DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,216,139

Thái Sinh - Đảng viên Tư Lâm

Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 88)
Thái Sinh - Đảng viên Tư Lâm

Đảng viên Tư Lâm

Image result for tranh nude

Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch…
Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp.
Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào.
Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được?

Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi:
- Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho làng Tào. Đồng chí Tư chưa là đảng viên thì chi bộ lớp phải có trách nhiệm giúp đỡ để đồng chí ấy trở thành đảng viên…
Sau khi lão Tư Lâm được giới thiệu trở thành cảm tình Đảng, chi bộ phân công Trần Duy Đức và Hà Bích Hạnh giúp đỡ. Lão Tư Lâm chân thành:
- Xin cảm ơn chi bộ, tôi rất xúc động được hai đồng chí Đức và Hạnh giúp đỡ. Tôi xin hứa sẽ cố gắng hết mình, không phụ lòng mong đợi của các đồng chí…

Đức là người làng Lủa có nghề mua chó bán cho các quán ở Hà Nội, còn Hạnh người làng Phùng Thương. Hạnh mới hai ba tuổi, dáng người cao ráo, mặc dù là nông dân sớm khuya lội bùn nhưng trắng trẻo ăn đứt nhiều cô gái thành thị. Cô lấy chồng khi mới mười chín tuổi, cưới nhau được sáu tháng thì chồng nhập ngũ, cô ở nhà chăm sóc bố mẹ chồng và đàn em. Một tay cô lo lắng việc nhà và đồng áng, trong phong trào Ba đảm đang cô luôn là người đứng đầu xã. Điều đó không mấy người chú ý. Chỉ khi cô tay không bắt sống giặc lái ở đầm Vông thì tiếng tăm của cô mới nổi như cồn.

Cách nay ba năm, máy bay giặc Mỹ mang bom đánh phá đập Phùng thì trúng đạn phòng không của ta. Phi công bị tên lửa bốc cháy ngùn ngụt, nhảy dù ra khỏi chiếc máy bay đang rơi xuống đầm Vông. Lúc đó cô Hạnh đang bừa ruộng, vội buộc thừng trâu vào tay bừa chạy như gió tới đầm Vông. Tên phi công bị vướng dù đang ngoi ngóp giữa những đám rong rêu, cô lao ra túm lấy cổ áo hắn lôi vào bờ.

Phải cố hết sức cô mới lôi được cái thân hình to tướng nặng hơn cối xay ra khỏi những mớ rong rêu và hoa súng, suýt nữa thì cô cũng chìm theo hắn. Do bị thương ở chân không đứng dậy được nên hắn cứ quỳ dưới đất lạy cô như tế sao. Lúc này cô nghĩ tới người chồng đang chiến đấu ở mặt trận nên toan giơ chân đạp vào mặt hắn một cái cho bõ tức, vừa lúc mọi người chạy tới. Có ai đó kêu to:
- Không được đánh tù binh! Không được đánh tù binh, bắt giải lên huyện…

Mọi người xô đến bâu quanh tên giặc. Mặc dù tay mọi người đang cầm đòn gánh, roi bừa, cuốc, xẻng…, nhưng không ai nỡ đánh tên phi công, họ chỉ chửi bới và nhổ nước bọt vào hắn. Tên giặc lái cúi đầu lạy mọi người, hắn nói gì không ai hiểu, chỉ khi hắn xé ống quần lộ ra bắp chân vỡ toác thì mọi người mới biết hắn bị thương. Phải một tiếng sau người ta mới khiêng hắn ra khỏi đầm Vông đưa lên xe chở lên huyện.

Sau chuyện bắt giặc lái, Hà Bích Hạnh được báo chí rầm rầm ca ngợi, các nhà báo đến tận nhà phỏng vấn, rồi theo cô ra đồng chụp ảnh, quay phim cô đang làm ruộng. Chồng cô là thượng sĩ  Nguyễn Công Cảnh đang chiến đấu ở mặt trận sau khi nghe đài, xem báo viết thư về: “Anh vô cùng cảm phục lòng dũng cảm của em. Mấy năm chiến đấu anh chưa từng giáp mặt một tên lính Mỹ nào. Ước sao một ngày nào đó anh tóm cổ được một thằng tù binh Mỹ như em đã tóm cổ tên giặc lái kia…”.

