Thà làm vợ chó còn hơn cho lũ mặt người dạ quỷ đụng vào cái ấy của mình. Cô nói thật đấy, cháu có tin không?”. Tôi thấy lòng áy náy, thẫn thờ nhìn theo bóng bà khuất dần trong ráng chiều chạng vạng.

Bẵng đi vài tháng tôi trở về nhà sau chuyến công tác, sững sờ nghe tin bà Tuất Phe đã chết. Bà tự tử bằng thuốc trừ sâu vì một bí mật động trời trong đời bị tiết lộ, thiên hạ đàm tiếu, bêu riếu khắp chợ và bến tàu điện. Chuyện là trong phố có thằng Quân lé, máu mê cờ bạc nên hay rình mò trộm cắp về đêm. Hôm ấy trời khuya trăng sáng vằng vặc. Quân lé trèo lên nóc dỡ mấy viên ngói lẻn vào nhà bà Tuất Phe định ăn trộm chiếc đài bán dẫn thời đó được coi là tài sản quý, tình cờ nó bắt gặp bà đang tắm bên thùng phuy đựng nước, trong gian bếp nhỏ có ánh trăng rọi vào thân hình thon thả, trắng nõn nà. Xong xuôi, bà lau khô người rồi cứ thế khỏa thân nồng nỗng vào buồng ngủ, bế vện lên giường, ngồi rạng chân cho nó liếm vào chỗ ấy. Nước càng ra nhiều vện liếm càng hăng, cả người lẫn chó cùng rên ư ử vì sung sướng.

Quân lé nấp sau cửa buồng nhìn lâu không chịu nổi, cởi quần xông vào bị bà Tuất Phe co chân đạp mạnh trúng vào chim của nó. Tiếng chó sủa và tiếng người kêu rống lên thảm thiết trong cơn đau làm kinh động cả dãy phố. Quân lé bị bắt lên đồn công an, tông tốc khai hết mọi chuyện; còn bà Tuất Phe mấy hôm liền đóng chặt cửa không dám ló mặt ra đường. Bà chết lúc nào chẳng ai hay biết. Ngày đưa tang bà, con chó tinh khôn tình nghĩa nước mắt chảy ròng, đi theo sau quan tài ra tận nghĩa địa. Vện chờ mọi người chôn cất xong, nằm phủ lên mộ rên rỉ khóc cho đến khi lông nó ướt đẫm, vón thành từng cục, kiệt sức chết theo bà chủ. Bà Tuất Phe tự tử hay cuộc đời này hại chết bà? Tôi vẩn vơ tự hỏi lòng, buồn the thắt!…


