DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,494,901

Trần Yên Hòa - Làng Quê Thấm Máu

Monday, December 23, 20198:51 PM(View: 3113)
Trần Yên Hòa - Làng Quê Thấm Máu
                                           Làng Quê Thấm Máu



Image result for ám sát



Căn nhà từ đường kiểu cũ, nơi thờ phượng họ tộc mà cha Nại đã giữ được trong mấy mươi năm. Mấy mươi năm trôi qua từ ngày tiêu thổ kháng chiến. Ngày đó, nông dân vùng lên làm cách mạng đánh Nhật, đuổi Tây. Tây đóng đâu tận Đà Nẵng, Hội An nên được gọi là vùng bị chiếm, còn vùng nầy là vùng tự do, có Ủy Ban Hành Chánh Xã, có chính quyền cách mạng.


Thời đó, trong một phiên họp của Ủy Ban Hành Chánh quyết định tiêu thổ kháng chiến để chống quân Pháp đi càn, tất cả các nhà ngói, nhà rườn phải giở đi, phá đi, trong đó có căn nhà từ đường của họ tộc nhà ông. Ông Ngọ đứng lên phản đối. Tại sao phải giở căn nhà tự đường đã có trên mấy trăm năm. Nơi đó, ông đã thờ phượng ông bà, cúng giỗ hàng năm. Con cái, cháu chắt về đông chật cả căn nhà rộng. Cuộc họp tan trong sự hậm hực của Ủy Ban Hành Chánh. Cũng may mà ông Ngọ đứng lên phản đối nên công việc tiêu thổ kháng chiến của xã tạm thời ngưng thi hành. Sau đó mấy tháng thì rục rịch có tin ký hiệp định đình chiến. Nhờ vậy, căn nhà được trụ lại cho đến bây giờ, hơn hai mươi mốt năm.

Hàng năm các con ông Ngọ mỗi lần kỵ giỗ đều trở về đây lạy tạ ông bà. Nhưng ông Ngọ thì đã ra đi không trở về quá sớm.

Quốc gia tiếp thu. Ông Ngọ ra làm chủ tịch xã. Dù ông là đảng viên Việt Quốc nhưng khi mới thành lập chính quyền, chế độ Ngô Đinh Diệm cũng cần có những người như ông trợ lực. Ông làm việc cần mẫn, liêm khiết, nên chỉ mấy năm sau hòa bình lập lại, dân chúng ai cũng đều có chén cơm ăn, cuộc sống an nhàn hơn. Cơ quan Hội Đồng Hương Chính đặt phía dưới đường quốc lộ, nằm sát bên là truờng tiểu học và bịnh xá của xã. Bên kia sát mé bờ sông là chợ, người dân mua bán tấp nập, ồn ào náo nhiệt, thật đông vui.

Một hôm, ông Lê Văn Giáo, truởng chi công an quận, cho tài xế lái xe jeep cùng một đoàn tùy tùng vào thăm xã. Ông Ngọ tiếp đón nồng hậu. Ông Giáo đầu hớt tóc ngắn, bận áo quần kiểu hiến binh cũ, cùng đám năm sáu người bận thuờng phục nhưng ai cũng biết đó là công an chìm.

Ông Ngọ mời ông Giáo uống nuớc trà, hút thuốc Cẩm Lệ. Ông Giáo lấy trong túi áo ra một gói Melia vàng, quăng xuống bàn ra chìều trịch thuợng, rồi ông Giáo nói:
- Tôi về thăm xã đuợc ông chủ tịch cho biết tình trạng an ninh của xã tốt, tôi rất mừng. Ở những xã miền trên, số cán bộ cộng sản đi tập kết còn sót lại nhiều, họ đào hầm bí mật mà ở, lợi dụng thời cơ hoạt động trở lại. Luật số 10/59 vừa đuợc ban hành là phải tận diệt Việt cộng, nên chúng ta phải đề cao cảnh giác. Nhân đây, tôi cũng có ý kiến với ông chủ tịch là, theo sự gợi ý của ông quận truởng và của cha sở chánh xứ, xin ông cho xây trong công viên hội đồng xã nầy một nhà thờ công giáo. Ngô Tổng Thống là nguời công giáo, ông quyết một lòng chống cộng, nên để toàn dân nhất tâm chống cộng thì hãy kêu gọi họ vào đạo công giáo. Ý ông thế nào?