Hà Bích Hạnh trở thành biểu tượng người phụ nữ ba đảm đang và dũng cảm của cả nước. Ít tháng sau cô được kết nạp đảng rồi cử đi học lớp cán bộ nguồn cùng lão Tư Lâm ở làng Tào.
Một hôm Trần Duy Đức bảo Tư Lâm:
- Lâu rồi không được chén bữa thịt chó, thèm quá, hôm nào ông cùng tôi chén một bữa cho đã…
Lão Tư Lâm sờ túi thấy chỉ còn vài đồng nên rất ái ngại, chả lẽ đi ăn thịt chó lại để người giúp đỡ mình vào Đảng trả tiền thì còn ra thể thống gì nữa, liền bảo:
- Để hôm khác đi ông, nói thật tôi chỉ còn mấy đồng thôi…

Đức cười khục khục trong cổ rồi xua tay:
- Khỏi lo. Ông kiếm cho tôi cái bao tải là được rồi.
Thực tình lão Tư Lâm chẳng hiểu hắn bảo kiếm bao tải làm gì, nhung cũng làm theo yêu cầu của hắn. Nhá nhem tối hôm đó, hai người đi tản bộ vào làng rất thong dong, Đức cắp chiếc bao tải vào nách như thể sắp mua cái gì đó.

Lúc này mọi nhà đã lên đèn, sắp sửa ăn cơm tối. Hai người vừa đi vừa nói chuyện qua nhiều con ngõ, chợt Đức dừng lại bên cành hàng rào ô rô gần bìa làng, tay lão quờ một vật gì đó dưới chân. Chỉ nghe tiếng “oẳng” một tiếng thì đã thấy một con chó chừng bảy, tám cân đang giãy giụa trên tay hắn. Rất nhanh, hắn đút con chó vào trong bao tải cắp vào nách như không có chuyện gì xảy ra. Con chó nằm trong bao tải run sợ chỉ ư ử vài tiếng rồi im. Loáng cái hai người ra khỏi làng đi thẳng tới quán thịt chó đầu phố huyện. Đức đi quành ra phía sau nơi chủ quán nhốt chó trước khi làm thịt. Tư Lâm nghe Đức nói với chủ quán:
- Con này em chỉ xin bác hai bữa, nhẹ nhàng thôi bác ạ…

Trưa hôm sau tan học, hai người cắt cơm đạp xe ra quán thịt chó cách trường chừng hơn một cây số. Mùi thịt chó nướng thơm lừng. Đã lâu rồi lão Tư Lâm không được ăn miếng thịt chó nên nước bọt cứ trào ra phải nuốt vội. Chủ quán xếp mâm cho hai người ngồi ăn ở căn buồng phía trong, ông ta xun xoe:
- Con này chưa đi tơ, thịt rất mềm và ngon. Thế nên các cụ mới bảo cầy tơ bảy món. Chán nhất là chó già. Bận sau cứ con tháu tháu mà mần. Chúc hai anh cán bộ nguồn ngon miệng…

Lão Tư Lâm vừa ăn vừa ngẫm nghĩ, buột miệng:
- Hay! Hay…
Trần Duy Đức gắp miềng dồi chó chưa kịp đưa vào miệng nghe thế dừng lại hỏi:
- Ông bảo hay cái gì?
- Bây giờ tôi mới hiểu cái tài của trai làng Lủa bắt chó lẹ như bắt dế. Làng mình mỗi ngày cung cấp cho Hà Nội mấy tấn chó nhỉ?
- Không dưới mười tấn. Mà ông tìm hiểu chuyện đó làm gì. Rượu làng Tào của ông uống ngon đấy. Tôi đang nghĩ sau này học xong về làng chưa biết tìm phương hướng phát triển kinh tế cho làng như thế nào. Chẳng lẽ lại là làng bán chó, khó nghe lắm. Làng Tào gọi là làng rượu truyền thống nghe rất hay…

Uống cạn chén rượu, lão Tư Lâm lúc đó có vẻ chếnh choáng khua khua đôi đũa trên tay:
- Bây giờ gọi là làng nấu rượu truyền thống, nhưng tôi sẽ biến làng Tào thành làng công nghiệp rượu trong dăm mười năm nữa. Còn làng Lủa cứ phát huy truyền thống mua bán chó của làng, ông ạ…

