DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,196,549

Vương Trùng Dương - Tưởng nhớ nhà thơ Nam Kỳ Lục Tỉnh Trần Tuấn Kiệt

Saturday, October 19, 20199:37 AM(View: 475)
Vương Trùng Dương - Tưởng nhớ nhà thơ Nam Kỳ Lục Tỉnh Trần Tuấn Kiệt
Tưởng nhớ nhà thơ
Nam Kỳ Lục Tỉnh
Trần Tuấn Kiệt




blank
Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt. (Hình: Người Việt Bốn Phương)


“Thơ Trần Tuấn Kiệt đã đạt tới cõi nguồn trường mộng tinh anh nên gợi dậy rất nhiều chân trời hoài niệm. Dựng lên những câu hỏi huyền hoặc. Lời thơ pha đủ mọi dư vang của triều rộng. Con cháu Nguyễn Du đã gặp Hoelderlin Nerval – và đón suy tư hướng vọng vĩnh thể của thiên tài Tây phương. Niềm chiêm nghiệm bát ngát vô song…” (Nhà thơ Đức Friedrich Hölderlin, 1770-1843, nhà thơ Pháp Gérard de Nerval 1808-1855 – Bùi Giáng).
“Chỉ riêng với thơ, Trần Tuấn Kiệt đã dấn thân vào những cuộc phiêu lưu đến những xứ sở chỉ có những tâm hồn như anh mới khám phá ra được” (Trần Áng Sơn: Trần Tuấn Kiệt – từ nhà thơ, nhà văn đến võ sĩ, 2007).
“Nếu có ai hỏi tôi, hãy chọn một thi sĩ miền Nam đáng trọng đáng quý nhất, và thi sĩ nhất, tôi chọn Sa Giang Trần Tuấn Kiệt” (Viên Linh: Bằng hữu cuối trời: Thi sĩ Trần Tuấn Kiệt, 2012).
“Trần Tuấn Kiệt là thi sĩ suốt đời mang nghiệp thi ca. Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, dường như ông song hành giữa lãng mạn thi ca và hiện thực đời sống. Đọc thơ ông, là chia sẻ với những mẫu đời của một thời đại đặc biệt với những tâm cảm đặc biệt và của những người có trái tim nhạy cảm. Trần Tuấn Kiệt làm thơ rất dễ dàng, viết cả năm ngàn bài thơ với cả nét lãng mạn và thực tế trộn lẫn” (Nguyễn Mạnh Trinh: Trần Tuấn Kiệt, Thi Ca & Cuộc Đời, 2016).
“Thơ Trần Tuấn Kiệt đã đi vào khung trời riêng, của hơn 50 năm hòa nhập với thi ca, chất chứa đầy khí lực tạo dựng một vũ trụ thơ của anh” (Ngô Nguyên Nghiễm: Chân Dung Văn Nghệ Sĩ 2018).

***

Trần Tuấn Kiệt qua đời vào chiều ngày 8 Tháng Mười, 2019, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Mồ côi mẹ lúc 8 tuổi nên thuở bé ông sống với bà ngoại tại vùng tản cư ở Đồng Tháp Mười. Năm 1950, lúc 11 tuổi lên Sài Gòn, theo học ở trường Tân Thanh với các giáo sư như Tam Ích, Thiên Giang, Bùi Giáng, Đồng Tân… và sau học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc về bộ môn thổi sáo và đàn tranh, theo học một năm rồi bỏ ngang.

Với năng khiểu bẩm sinh, khởi đầu nghiệp cầm bút, thơ xuất hiện trong mục Hoa Hàm Tiếu, giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh; gia nhập Văn Đàn Bạch Nga và cộng tác tờ bán nguyệt san Phổ Thông (1958-1971) của Nguyễn Vỹ… Tam Ích giới thiệu vào làng báo ở Sài Gòn. Từ cuối thập niên 1950 ông đã cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí cho đến Tháng Tư, 1975.

Bút hiệu Sa Giang ghép từ quê nhà Sa Đéc và Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất có nhiều dòng sông với Cửu Long Giang. Với thơ ông ký Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, với văn ông ghi Trần Tuấn Kiệt. Ngoài ra ông còn nhiều bút hiệu khác như: Việt Thần, Việt Long, Việt Hoàng, Duy Thức, Lan Sơ Khai, Xuân Thu, Hồng Lĩnh,… tùy theo lãnh vực sáng tác. Sau năm 1975, trải qua thời gian lao tù, ông dùng nhiều bút hiệu viết từ võ hiệp đến gia chánh, vô thưởng vô phạt, in sách để mưu sinh.