Ông Ngọ ngồi bật nguời ra sau. Tuy mấy năm gần đây đạo công giáo được sự che chở của chính quyền đã lan tràn mạnh mẽ. Họ áp lực người dân phải theo đạo, nguời nào nghèo không đủ ăn thì theo đạo sẽ được phát gạo ăn. Còn những gia đình có thân nhân đi theo cộng sản tập kết, hay số ở lại quy hàng chính quyền quốc gia cũng bị chính quyền làm khó dễ, hết học tập tố cộng rồi diệt cộng, học hết ngày này qua ngày khác, kéo dài hàng tuần, hàng tháng. Cuối cùng nếu những người đó chấp nhận theo đạo thì sẽ đuợc hết theo học và còn đuợc phát gạo ăn.

Ông Ngọ rất bất bình với công việc trên. Gia đình ông là một gia đình Phật giáo thuần thành suốt mấy đời. Và cả dân xã ông cũng vậy, dù họ không theo Phật nhưng họ thờ cúng tổ tiên, thỉnh thoảng, ba mươi, mồng một hay ngày rằm, tết nhứt, họ đi chùa. Máu huyết đạo Phật đã thấm nhuần vào tim họ. Bây giờ chính quyền cấp trên còn muốn bắt ông chấp nhận cho họ xây nhà thờ ở đây, trong khuôn viên cơ quan Hội Đồng Hương Chính, ông làm sao chịu đuợc.

Ông Ngọ ngồi thẳng trở lại và tằng hắng một tiếng, rồi ông đáp lời:
- Thưa ông truởng chi! Tôi biết từ lâu dân xã tôi vẫn theo đạo Phât rất nhiều, họ đã tự nguyện đóng góp tiền để làm cái chùa trong xóm. Nơi đó, dân chúng Phật tử đến chiêm bái Phật. Tôi thiết nghĩ, có lẽ bên Thiên Chúa các ông cũng vậy thôi. Muốn lập nhà thờ thì nên tìm chỗ nào có khu đất rộng, khang trang, đông đúc dân cư, thì tiện hơn, chứ ở đây là cơ quan hội đồng xã, xây nhà thờ sao tiện.

Nghe ông Ngọ nói xong, mặt ông Giáo cau lại. Ông không ngờ ông Ngọ có thể phản đối công việc xây nhà thờ của quận. Đã qua một số xã trong quận, công việc xây nhà thờ khá suôn sẻ.
Ông Giáo gầm gừ trong miệng:
- Tôi nói với ông chủ tịch là nói cảm tình, nhưng thật ra đây là lệnh của cấp trên. Ông bằng lòng hay không thì tùy, tôi sẽ về báo cáo lại với ông quận truởng.

Nói xong ông Giáo đứng dậy hầm hầm cáo từ ra về, dù trong dự tính, ông Ngọ đã cho mấy nguời dân vệ chạy về nhà ông báo tin cho bà Ngọ lo nấu cơm đãi khách. Ông Ngọ biết ông Giáo giận nhưng ông cũng nói:
- Lâu lâu ông truởng chi mới vào thăm xã, tôi đã báo với bà nhà tôi lo làm cơm mời quý ông một bữa, xin ông vui lòng ghé nhà tôi dùng bữa cơm đạm bạc.
Ông Giáo vẫn vẻ mặt khó đăm đăm, trả lời:
- Hôm nay tôi bận việc. Thôi xin ông để cho khi khác.

Nói xong ông đi thẳng ra xe. Bốn, năm nguời công an bận thuờng phục thấy ông đi ra vội chạy tới mở cửa xe cho ông lên. Nhìn gương mặt ông truởng chi, họ biết ông đang giận, nên họ im lặng leo lên ngồi phía sau xe, chiếc xe đuợc lệnh chạy thẳng về quận lỵ.
 
                                                                                             ***
 
Khoảng ba tuần sau, một đêm tối, ông bà Ngọ ra ngoài cơ quan Hội Đồng Hương Chính chơi. Ông vẫn coi cơ quan như là nhà của mình. Buổi tối ông thường cùng bà ra đây. Ở đây có một phòng thông tin rất nhiều sách báo, mọi nguời dân ai muốn đọc sách báo thì đến đọc. Một chiếc đèn măng sông soi sáng cả căn phòng rộng. Mấy ông già thì bày cờ tuớng ra đánh.