Ngày chủ nhật, những học viên có gia đình ở gần thì chiều thứ bảy họ đều tranh thủ về nhà giúp gia đình cày bừa, gặt hái hay dọn dẹp nhà cửa. Lão Tư Lâm thi thoảng ở lại trường. Hôm ấy chả hiểu vì sao mọi người về hết chỉ còn lão và Hà Bích Hạnh ở lại trường. Ăn cơm chiều lão cởi áo ngồi dưới gốc nhãn phe phẩy chiếc quạt ngắm đàn cá cờ bơi lội dưới ao đớp những cánh bèo dâu trước cửa trường mà không hay Hạnh đang đi lại phía sau. Cô nhìn thân hình vạm vỡ của lão với những thớ thịt cuồn cuộn nổi lên như những luống cày, khiến cô nhớ tới Cảnh, chồng cô dáng đậm chắc nhưng không vâm váp như lão Tư Lâm. Như vậy là anh ấy nhập ngũ đã hơn ba năm rồi, sáu tháng nay cô không nhận được thư của anh ấy. Mọi người bảo chắc anh ấy vào sâu phía trong, nên thư từ gửi từ mặt trận ra không dễ dàng gì. Cô nhớ Cảnh, mong sao anh được về phép mấy ngày…

Hạnh tới sát bên lão Tư Lâm cầm chiếc quạt trên tay lão, khiến lão ngạc nhiên ngước nhìn Hạnh trong bóng chiều đang sẫm dần.
- Kìa cô Hạnh, tôi nghĩ ăn cơm chiều xong cô về nhà chứ. Làng cô cũng gần thôi mà, đi bộ chừng hai tiếng là tới. Hay để tôi lấy xe đạp đèo cô về?
Hạnh lắc đầu:
- Em mới về tuần trước, nhà cũng chẳng có mấy việc, bố mẹ chồng em bảo con về ít thôi, ở lại trường cố gắng mà học, chồng con ngoài mặt trận cũng khuyên như thế…

Ngừng một lát, cô bảo:
- Trên đê rất mát, hoa sen mùa này đang nở thơm ngất ngây. Hay chúng mình lên đó hóng mát đi anh, sau về ôn lại bài cũng được.
Lão Tư Lâm gật đầu vào nhà lấy áo mặc, hai người sóng đôi đi lên con đê cách trường mấy trăm mét. Họ đi thong thả trên con đê có rất nhiều cỏ may để tận hưởng những cơn gió mang đầy hơi nước từ đầm hoa sen dưới chân đê thổi lên mát rượi, nói những chuyện tầm phơ về mùa  màng, gặt hái và nấu mật mía.

Chừng đã mỏi chân, Hạnh ngồi xuống vạt cỏ dưới chân đê, cô dứt những cây cỏ may buộc lại thành túm, lão Tư Lâm thì đi xuống chân đê hái những bông hoa sen mang lên đưa cho Hạnh, cô hít hà mùi thơm dịu mát rồi nằm duỗi chân trên bãi cỏ. Trời đã tối, trăng lấp ló sau những rặng tre, ánh trăng như dát bạc trên những lá sen lung linh dưới mặt hồ.
- Anh Tư này, anh giúp em nhổ những sợi cỏ may trên quần em nhé. Hoa sen thơm quá…

Lão Tư Lâm thoáng chút ngỡ ngàng, nhìn Hạnh ôm bó hoa vào ngực đôi mắt lim dim như đắm mình trong mùi hương sen ngầy ngậy. Lão lặng lẽ nhặt, ánh trăng không đủ sáng để lão nhìn thấy từng chiếc hoa cỏ may li ti bám trên chiếc quần lụa đen của Hạnh, lão phải vuốt bàn tay lên chiếc quần lụa để lần tìm những chiếc hoa cỏ may. Hạnh nằm ườn ra, cặp đùi rắn chắc của cô khẽ khàng rung lên. Chợt Hạnh đặt bó hoa sen xuống đất, nắm lấy bàn tay lão Tư Lâm, đôi mắt long lanh nhìn lão, giọng lạc đi.
- Anh Tư!…

Lão Tư Lâm chợt hiểu, lão cúi xuống ôm chầm Hạnh ghì chặt vào lòng. Bàn tay phải luồn qua chiếc cạp quần lụa, còn bàn tay trái vội vàng mở từng chiếc cúc áo, hối hả xoa đôi bầu vú căng tròn của Hạnh, khiến cô rên lên khe khẽ.
- Anh Tư ơi… Em… em…
- Anh hiểu rồi…