Trần Tuấn Kiệt viết đủ các thể loại, như thơ, biên khảo, truyện dài, võ thuật, dã sử kiếm hiệp, tín ngưỡng thần đạo Việt Nam… nhưng gọi ông là thi sĩ bởi vì từ thi phẩm đầu tay “Thơ Trần Tuấn Kiệt” (1963), kế tiếp với 26 tập thơ, trong đó tập thơ “Lời Gởi Cây Bông Vải” (1969) được Giải Nhất Văn Học Nghệ Thuật năm 1970, bộ môn Thơ của Tổng Thống VNCH tTập thơ chừng 70 trang, gồm những bài thơ 5 chữ và lục bát). Hơn nữa, trong thi ca là tiếng lòng, tâm sự và nguồn cảm hứng của cuộc đời để trang trải với tha nhân.

Ông đã xuất bản khoảng hai trăm tác phẩm trong nhiều thể loại trong lãnh vực từ Văn Học Nghệ Thuật đến Võ Thuật. Ngoài 27 tập thơ (sau năm 1975 ông tự in một số tập thơ phổ biến hạn chế để tiếp tục cuộc hành trình từ thuở ban đầu) còn có:

Truyện dài: “Sa Mạc Lan Dần,” “Tiếng Đồng Nội,” “Hồng Cẩu Quẩy”…
Dã sử: “Quật Mộ Tào Tháo,” “Quật Mộ Tần Thủy Hoàng,” “Linh Sơn Nghĩa Sĩ.”
Biên khảo:
“Thi Ca Việt Nam Hiện Đại,” Khai Trí xuất bản 1965, Trần Tuấn Kiệt mới 26 tuổi. Gồm hai phần:
Phần I – Thi Ca Tiền Chiến có 43 nhà thơ;
Phần II – Thời Chiến Tranh có 26 nhà thơ. Sau này ông viết thêm “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại (1880-1965),” dày gần 1,200 trang, rất công phu, tài liệu về thi ca ngắn gọn để tìm hiểu. (Cuốn “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh-Hoài Chân chỉ dày 394 trang từ Tản Đà đến Trần Huyền Trân). “Tác Giả Tác Phẩm trước 1975” và “Tác Giả Tác Phẩm sau 1975” dày hơn 5,000 trang gồm năm quyển, tự in còn dang dở.
Võ thuật: “Dịch Cân Kinh,” “Thái Cực Quyền,” “La Hán Quyền,” “Quyền Thuật Thiếu Lâm Tự”…
Tôn giáo tín ngưỡng: “Tín Ngưỡng Thần Đạo Việt Nam” còn gọi là Đại Việt Thần Đạo viết tay 15,000 trang với sự cộng tác và sưu tầm của nhiều người bạn và các tác giả khác. Chỉ in được vài tập ở Luân Đôn năm 2010.



blankQuyển “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, 1880-1965” của Trần Tuấn Kiệt. (Hình: quansachmuathu.vn)


Cuộc đời Trần Tuấn Kiệt sống chết với nghiệp cầm bút nhưng số phận không thoát khỏi lao tù.
Năm 1970, Trần Tuấn Kiệt được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật. Vài nguồn tin cho rằng ông bị kẻ khác đố kỵ đả kích “trao thân lầm trốn lính.” Năm 1971 khi ông đang ở tù, với mức án 10 năm lao công đào binh vì không chịu đi lính, vợ ông cùng với họa sĩ Nghiêu Đề xin chữ ký của 100 vị nhân sĩ, trong đó người đứng đầu ký tên Bản Kiến Nghị do Linh Mục Thanh Lãng (chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1963-1975), ông đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ân xá còn một năm tù treo và được cho về nhà vào ngày Ba Mươi Tết năm 1971.

Sau 1975, ông cũng bị đi tù cải tạo gần 10 năm, ở trại giam Phan Đăng Lưu, Chí Hòa, Sài Gòn rồi đổi lên trại tù Gia Trung ở Gia Lai, Kon Tum đến Tháng Mười, 1985, mới được về. Sách vở của ông rất nhiều nhưng ông đã đốt vào thời điểm Tháng Tư, 1975, cho nên thơ và truyện của ông trước kia, hiện nay rất khó tìm. Ông chia sẻ: “Lúc Kiệt đi tù gần 10 năm ở trại Gia Trung về ở nhà, các bạn thường giúp đỡ: Trần Lam Giang, Bùi Ngọc Tuấn, Phương Triều, Thái Dương, Đào Trường Phúc… gởi về.” Bản án dành cho ông mười năm từ Chí Hòa đến Gia Lai thật là phi lý, đó cũng là thảm kịch cho văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam trước năm 1975!