                                                                                                                                                              HN – SG thu 2019
                                                                                         Vũ Ngọc Tiến
                                                                                                                                                                     (từ: VV)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, May 18, 20201:52 PM(View: 260)
Trong ít hôm vừa qua, cộng đồng mạng người Việt huyên náo hơn mức bình thường. Một YouTube được đưa ra, trong đó người thực hiện và trình bày đánh giá Chu Văn An, một nhà giáo dục được tôn kính từ thế kỷ 14 là “rất tệ,” là “tối,” rồi đưa tới một lời miệt thị rất nặng, “thằng cha đó là một thằng cà chớn.” Phản ứng lập tức đến từ rất nhiều phía, bộc lộ một niềm phẫn nộ tới cùng độ. Trong những phản đối ấy có một vài quá đáng, tuy lăng mạ mạnh mẽ nhưng chưa vạch được rõ người đưa ra lời phê phán đã sai ở những điểm nào. Giữa hàng trăm, hàng ngàn lời buộc tội, người viết những dòng này đọc được một lời bênh. Nhưng người bênh có một điểm sai, tưởng Chu Văn An làm đến chức Tể tướng và có quyền rất lớn trong triều Trần. Để đạt được một nhận định vô tư và khách quan, bài này xin được duyệt lại sử sách Việt Nam các đời trước, xem tiền nhân đã chép về Chu Văn An ra sao, cùng tìm hiểu thêm xem trong thời của ông (qua bốn triều vua Trần Minh tông, Hiến tông, Dụ tông, Nghệ tông), Chu Văn An đã
Sunday, May 17, 20209:12 AM(View: 233)
Lời của ông Thiệu mỗi lúc mỗi làm buốt giá đầu óc. Phải, chúng tôi đâu có thiếu máu xương, chúng tôi có nhiều máu xương nữa là khác, và ông Thiệu chẳng bao giờ tiếc món hàng rẻ mạt này. Ông Thiệu, ông Kỳ, ông Khiêm, ông Viên và nhiều “danh tướng” nữa, đã đem máu của người miền Nam rải đầy trên đồi núi, trên ruộng đồng, trên sông rạch. Máu mà tiết kiệm làm gì? Phải bắn cho hết đạn đại bác 105 ly để bà Khiêm có vỏ đạn bằng đồng bán cho Nhật Bản, phải giữ cho được những lăng tẩm cũ của miền Nam, để cho bà Thiệu thu thập được các đồ cổ của tiền nhân, máu phải đổ ra chan hòa cho xứng tài danh tướng vừa có văn vừa có võ của ông Viên, ông ở trên chóp của cái thang quân đội, ông đứng giữa những tranh chấp chính trị, ông Viên là người thanh liêm, nhưng bà Viên thì sao? Bà có đỡ đầu cho đàn em cật ruột của bà không? Có đứa nào thậm thụt cửa sau tư dinh không? Do đó máu thì chúng tôi không thiếu. Hỡi những “danh tướng” của miền Nam, các ông Thiệu, Khiêm, Kỳ, Viên, Quang, Toàn… và nhiều danh tướng
Saturday, May 16, 20208:00 AM(View: 211)
Giết người vứt xác xuống biển. Trước khi tàu cập bến, Hải quân Mỹ đã liên lạc về đây nên khi xuống tàu, mọi người đều bị khám xét, có một số nạn nhân chịu nhận diện thủ phạm. Hai người bị tố cáo không biết có giết người không, có hiếp dâm không, nhưng trong ba lô họ có cả mấy trăm lượng vàng. – Thế thì xử tử là phải. Nhưng quá trễ. Nước mình trong thời chiến hai mươi năm, tôi thấy tòa án quân sự 95% chỉ xử tội đào ngũ, biển thủ, v.v. Dường như tòa quân sự mặt trận mới mở có vài lần. Một lần xử tử mấy anh Thượng Fulro, một lần xử tướng Vũ Văn Giai cái hồi 72, xử huề. Đáng lẽ mình phải xử tử vài anh tướng, cho về hưu độ hai mươi, ba mươi anh tướng khác, cách chức một số đại tá. Nếu năm năm trước mình đã làm như vậy thì hôm nay chưa chắc đã như thế này. – Ông có muốn đi coi không? – Không, tôi nản cái vụ đó lắm. Ngày mai có máy bay không Thiếu tá? – Không. Chiều nay có một chuyến nhưng chắc là không kịp. Ba ngày nữa mới có chuyến khác.
Friday, May 15, 20209:29 AM(View: 189)
Tỉnh dậy, bước ra cửa sổ nhìn xuống đường, tôi biết lại có thêm một thành phố nữa đang giãy chết. Điều kỳ lạ là mỗi thành phố chết một cách khác nhau. Pleiku như một mãnh hổ bị lao, Phú bổn như một con nai trúng đạn, Quy Nhơn là một con gấu bị dồn tới đường cùng, gầm gừ một hồi rồi cũng sập bẫy, Tuy Hoà giống như một con cá lớn đã lọt vó, bốn góc nước cứ cạn dần rồi trơ trên nền vải thưa. Bây giờ là Nha Trang. Nha Trang như là một thành phố chết bởi bệnh dịch. Sáng nay những người Nha Trang lũ lượt, buồn thảm, bồng bế, gồng gánh xuôi Nam. Họ khóc tức tưởi, không kêu gào, không than vãn. Những dòng nước mắt chảy lặng lẽ trên những gò má hốc hác vì lo lắng, không ăn, thiếu ngủ. Họ là những người chạy bệnh dịch, bệnh thời khí của vài chục năm, trăm năm trước, khi mà nền y khoa thô sơ chưa hiểu rõ cách ngăn ngừa sự truyền nhiễm. Thật là cảnh tượng thê thảm não lòng. Tôi đóng cửa sổ bỏ vào trong đánh răng rửa mặt. Bước xuống nhà dưới, tôi dặn má và vợ tôi: – Má với em sửa soạn, con đến nhà
Thursday, May 14, 20208:01 AM(View: 199)
Tôi nghe tiếng kêu cứu thảm thiết của hai cánh quân nhà. Giọng người chỉ huy căn cứ nghe rất quen, quen ghê lắm, không hiểu đã gặp ở đâu. Tôi hỏi Bảo Đồng và được biết đó là Thiếu tá Đồng Đăng Khoa, một người bạn học của hơn mười năm trước, của Đệ Nhất B Chu Văn An niên khóa 1961. Tôi không thể nào ngờ đã nghe được tiếng bạn mình trong hoàn cảnh tuyệt lộ. Đúng lúc đó “Quế tướng công” bước vào Trung tâm Hành quân mang theo đầy mùi rượu thịt, mặt đỏ gay, cổ bạnh ra, khệnh khạng bước tới máy truyền tin, nói qua ống liên hợp không ngụy thoại gì hết: – Trung tướng tư lệnh đây, mấy cũng vào. Mai qua xuống gắn lon thiếu tá cho em. Tôi bỏ ra ngoài, về phòng nằm thao thức nhớ bạn cho tới sáng. Tới chiều Bảo Đồng cho tôi hay, Không quân đã dội bom cày nát căn cứ, Đại úy Tiểu đoàn trưởng Bộ binh được vinh thăng cố Thiếu tá. Địch quân tràn ngập căn cứ lúc hai giờ sáng, người bạn thiếu thời của tôi đã mở một đường máu, dẫn được không đầy trung đội thoát thân. Anh đang bị thẩm vấn trên quân