DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,193,573

Trần Doãn Nho - ‘Người Đàn Bà Có Hai Con,’ một truyện tình lạ của Trần Thị NgH

Saturday, November 30, 20196:02 PM(View: 322)
Trần Doãn Nho - ‘Người Đàn Bà Có Hai Con,’ một truyện tình lạ của Trần Thị NgH

                                       ‘Người Đàn Bà Có Hai Con,’
        một truyện tình lạ của Trần Thị NgH

blank
Trần Thị NgH tên thật Trần Thị Nguyệt Hồng. (Hình Da Mầu)

Trần Thị NgH là một tác giả bắt đầu nổi tiếng vào những năm cuối cùng của chế độ VNCH.

Chỉ với hai truyện ngắn đầu tiên, “Chủ Nhật” và “Nhà Có Cửa Khóa Trái,” xuất hiện trên hai trong những tạp chí hàng đầu của văn học miền Nam thời đó là Văn và Vấn Đề, tên tuổi bà đã lập tức được văn giới và độc giả đánh giá cao và trở thành một hiện tượng văn học.

Sau 1975, cũng như nhiều nhà văn miền Nam khác, bà ngừng viết một thời gian dài, chỉ có mặt trên văn đàn trở lại vào khoảng giữa thập niên 1990.

Văn chương của bà không chỉ lạ ở câu chuyện mà còn lạ ở cách kể chuyện, cách viết. Mỗi truyện, bà có một cách kể riêng. Và do cách kể mà đôi khi, dù truyện có đề tài tương tự, đọc lên, nghe vẫn khác. “Người Đàn Bà Có Hai Con” là một trong những truyện như thế.

Điểm đặc biệt đầu tiên của truyện: có 18 tiểu mục, mỗi tiểu mục được đặt một nhan đề, lấy những nhóm chữ xuất phát từ các tác phẩm văn chương hay âm nhạc đã trở thành phổ biến: “ngày xưa hoàng thị,” “động hoa vàng” (thơ Phạm Thiên Thư), “mê lộ” (truyện Phạm Thị Hoài), “thiên đường mù” (truyện Dương Thu Hương), “vũng lầy của chúng ta” (nhạc Lê Uyên Phương), “lệ đá xanh” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “ru em từng ngón” (nhạc Trịnh Công Sơn), vân vân.

Mỗi tiểu mục đều khớp với từng đoạn “chuyện” của truyện. Bằng một giọng văn tường thuật với nhiều chi tiết hiện thực, khách quan, vừa nghiêm túc, vừa pha pha đôi chút giễu cợt, “Người Đàn Bà Có Hai Con” kể lại một câu chuyện tình, không có tình tiết nào quá éo le, gay cấn, nhưng nhiều khúc rẽ khá bất ngờ. Xin kể lại, tuần tự, tóm tắt vừa đủ để độc giả dễ theo dõi.

Câu chuyện bắt đầu giữa cô giáo và cậu học trò trong một lớp học đêm ở Sài Gòn, nơi dạy tiếng Anh cho những người mang mộng xuất cảnh vào thời điểm đất nước đã phần nào mở cửa. Học trò, 20 tuổi, tên Kiệt, có “khuôn mặt xương xương, lưỡng quyền hơi cao, cằm nhọn, hai mắt nhỏ, tóc phía sau chưa đủ dài mặc dù phần úp trước trán bầu tròn và dày.” Đây là một học trò chăm chỉ, “trầm tĩnh nghe bài giảng, ghi chú cẩn thận và chịu khó phát biểu trong giờ đàm thoại.” Cô giáo, tên Doãn, mới 37 tuổi, nhưng trông “quắt queo,” dáng người “khô khô,” giọng “to, rõ, hơi dữ;” nhan sắc thì “cực kỳ trung bình,” “hàm răng sạch,” ăn mặc giản dị, “không đeo nữ trang, thoa son môi thật nhạt, và đi xe đạp.”

Lúc đầu, cô giáo không mấy thích cậu học trò này, nhưng về sau, khi vào lớp mà chưa thấy Kiệt, thì cảm thấy “hơi hẫng.” Riêng cậu học trò thì lại tò mò, “thấy tung tích cô thật bí mật, cách hành xử không giống các giáo viên khác. Mạnh mẽ như đàn ông trong lúc giảng dạy, cười nói thân tình với các đồng nghiệp trong phòng giải lao nhưng rồi thu lại nhỏ xíu lạnh ngắt khi chỉ còn lại một mình.” Vì thế, cậu “quan sát cô mọi góc cạnh, theo dõi từng động tác.” Không những thế, sau giờ học, cậu còn “kín đáo đạp xe theo phía sau” cô, cố giữ một “khoảng cách đủ xa để vẫn còn thấy cô bóng nhỏ đường khuya lẩn trong dòng xe cộ,” và cảm thấy cô giáo “tầm thường và lẻ loi đến tội nghiệp.”