Trần Tuấn Kiệt sống rất giản dị, đầu tóc rối bù, ăn mặc xuềnh xoàng. Tuy sáng thật nhiều, sống với nghề cầm bút nhưng vẫn nghèo. Cư ngụ căn nhà trong hẻm, vợ bán bắp nướng và chuối chiên để nuôi cả gia đình. Khi được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật năm 1970 với số tiền khá lớn nhưng bản tính hào sảng, có cơ hội chén tạc chén thù với bạn bè. (Giải thưởng khoảng 400,000 đồng thời bấy giờ (vàng khoảng 25,000 đồng một lượng). Ông đích thực là chàng lãng tử sống với thơ, văn, suốt một đời. Thích đá gà và cũng là đệ tử của Lưu Linh. (Lưu Linh 221-300, trong nhóm Trúc Lâm Thất Hiền, trọng lễ nghĩa, không bao giờ làm phật lòng ai. Ông suốt đời chỉ lấy bạn và rượu làm niềm vui. Để ca ngợi rượu, Lưu Linh đã viết bài Tửu Đức Tụng (ca ngợi đức hạnh của rượu) coi như một tuyên ngôn. Sau này những tửu đồ coi như một áng danh văn về rượu).

Về chuyện đá gà, Trần Tuấn Kiệt viết lại: “Khi không có đề tài gì cho mục Nói Chuyện Với Đầu Gối thì Chu Tử thường đem Kiệt ra làm đề tài. Cho nên mới có chuyện Trấn Tuấn Kiệt nổi tiếng nhất nước là đá gà, còn người thật thứ nhì mới đến Nguyễn Cao Kỳ. Sở dĩ có chuyện đó là vì mỗi chiều Thứ Bảy đi đá gà về, Kiệt đều mua mấy con gà chết trận về cho bà xã nấu cà-ri đãi anh em ăn no nê sảng khoái. Nhằm lúc không có gà chết mà bạn bè tới nhà đông quá, Kiệt phải làm luôn con gà cưng nhất của mình đãi anh em nhậu…”.

Những năm cuối đời, sức khỏe yếu kém, răng rụng gần hết, không còn sáng tác!

Hầu như mọi người đã “Trải qua một cuộc bể đâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Nguyễn Du – Truyện Kiều), trong đó Trần Tuấn Kiệt “Hễ đến mùa Xuân thì tôi lại nhớ tới những người tình xưa và nhất là những người bạn thân mà đời mình không thể nào quên.” Trong tùy bút của ông, “Một Mùa Xuân Trở Lại Cho Đời Nghệ Sĩ,” ông bày tỏ kỷ niệm trước năm 1975 và sau này:

“Sau biến cố 75, mọi sự đều thay đổi. Bạn tôi Trầm Tử Thiêng qua Mỹ viết bản trường ca Áo Dài Việt Nam tôi được nghe một lần. Rồi anh mất bên đó.
Mùa xuân này tôi chợt có dịp trở về con đường hẻm Bàn Cờ cũ gần nhà cụ Nguyễn Đức Quỳnh nơi cư xá Đô Thành có trường Tân Thanh xưa nay đã biến thành khách sạn…
…Ngày đó trong khuôn viên đại học Văn Khoa có dựng một gian nhà gỗ nhỏ của nhóm họa sĩ trẻ gồm Mai Chửng điêu khắc, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Hồ Thành Đức… Căn nhà gỗ này do Nguyễn Trung và Hồ Thành Đức xin được trong không quân đem về dựng lại. Hằng ngày Nguyên Khai và Nguyễn Thành Nhơn đến điêu khắc chơi và thoạt tiên cũng là chỗ ngủ của Nguyễn Nghiệp Nhượng và Cù Nguyễn. Sau 75, khi qua đường Lê Thánh Tôn, tôi nhớ lại cái quán cà phê cũ đã thay mới, các cây điệp (phượng đỏ) cội rất lớn, thân cây bị cưa cụt đã đâm ra thêm nhiều cành nhánh mới, có nhánh đã ra hoa. Tôi đứng lặng nhớ về bạn bè hay gặp nhau ở đấy. Trần Lam Giang, Lê Tài Tấn, Phạm Quốc Bảo và Bùi Ngọc Tuấn, nhớ tới các bạn họa sĩ, Khánh Ly, Nguyễn Thụy Long, Lam Thiên Hương thuở còn xuân sắc tươi đẹp. Bây giờ Lam Thiên Hương trở thành bà ngoại già thường dắt cháu ngoại đến Cung Văn Hóa Lao Động chơi…
…Cả mấy chục năm ở Sài Gòn mà tôi cứ quanh quẩn mãi Thị Nghè như một thằng Mán không biết gì nhiều sự đổi thay.”