Khoảng muời giờ, phòng Thông Tin đóng cửa. Ông bà ở lại về sau cùng sau khi đã khóa cửa kỹ luỡng. Trời đêm tối mịt mù, ông cầm cái pin và soi đuờng cho bà đi. Qua khỏi ngã ba chợ, ông bà quẹo theo đuờng đất đỏ về nhà. Có mấy cái bóng nguời đi qua truớc ông bà, ông cứ nghĩ đó là anh em dân vệ đi tuần đêm. Khi ông bà đi lên qua khỏi ngôi chùa làng một chút, bà đi truớc, ông đi thụt về phía sau, thì từ trong bụi rậm nhảy ra một bóng đen, chận ông Ngọ lại.

Ông hỏi:
- Ai đó?
Bóng đen không trả lời, loáng một cái, bóng đen cầm súng ria thẳng vào ông Ngọ, ông Ngọ kêu lên cái hự và nằm gục xuống. Bà Ngọ quay trở lại thấy ông Ngọ đã nằm sòng suợt trên đất, bà hoảng hốt kêu lên:
- Bớ làng cứu tôi, bớ làng...

Bóng đen thoát qua nguời bà và chạy thẳng vào bãi cát xa. Mọi nguời nghe tiếng kêu cứu, vội vã cầm đèn ra đến nơi thì thấy ông Ngọ nằm sõng soài trên vũng máu. Họ lấy võng bỏ ông lên và khiêng ông về nhà. Đến nơi, đặt ông nằm trên tấm phản ngựa giữa nhà, soi đèn kỹ lại thì thấy ông đã tắt thở.

Bà Ngọ nghe tin ông Ngọ đã chết, bà ngất lên ngất xuống, xỉu lên xỉu xuống mấy lần. Đứa con trai lớn làm việc ở Pleiku, đứa thứ hai đang học ngoài Hội An. Chỉ còn có anh Đạc và Nại ở nhà. Cả nhà ôm xác ông Ngọ mà khóc. Cái hạnh phúc và cái bất hạnh thật nối liền nhau. Mới ngày hôm qua Nại còn ngồi trong lòng cha, kể cho cha nghe chuyện học hành ở lớp. Hôm nay nàng đã ôm thân thể ông Ngọ đầy máu me, thân hình lủng nhiều vết đạn, ông nằm im bất động. Những con ruồi xanh từ đâu nghe hơi máu bay kêu vo vo, la đà đậu trên tấm ra trắng đắp qua thân hình ông Ngọ. Phía trên là một bình hương, để một chén cơm trắng và một cái trứng gà luộc đã bóc vỏ.

Ngày đó, Nại còn rất nhỏ, hình như nàng đang học lớp đệ thất ngoài thị xã. Nàng trở về nhà nghỉ thứ bảy, chủ nhật, thì ông Ngọ bị nạn.

Sáng hôm sau, ban hội Đồng Hương Chính liền báo khẩn về quận việc ông Ngọ bị sát hại. Ông quận truởng Đặng cấp tốc cho đánh xe vào thăm và lên án gắt gao bọn cộng sản nằm vùng, đã âm muu ám sát ông Ngọ, một vị chủ tịch mà dân ai cũng cảm mến.

Ông quận truởng Đặng thắp hương truớc quan tài ông Ngọ và có lời thảm thiết:
- Chúng tôi rất lấy làm buồn khi đuợc tin ông Phạm Ngọ, một chiến sĩ quốc gia chân chính đã bị cộng sản âm mưu sát hại. Chúng tôi cố gắng hết sức để trả mối thù này cho gia đình nạn nhân. Truớc hết, tôi sẽ can thiệp để các con ông Ngọ được huởng quy chế Quốc Gia Nghĩa Tử, mong đem lại một chút an ủi cho gia đình. Chúng tôi cầu nguyện linh hồn ông Ngọ đuợc siêu thăng tịnh độ và mong gia đình bớt buồn đau.