Khi cô giáo tổ chức thêm lớp học ở nhà. Kiệt ghi tên theo học ngay. Do gần gũi, Kiệt nhìn thấy cô giáo trông trẻ hơn, hay mặc quần din xắn hai gấu lên khỏi mắt cá, có điều, “ngực cô lép xẹp.” Cô có một đứa con gái 10 tuổi tên là Bobo. Khi không có lớp, cậu lân la đến chơi nhiều lần. “Vào những lần xé lẻ đến thăm riêng cô giáo, Kiệt thấy cô Doãn còn nhiều ngóc ngách khác, im ỉm, đen tối và gây tò mò.” Dần dà, nó trở thành người thân, được cô mời ăn cơm gia đình, được “chở Bobo đi học” và có lúc, tình nguyện đưa đón cô “đi dạy khi cô ốm hoặc trời mưa.”

Thế rồi, Kiệt xin ở lại nhà cô. Và thế là, cô giáo Doãn, học trò Kiệt và Bobo trở thành một bộ ba: người đàn bà có hai con. Ba người “thường đi chơi chung cuối tuần, Kiệt chở bé Bo còn cô Doãn đạp xe một mình.” Trong nhà, Kiệt hành xử như một người con giỏi giang: xách nước tưới cây, phụ rửa chén bát, lau nhà, ủi đồ, có lúc còn cắt may áo cho cô, chẳng khác chi một cậu bé giúp việc.


blank
Một số tác phẩm của Trần Thị NgH. (Hình: sgtt.vn)


Một hôm, Kiệt “đòi ba mẹ con ngủ chung.” Cô giáo tuy có vẻ không bằng lòng, nhưng vẫn không từ chối, để xem thử thằng nhỏ giở “trò quái quỷ” gì. Và suốt đêm đó, cô “mở mắt thao láo quan sát Kiệt, quan sát mình. Đến gần sáng thì cô mềm người đi.” Từ đó, cậu học trò khám phá thấy một phía khác của cô giáo. “Đó là một người đàn bà cô đơn nhưng làm mặt ngầu.” Còn về phía cô giáo, cô đổi tính hẳn, trở nên “thuần thục dịu dàng thấy rõ, nét cười sém chút nữa là chập vào khóe mắt vui.”

Đến đây thì đúng là một chuyện tình được lập lại: vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng ba mươi mấy năm trước đó. Giống nhưng rất khác: cô Doãn không lãng đãng, tình tứ, dằn vặt bằng cô giáo Trâm; và cậu học trò Kiệt không thuộc “típ”con nhà giàu, ăn chơi, và mang nét lãng đãng “bụi” thời đại như Minh của Nguyễn Thị Hoàng. Và cái khác quan trọng hơn: cô giáo Trâm độc thân, trong lúc cô giáo Doãn đã có con.

Chẳng thế mà khác với Nguyễn Thị Hoàng, vòng tay học trò của Trần Thị NgH có một khúc gập hoàn toàn bất ngờ. Vì chỉ có nửa năm sau, thì vòng tay học trò Kiệt buông: cậu lên đường đi định cư ở Úc cùng với gia đình. Cô giáo Doãn vừa “thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng,” vừa cảm thấy “cái phần đời bấy lâu nay trĩu trĩu bỗng tênh tênh chao sang một phía như bị mất thăng bằng.”

Dằng dặc cho mãi đến sáu năm sau, cậu học trò mới trở về. Nhưng vật đã đổi và sao đã dời! Cậu học trò nghèo hèn ngày xưa trở thành Việt kiều, tóc thưa, hơi hói, xức nước hoa, “một chàng trai 26 tuổi, có bằng kỹ sư điện tử trở về từ nước ngoài, một người đàn ông đúng tiêu chuẩn mơ ước của các cô gái Việt Nam.”

Bé Bo, cô em bé bỏng, là “cô thiếu nữ đôi tám hai mắt nheo nheo rất nghịch với cách nói chuyện chỏi chỏi.” Và cô giáo Doãn, 43 tuổi, “da dẻ khô queo, tóc cắt ngắn, các cơ mặt đã dãn ra” và “xấu, lỗi thời.” Kiệt tìm thấy ở cô giáo ngày xưa có cái gì không thành thật, “với cái mu rùa an toàn bà ta ngoan cố chui ra chui vô mỗi ngày, cái tung tích bí ẩn mà hồi đó đã hút nó vào mê hồn trận.”