Những bài tùy bút sau này của Trần Tuấn Kiệt viết rất chân tình và cảm động, ông nhớ lại một thời đã sống bạt mạng, lãng tử trong giới cầm bút với nhiều khuôn mặt đã in sâu vào ký ức.
Người con của Nam Kỳ Lục Tỉnh đã trở về với cát bụi. Và, hình ảnh Trần Tuấn Kiệt với tha nhân như hai câu thơ của ông:

“Người thi sĩ đã một ngày gặp gỡ
Thì ngàn năm bóng sáng vẫn chưa tan”

Bên kia bờ Thái Bình Dương, nhà thơ Trần Tuấn Kiệt vừa vĩnh biệt cố hương. Bên này bờ Thái Bình Dương, nhà thơ Du Tử Lê qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai, 7 Tháng Mười (10 giờ 6 phút sáng ngày 8 Tháng Mười, giờ Việt Nam), tại tư gia ở Garden Grove, hưởng thọ 77 tuổi. Năm 1973, Du Tử Lê được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn thơ với thi phẩm “Thơ Du Tử Lê 1967-1972.”

Trong cùng một ngày, hai nhà thơ được giải Văn Học Nghệ Thuật đã vĩnh viễn ra đi!


Vương Trùng Dương
(từ: NV)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, December 23, 20198:51 PM(View: 487)
Ông quận truởng Đặng thắp hương truớc quan tài ông Ngọ và có lời thảm thiết: - Chúng tôi rất lấy làm buồn khi đuợc tin ông Phạm Ngọ, một chiến sĩ quốc gia chân chính đã bị cộng sản âm mưu sát hại. Chúng tôi cố gắng hết sức để trả mối thù này cho gia đình nạn nhân. Truớc hết, tôi sẽ can thiệp để các con ông Ngọ được huởng quy chế Quốc Gia Nghĩa Tử, mong đem lại một chút an ủi cho gia đình. Chúng tôi cầu nguyện linh hồn ông Ngọ đuợc siêu thăng tịnh độ và mong gia đình bớt buồn đau. Những tiếng thở dài rất nhẹ của những nguời đi tham dự. Đám tang đuợc diễn ra sau đó với thật đông đồng bào từ các thôn, ấp xa, nghe tin ông mất, đã tới thăm viếng và đưa tiễn. Ba phát súng của dân vệ bắn lên trời để đưa ông khi quan tài hạ huyệt. Bà Ngọ và những đứa con lăn lộn khóc. Trong đám đông có tiếng nói rỉ tai nhau: - Việt cộng ở đâu mà giết ông Ngọ, chỉ bọn công an chìm lập mưu ám hại ổng thôi. Ông không cho xây nhà thờ ở xã nên họ muốn triệt hạ ổng. Tội nghiệp một con người cương trực.
Saturday, December 21, 20196:48 PM(View: 292)
Đang làm việc tại một cơ sở thuộc nhà sách Hachette, tôi đành bỏ ngang để làm nhà hàng với ông xã ở phố quận 13, Paris. Nghĩ rằng mở một cái tiệm ăn nhỏ tự đứng ra cai quản, coi bộ khỏe hơn đi làm nhân viên dưới quyền điều khiển của sếp đầm khó chịu . Chọn cái tên cho tiệm ăn giống như tìm đặt tên cho đứa con của mình. Chợt nhớ quê nhà quê mình có một biệt phủ xưa tên gọi An Hiên. Hiên là mái nhà, an là bình an. Ai mà chẳng mong có một mái nhà an bình để sống. Tôi không phải là người giỏi giang chi về bếp núc. Ở Việt Nam lúc đi học thì lo học chứ đâu để ý chi chuyện làm bếp. Khi lấy chồng thì có chị giúp việc nấu nướng ngon lành. Việc chi mà phải nhọc tay chân. Qua đây liều mình mở hàng ăn , quả thật mình có lá gan to của con ngỗng béo. Ở xứ sở này, nghề bếp núc nấu nướng lại là nghề có giá trị. Tìm được một người bếp giỏi không phải là chuyện dễ dàng. Tôi phải biến thành nhà bếp, bếp chính. Như thế mình không phải phụ thuộc vào bất cứ bếp chính nào. Chủ nhà hàng sợ nhất là khi
Tuesday, December 17, 201910:42 AM(View: 233)