Lão rút bàn tay ra khỏi quần Hạnh giơ lên ánh trăng, thấy một thứ gì nhóng nhánh. Lão thở hổn hển, tụt quần Hạnh ra ném lên bãi cỏ.
- Hạnh ơi, như thế này có vi phạm chính sách hậu phương quân đội không?
- Anh dở người à? Yêu em đi, bao nhiêu năm em khát đợi như thế này…

Khuya lắm họ mới trở về, trăng sáng vằng vặc, họ bước đi trong tiếng rế kêu rỉ rả, bản tình khúc của muôn đời bất tận. Lão Tư Lâm nắm chặt bàn tay Hạnh:
- Em là người giúp đỡ anh Tư vào Đảng nhỉ? Hãy tha lỗi cho những việc làm vừa xong của anh em nhé.
Hạnh cười rúc rích, đấm thùm thụp vào lưng lão Tư Lâm,.
- Anh đừng có lỡm nữa…

Cuối năm học thứ nhất, lão Tư Lâm được kết nạp đảng với sự giúp đỡ tận tình của hai đảng viên Trần Duy Đức và Hà Bích Hạnh.
Còn mụ Tuyền Bếp được kết nạp đảng sau khi lão Tư Lâm trở về làng Tào làm chủ nhiệm hợp tác xã.
Như vậy bạn đọc đã hiểu, không còn trách tôi là người bịa chuyện.


Ngày 17/8/2019
Thái Sinh
(từ: vv)



Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content
hoa_65-content
TYH và Cindy Tran