Sau đó, Kiệt năm nào cũng về thăm quê hương và rồi, xin làm việc luôn trong nước. Cảnh người đàn bà hai con đèo nhau đi dạo ngày nào, bây giờ biến thành một cảnh khác hẳn. Kiệt, “đầu sói sọi thắt cà-vạt ở villa đi xe Mercedes Benz có tài xế lái tay xách cặp Samsonite đeo đồng hồ Rado mang kính mát Rayban,” cô giáo Doãn, “mang kính lão,” khi dạy học, “một tay cầm quyền sách đang dạy tay kia đút túi quần, mắt nhướng nhướng đầu gật gật, giọng chùng,” và cô thiếu nữ Bobo lớn, đẹp, đàn hay khiến Kiệt lúc đầu chỉ muốn chinh phục cho thỏa tự ái, “về sau trở thành đam mê dằn vặt chịu không thấu.”

Vòng tay học trò trở thành vòng tay Việt kiều. Và người đàn bà hai con trở thành tình mẹ duyên con! Có thể nói, qua truyện ngắn này, Trần Thị NgH đã vẽ phác ra một trớ trêu mang đầy tính thời đại, một trong những nét lạ lùng của xã hội Việt Nam sau cơn địa chấn “thống nhất mà chia lìa” của biến cố Tháng Tư, 1975.

Trần Thị NgH, tên thật Trần Thị Nguyệt Hồng, sinh trưởng ở miền Nam Việt Nam. Trước 1975, cộng tác với Văn, Vấn Đề, Thời Tập, Thời Văn, Tiền Tuyến… Các tác phẩm đã xuất bản: “Những Ngày Rất Thong Thả” (1975), “Tập truyện ngắn Trần Thị NgH” (1999), “Lạc Đạn và 10 truyện ngắn” (2000), “Nhăn Rúm” (2012), “Ác Tính” (2018). Hiện sống rày đây mai đó, giữa Việt Nam và nước ngoài.