Thi sĩ thức dậy trong cái lán tre nằm trong trại K2, vùng Vĩnh Phú, nhìn mặt trời mới lên êm dịu như một vầng trăng ửng hồng trong cơn gió núi rộn ràng. Bỗng nghe tiếng sóng biển từ muôn xa gọi dậy trong lòng. Chợt nhớ mùa xuân đang cất tiếng vang vang. Mặt trời hồng mở cõi tâm linh thăm thẳm, cất cánh lên chạm cõi không cùng. Trong khoảnh khắc trái tim thi sĩ đập cùng một nhịp với cả quê hương. Vượt ra ngoài căn phòng giam hãm, thấy chung số phận của bao nhiêu đồng bào ngoài kia cùng chia nhau mảnh đất quê hương nghèo khổ. Người đọc câu thơ có thể bay lên cao hơn, vượt thời gian sống lại bao thế hệ tổ tiên đã từng đứng vững không khuỵu chân trên mảnh đất nghèo khổ này, trong mấy ngàn năm. Những đôi chân cứng cáp đó giữ cho dân tộc Việt còn sống được tới bây giờ. Cũng trên mảnh đất nghèo khổ này tổ tiên chúng ta đứng vững không khuỵu chân suốt một ngàn năm Bắc thuộc. Ghìm vững đôi chân gầy yếu, không cong lưng cúi đầu làm thân nô lệ; không xóa bỏ ông cha để đi theo một giống
Saturday, December 14, 20196:34 PM(View: 148)
Miền Nam trước đây gọi nhạc vàng là tân nhạc để phân biệt với cổ nhạc. Sau chiến tranh, bên thắng cuộc mở “mặt trận” tấn công vào nền văn hóa miền Nam, cả tân nhạc lẫn cổ nhạc đều bị nghiêm cấm và bị hủy diệt. Tân nhạc bị gán ghép là nhạc tâm lý chiến, nhạc phản động, nhạc xuyên tạc đường lối chống phá cách mạng, hay bị xem là thứ nhạc sến, nhạc đồi trụy, nhạc ru ngủ, nhạc lãng mạn bi quan, nhạc vàng vọt. Từ ngữ nhạc vàng xuất phát từ miền Bắc đã nhanh chóng được người miền Nam chấp nhận để phân biệt với nhạc đỏ là loại nhạc cộng sản. Trong tâm tư người miền Nam màu vàng là màu da, màu dân tộc, màu mai vàng phương Nam, màu tươi trẻ, màu của kim loại quý hiếm vào bậc nhất. Bởi thế cờ vàng và nhạc vàng nhanh chóng được xem là báu vật của Việt Nam Cộng Hòa. Vì yêu nhạc vàng… Khi đất nước chia đôi cách mạng văn hóa được phát động tại miền Bắc nhạc vàng bị nghiêm ngặt cấm đoán. Nhạc đỏ với âm điệu Trung Hoa nhanh chóng thống trị nền âm nhạc miền Bắc, nhưng vẫn còn nhiều người yêu
Tuesday, December 10, 201911:49 AM(View: 371)
“Good night, sweet dreams.” Genny gửi đi dòng text cuối cho Dick, bạn trai và cũng là đồng nghiệp của cô ở sở cảnh sát Dallas, khi bước đến gần căn apartment của cô ở lầu 3. Lúc ấy khoảng gần 10 giờ đêm. Cô về muộn hơn mọi ngày sau ca trực kéo dài suốt 14 tiếng. Một ngày đầu tuần khá mệt mỏi và nhức đầu vì những chuyện lỉnh kỉnh chẳng đâu vào đâu. Cô cần nghỉ ngơi để lấy lại sức. Khi vừa tra chìa khóa vào ổ khóa cửa phòng, Genny cảm thấy có điều gì bất thường. Cô luôn cẩn thận khóa cửa, tắt đèn mỗi khi rời nhà. Cửa dường như không khóa, cô xoay nhẹ tay nắm cửa, cánh cửa mở he hé. Genny khẽ giật mình, đặt tay lên báng súng như một phản xạ tự nhiên. Ánh đèn vàng từ bên trong hắt ra. Genny suy nghĩ thật nhanh. Ngoài Dick ra, không ai biết chỗ ở của cô. Kẻ nào đã đột nhập vào phòng cô?... Genny rút súng, lùi lại một bước, tay giơ cao khẩu súng ngắn, chân đạp mạnh vào cánh cửa. “Đứng yên tại chỗ. Giơ tay lên!” Genny hét lớn. Cửa mở toang. Cô trông thấy một gã đàn ông ngồi dựa