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, December 7, 201911:28 AM(View: 314)
Trong di chúc chính trị ngày 7-7-1963 của ông Nhất Linh, có một câu 28 chữ mô tả và đánh giá đầy đủ một trong những chính sách độc tài của chế độ Ngô Đình Diệm: “… Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản …”. Thật vậy, vì thừa kế bản chất phong kiến quan lại của dòng họ Ngô Đình và vì tâm địa cuồng tín của một con chiên Thiên Chúa giáo, ông Diệm và các anh em ông ta không bao giờ thừa nhận ai khác mình, lại càng không chấp nhận ai chống lại mình. Do đó mà trong chính trị, nhất là chính trị quyền bính, gia đình họ Ngô không chấp nhận đối lập và không ngần ngại “bắt bớ và xử tội” đối lập. Nhưng độc ác hơn cả là đã thủ tiêu những người khác chính kiến dù họ là những chiến sĩ quốc gia đã từng là những ân nhân, đồng chí, bạn bè của anh em ông Diệm. Ngoài hung thần miền Trung là Ngô Đình Cẩn đã sát hại các đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng, các nhà thầu ở Huế trong vụ án “Gián điệp miền Trung”, … ở trong Nam, Ngô Đình Nhu
Wednesday, December 4, 20196:54 PM(View: 358)
Hà Nội có tháp nước tròn to cao lừng lững hơn trăm năm tuổi, tọa lạc ở ngã năm các con phố Hàng Đậu – Hàng Than – Hàng Giấy – Quán Thánh – Phan Đình Phùng. Từ lâu nó không còn hoạt động, trở thành hiện vật bảo tàng ngoài trời về kiến trúc đô thị của Pháp ở xứ thuộc địa Đông Dương cuối thế kỷ 19. Trong ký ức của tôi, vào khoảng những năm 70-80 thế kỷ trước, đó còn là nơi tụ tập vào buổi sáng mỗi ngày của một đám bụi đời do Tâm sứt làm đại ca chỉ huy. Địa điểm tập trung là chân tháp nước tròn, trên vỉa hè nhìn ra vườn hoa Vạn Xuân còn gọi nôm na là vườn hoa Hàng Đậu. Hành nghề của đám bụi đời này chia hai nhóm: gánh nước thuê và móc túi trên tàu điện. Mỗi nhóm chừng năm đứa choai choai cỡ 14-15 tuổi, ban ngày hành nghề, tối ngủ ở chợ Hòe Nhai gần đó. Tâm sứt hồi ấy khoảng 18 tuổi, là con trai độc nhất của bà bán rau và dưa gang muối trong chợ. Hai mẹ con sống ở căn hộ nhỏ tại số nhà 20 phố Hòe Nhai. Ai đã từng sống ở Hà Nội thời bao cấp đều biết câu thành ngữ: “Thứ nhất Hòe Nhai, thứ hai
Saturday, November 30, 20196:02 PM(View: 405)
Trần Thị NgH là một tác giả bắt đầu nổi tiếng vào những năm cuối cùng của chế độ VNCH. Chỉ với hai truyện ngắn đầu tiên, “Chủ Nhật” và “Nhà Có Cửa Khóa Trái,” xuất hiện trên hai trong những tạp chí hàng đầu của văn học miền Nam thời đó là Văn và Vấn Đề, tên tuổi bà đã lập tức được văn giới và độc giả đánh giá cao và trở thành một hiện tượng văn học. Sau 1975, cũng như nhiều nhà văn miền Nam khác, bà ngừng viết một thời gian dài, chỉ có mặt trên văn đàn trở lại vào khoảng giữa thập niên 1990. Văn chương của bà không chỉ lạ ở câu chuyện mà còn lạ ở cách kể chuyện, cách viết. Mỗi truyện, bà có một cách kể riêng. Và do cách kể mà đôi khi, dù truyện có đề tài tương tự, đọc lên, nghe vẫn khác. “Người Đàn Bà Có Hai Con” là một trong những truyện như thế. Điểm đặc biệt đầu tiên của truyện: có 18 tiểu mục, mỗi tiểu mục được đặt một nhan đề, lấy những nhóm chữ xuất phát từ các tác phẩm văn chương hay âm nhạc đã trở thành phổ biến: “ngày xưa hoàng thị,” “động hoa vàng” (thơ Phạm...
Tuesday, November 26, 20196:39 AM(View: 542)
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đá, dưới tàn cây phong đã bắt đầu thưa lá vì những cơn gió mùa thu, những tia nắng yếu ớt, đến lưng trời thì nhạt dần, và cũng như mọi lần, sau ba vòng đi bộ, tôi đều đến chỗ này, nghỉ chân dăm ba phút, trước khi về nhà. Chung quanh tôi cảnh vật không có gì thay đổi, thay đổi chỉ là sắc màu của bốn mùa, hoặc mùa đến sớm hay muộn. Tối qua ông Văn gọi điện thoại, nói là ở Việt Nam mới về, chiều nay muốn gặp tôi khoảng 3 giờ để biếu quà. Thoạt đầu chúng tôi quen nhau, chỉ là đi bộ trên cùng một lộ trình, chào hỏi, nói dăm ba câu chuyện, rồi thành thân, riết rồi thân hơn bình thường, nên có chuyện gì vui buồn, ông cũng kể tôi nghe, thường thì nghe ông nói, tôi ít khi có ý kiến, vì một người, khi có chuyện buồn phiền, họ rất cần người để chia sẻ, chịu ngồi nghe, là giúp họ giải tỏa được rất nhiều căng thẳng, đó cũng là việc tốt, nên tôi hay nói đùa: - Ông đang giúp tôi tích phước, đáng lẽ tôi phải cảm ơn ông, không phiền đâu, ông cứ nói hết đi, thấy nhẹ lòng là
Thursday, November 21, 201910:10 AM(View: 413)
Trung Tá Alexander S. Vindman, một người Mỹ gốc Ukraine, vừa trở thành đề tài cho nhiều người Mỹ đánh giá lòng yêu nước của ông ta. Vị sĩ quan này sinh quán là Ukraine; ông được cha mẹ đưa vào lãnh thổ Mỹ năm mới lên ba. Dĩ nhiên, với tuổi đó ông không biết gì nhiều về Ukraine, và từ vài chục năm nay, ông đã nhận Hoa Kỳ là quê hương. Đến tuổi trưởng thành ông nhập ngũ, được gửi sang tác chiến tại Iraq và bị thương vì một quả mìn gài trên đường. Do thương tích, ông được sử dụng trong những công tác văn phòng ở hậu phương. Công việc văn phòng của ông là chuyên gia hàng đầu về Ukraine, phục vụ tại Hội đồng an ninh quốc gia (National Security Council), làm việc ngay trong Tòa Bạch Ốc. Trong lúc làm việc, hai lần Vindman chứng kiến Tổng Thống Trump điện đàm yêu cầu tổng thống Ukraine điều tra tìm tội lỗi của đối thủ chính trị tranh cử với ông. Vindman viết trong “lời nói đầu” của ông trước khi điều trần với Ủy Ban Truất Phế Tổng Thống, là “ý thức trách nhiệm” không cho phép tôi im