                                                          Trần Doãn Nho
                                                                                                                                              (từ: DĐTK)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, October 29, 20196:05 PM(View: 249)
Lần này, tiểu thuyết lịch sử Kẻ sĩ thời loạn của nhà văn Vũ Ngọc Tiến vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về chính trị xã hội thời cuối Lê đầy biến động của lịch sử VN, một thời kỳ nhiễu nhương và có nhiều phân chia sâu sắc giữa các thế lực quân sự: Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn, rồi thế chân vạc Trịnh - Nguyễn - Tây Sơn và lấy Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh, làm nhân vật chính. Nhà văn Vũ Ngọc Tiến chia sẻ là mình rất thích nhân vật phức tạp và có nhiều đánh giá trái chiều này. Cũng như với “Quỷ Vương” trước đó, tác phẩm này của Vũ Ngọc Tiến cũng đan xen lịch sử và thời hiện tại, cách viết của nhà văn là sử dụng nghệ thuật cốt truyện song hành, mượn chuyện xưa để nói nay mà tôi đã gọi đó là tiểu thuyết đồng hiện, ảo- thực, bóng và hình. Trong Kẻ sĩ thời loạn với cặp nhân vật chính là nhà di truyền học Duy Thiện và bà Hoàng Lan, hồng nhan tri kỷ của ông. Hai mạch truyện kể gắn với nhau, xưa và nay đan xen: Duy Thiện của thời hiện tại là người viết cuốn sách kể lại lịch sử cuộc đời của cụ
Thursday, October 24, 20197:04 PM(View: 502)
Lão Tư Lâm vội lấy tay bịt miệng mụ Tuyền Bếp lại, lão biết mụ yêu lão và ghen tức với tất cả những người đàn bà lão đi lại. - Tôi xin mụ, đêm hôm khuya khoắt thế này mụ nói to thế nhỡ mọi người nghe được thì ảnh hưởng đến tôi sao… Tôi gọi mụ ra đây chỉ để hỏi một câu: Mụ có đồng ý cho tôi đi học không? Nghe thế, mụ Tuyền Bếp lại rú lên cười. - Tôi là gì mà đồng ý cho lão đi học chứ? Cấp trên cho lão đi thì lão cứ đi, chả mất gì, cứ ngồi chơi vẫn được công điểm. Sau này về làng lại được đề bạt làm cán bộ. Biết đâu chức chủ tịch chả rơi vào tay lão. Lúc đấy, mụ này lên xã xin cái triện có nói rã bọt mép chắc gì lão đã cho… Lão Tư Lâm lập tức vật mụ xuống đất ngay trước cửa lò, lột phăng quần áo mụ ra, cười nhăn nhở: - Không cần phải đến lúc làm chủ tịch xã Tư Lâm mới cho mụ triện. Lão cho mụ triện ngay đây… Mụ cần bao nhiêu cái lão cho đủ hết… Mụ Tuyền Bếp rú lên trong sự sung sướng tột cùng, lão Tư Lâm phải bịt miệng mụ lại, quát mụ: - Kêu cũng khẽ khẽ thôi, kẻo người ta
Saturday, October 19, 20199:37 AM(View: 456)
(h.VTD) Trần Tuấn Kiệt qua đời vào chiều ngày 8 Tháng Mười, 2019, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Mồ côi mẹ lúc 8 tuổi nên thuở bé ông sống với bà ngoại tại vùng tản cư ở Đồng Tháp Mười. Năm 1950, lúc 11 tuổi lên Sài Gòn, theo học ở trường Tân Thanh với các giáo sư như Tam Ích, Thiên Giang, Bùi Giáng, Đồng Tân… và sau học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc về bộ môn thổi sáo và đàn tranh, theo học một năm rồi bỏ ngang. Với năng khiểu bẩm sinh, khởi đầu nghiệp cầm bút, thơ xuất hiện trong mục Hoa Hàm Tiếu, giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh; gia nhập Văn Đàn Bạch Nga và cộng tác tờ bán nguyệt san Phổ Thông (1958-1971) của Nguyễn Vỹ… Tam Ích giới thiệu vào làng báo ở Sài Gòn. Từ cuối thập niên 1950 ông đã cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí cho đến Tháng Tư, 1975. Bút hiệu Sa Giang ghép từ quê nhà Sa Đéc và Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất có nhiều dòng sông với Cửu Long Giang. Với thơ ông ký Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, với văn ông ghi Trần Tuấn Kiệt. Ngoài ra ông còn nhiều bút hiệu khác như:
Monday, October 14, 20197:29 PM(View: 397)
Tôi kính trọng những nhà thơ. Trong mắt tôi, họ là những người dũng cảm bậc nhất. Hoặc gan lì, cũng bậc nhất luôn. Giữa thời thiên hạ tối tối dán mắt vào ti vi, sáng sáng lướt rao vặt trên báo chợ, ngốn tiểu thuyết trinh thám trên xe điện ngầm, trên máy bay… mà vẫn cứ có những nhà thơ, những nhà thơ này vẫn bình tĩnh làm thơ được, mới lạ. Ngó vào số lượng in ở trang cuối mỗi tập thơ lại càng thêm kính phục họ. Các nhà thơ hậu duệ của Beaudelaire, Verlain, Apollinaire, của Goethe, Schiller… đều ngán ngẩm khi nói đến tình trạng thê thảm của sự đọc thơ thời bây giờ – đời thuở nhà ai mà một tập thơ bán được một ngàn bản đã là của hiếm trên đất nước đông đúc bảy tám chục triệu dân cơ chứ. So với họ, các nhà thơ Việt của chúng ta ở hải ngoại còn dũng cảm hơn nhiều. Và cũng may mắn hơn nhiều, nếu so số lượng xuất bản trên tỷ lệ số dân. – Dũng cảm gì đâu. – Du Tử Lê cười hiền lành – Không hề. Gàn dở, thì đúng hơn, ông ạ. Khốn nạn, tôi, và tất cả tụi làm thơ chúng tôi, chạy không nổi
Wednesday, October 9, 20196:01 PM(View: 630)
Trần Tuấn Kiệt, bút hiệu chính là Sa Giang, có khi ông dùng luôn Sa Giang Trần Tuấn Kiệt ký dưới những bài thơ. Còn văn, ông chỉ thường ký tên Trần Tuấn Kiệt. Sau năm 1975, khi các đầu nậu sách muốn in sách để bán, vì những truyện của các nhà văn miền Bắc viết ca tụng đảng, ca tụng chế độ – thời đó gọi là văn chương minh họa – đã khiến độc giả “chán đến tận cổ” không muốn đọc nữa, thì những nhà xuất bản tìm những sách cũ của miền Nam trước bảy lăm, viết về tình yêu, về võ thuật, về kiếm hiệp, về chưởng, nghĩa là vô thưởng vô phạt, để in, thì Trần Tuấn Kiệt nhảy vô lãnh lãnh vực này ngay, ông ký nhiều bút hiệu khác nhau như Việt Thần, Việt Long, Duy Thức, Hồng Lĩnh, để viết truyện võ thuật, kiếm hiệp, sách dạy nấu ăn, sách dạy võ, đủ mọi đề tài ông đều bao dàn cả, đầu nậu sách cần loại gì là ông có loại sách đó cho ra mắt độc giả chớp nhoáng. Đó là cuộc sống của Trần Tuấn Kiệt, viết để câu cơm. Nhưng với ông, Thơ vẫn là người bạn đồng hành, ông viết tất cả mọi đề tài để nuôi sống ông