Những tiếng thở dài rất nhẹ của những nguời đi tham dự. Đám tang đuợc diễn ra sau đó với thật đông đồng bào từ các thôn, ấp xa, nghe tin ông mất, đã tới thăm viếng và đưa tiễn. Ba phát súng của dân vệ bắn lên trời để đưa ông khi quan tài hạ huyệt. Bà Ngọ và những đứa con lăn lộn khóc.

Trong đám đông có tiếng nói rỉ tai nhau:
- Việt cộng ở đâu mà giết ông Ngọ, chỉ bọn công an chìm lập mưu ám hại ổng thôi. Ông không cho xây nhà thờ ở xã nên họ muốn triệt hạ ổng. Tội nghiệp một con người cương trực.
 
Những năm sau đó, Nại vẫn còn ám ảnh về cái chết của cha mình. Nàng lúc nào cũng thấy cha chập chờn trong những cơn mộng dữ, thân hình ông máu me, quằn quại. Nàng ôm lấy cha và khóc thét lên. Hình ảnh ấy bám chặt, ăn sâu tận cùng tâm tuởng nàng, một tuổi thơ dữ dội.

Sau đó, ông Diêu, một chân thư ký trong Ban Hội Đồng, một Thiên chúa giáo tân tòng, được lên thay ông Ngọ.

Những ngày đau buồn đó đã qua. Bà Ngọ sống âm thầm cùng các con, lo cho các con ăn học. Toàn, người anh cả đã thành danh, đã hoạt động có tiếng tăm trong chính giới. Còn những người con khác cũng có bằng cấp và nghề nghiệp. Dĩ vãng lùi dần phía đàng sau, nhưng mỗi khi nghĩ lại ngày ông Ngọ bị bắn chết với viên đạn của kẻ vô danh, bà Ngọ lại nghe lòng mình đau nhói.



                                                                  Trần Yên Hòa
                                                                                                                                                                (Tác giả gởi)
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, May 14, 20214:16 PM(View: 19)
Bước vào năm Bính Tý (1996), Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng. Ông ký nhiều bút hiệu, trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ, Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bàng Giúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng (truyện dịch Khung Cửa Hẹp, Hoàng Tử Bé)... Trong sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ trí tuệ đến con người, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có) dù dơn phương cũng là hiện tượng. Chữ nghĩa, tư tưởng Bùi Giáng có sẵn trong đầu, khi yều cầu bài viết, lấy giấy viết ngay. Hiện tượng Bùi Giáng. Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca. * Ngược Dòng Thời Gian Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926
Monday, May 10, 20216:27 AM(View: 100)
Tháng 12 năm 2017, sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch sử” được xuất bản. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), do chính các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan (CSVSQ) của TVBQGVN thực hiện. (link: “giới thiệu sách TVBQGVN – TDLS”). Sau quyển sách trên, rất nhiều CSVSQ của TVBQGVN bày tỏ ước mong được nhìn thấy một tác phẩm viết về TVBQGVN và về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, để giúp cho các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, hiểu biết về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng trước năm 1975. Lý do chiến đấu và hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản để bảo vệ nền Dân Chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam, đồng thời bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó là lịch sử của TVBQGVN và sứ mệnh của người sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam. Để đáp lại niềm mong ước đó, tháng 8 năm 2018,
Sunday, May 9, 20217:22 AM(View: 88)
Từ nghìn xưa cho đến nay – trên quê hương chúng ta – hình ảnh người mẹ là hình bóng thiêng liêng, cao quý nhất… không hết lời ngưỡng mộ trong dòng văn học nghệ thuật. Mẹ từ khi “mang nặng đẻ đau”, cưu mang, nuôi nấng, dạy dỗ khi con chào đời cho đến khi trưởng thành, xa cách và khi về già. Nói đến mẹ là nói đến trái tim nhân bản, hy sinh và thương yêu vô bờ bến cả cuộc đời cho con đến khi nhắm mắt. Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại. Trước năm 1975, ở miền Nam VN không có Ngày Hiền Mẫu, Ngày Của Mẹ… để nhắc đến, để vinh danh, để nhớ vì với người con, hình bóng đó gắn liền với ngày tháng cuộc đời. Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ. Gởi đến mọi người những ca khúc tiêu biểu. Và, thân tặng với những ai không còn mẹ
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 139)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 234)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con