DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,216,123

Thái Sinh - Đảng viên Tư Lâm

Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 84)
Thái Sinh - Đảng viên Tư Lâm

Đảng viên Tư Lâm

Image result for tranh nude

Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch…
Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp.
Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào.
Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được?

Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi:
- Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho làng Tào. Đồng chí Tư chưa là đảng viên thì chi bộ lớp phải có trách nhiệm giúp đỡ để đồng chí ấy trở thành đảng viên…
Sau khi lão Tư Lâm được giới thiệu trở thành cảm tình Đảng, chi bộ phân công Trần Duy Đức và Hà Bích Hạnh giúp đỡ. Lão Tư Lâm chân thành:
- Xin cảm ơn chi bộ, tôi rất xúc động được hai đồng chí Đức và Hạnh giúp đỡ. Tôi xin hứa sẽ cố gắng hết mình, không phụ lòng mong đợi của các đồng chí…

Đức là người làng Lủa có nghề mua chó bán cho các quán ở Hà Nội, còn Hạnh người làng Phùng Thương. Hạnh mới hai ba tuổi, dáng người cao ráo, mặc dù là nông dân sớm khuya lội bùn nhưng trắng trẻo ăn đứt nhiều cô gái thành thị. Cô lấy chồng khi mới mười chín tuổi, cưới nhau được sáu tháng thì chồng nhập ngũ, cô ở nhà chăm sóc bố mẹ chồng và đàn em. Một tay cô lo lắng việc nhà và đồng áng, trong phong trào Ba đảm đang cô luôn là người đứng đầu xã. Điều đó không mấy người chú ý. Chỉ khi cô tay không bắt sống giặc lái ở đầm Vông thì tiếng tăm của cô mới nổi như cồn.

Cách nay ba năm, máy bay giặc Mỹ mang bom đánh phá đập Phùng thì trúng đạn phòng không của ta. Phi công bị tên lửa bốc cháy ngùn ngụt, nhảy dù ra khỏi chiếc máy bay đang rơi xuống đầm Vông. Lúc đó cô Hạnh đang bừa ruộng, vội buộc thừng trâu vào tay bừa chạy như gió tới đầm Vông. Tên phi công bị vướng dù đang ngoi ngóp giữa những đám rong rêu, cô lao ra túm lấy cổ áo hắn lôi vào bờ.

Phải cố hết sức cô mới lôi được cái thân hình to tướng nặng hơn cối xay ra khỏi những mớ rong rêu và hoa súng, suýt nữa thì cô cũng chìm theo hắn. Do bị thương ở chân không đứng dậy được nên hắn cứ quỳ dưới đất lạy cô như tế sao. Lúc này cô nghĩ tới người chồng đang chiến đấu ở mặt trận nên toan giơ chân đạp vào mặt hắn một cái cho bõ tức, vừa lúc mọi người chạy tới. Có ai đó kêu to:
- Không được đánh tù binh! Không được đánh tù binh, bắt giải lên huyện…

Mọi người xô đến bâu quanh tên giặc. Mặc dù tay mọi người đang cầm đòn gánh, roi bừa, cuốc, xẻng…, nhưng không ai nỡ đánh tên phi công, họ chỉ chửi bới và nhổ nước bọt vào hắn. Tên giặc lái cúi đầu lạy mọi người, hắn nói gì không ai hiểu, chỉ khi hắn xé ống quần lộ ra bắp chân vỡ toác thì mọi người mới biết hắn bị thương. Phải một tiếng sau người ta mới khiêng hắn ra khỏi đầm Vông đưa lên xe chở lên huyện.

Sau chuyện bắt giặc lái, Hà Bích Hạnh được báo chí rầm rầm ca ngợi, các nhà báo đến tận nhà phỏng vấn, rồi theo cô ra đồng chụp ảnh, quay phim cô đang làm ruộng. Chồng cô là thượng sĩ  Nguyễn Công Cảnh đang chiến đấu ở mặt trận sau khi nghe đài, xem báo viết thư về: “Anh vô cùng cảm phục lòng dũng cảm của em. Mấy năm chiến đấu anh chưa từng giáp mặt một tên lính Mỹ nào. Ước sao một ngày nào đó anh tóm cổ được một thằng tù binh Mỹ như em đã tóm cổ tên giặc lái kia…”.

Hà Bích Hạnh trở thành biểu tượng người phụ nữ ba đảm đang và dũng cảm của cả nước. Ít tháng sau cô được kết nạp đảng rồi cử đi học lớp cán bộ nguồn cùng lão Tư Lâm ở làng Tào.
Một hôm Trần Duy Đức bảo Tư Lâm:
- Lâu rồi không được chén bữa thịt chó, thèm quá, hôm nào ông cùng tôi chén một bữa cho đã…
Lão Tư Lâm sờ túi thấy chỉ còn vài đồng nên rất ái ngại, chả lẽ đi ăn thịt chó lại để người giúp đỡ mình vào Đảng trả tiền thì còn ra thể thống gì nữa, liền bảo:
- Để hôm khác đi ông, nói thật tôi chỉ còn mấy đồng thôi…

Đức cười khục khục trong cổ rồi xua tay:
- Khỏi lo. Ông kiếm cho tôi cái bao tải là được rồi.
Thực tình lão Tư Lâm chẳng hiểu hắn bảo kiếm bao tải làm gì, nhung cũng làm theo yêu cầu của hắn. Nhá nhem tối hôm đó, hai người đi tản bộ vào làng rất thong dong, Đức cắp chiếc bao tải vào nách như thể sắp mua cái gì đó.

Lúc này mọi nhà đã lên đèn, sắp sửa ăn cơm tối. Hai người vừa đi vừa nói chuyện qua nhiều con ngõ, chợt Đức dừng lại bên cành hàng rào ô rô gần bìa làng, tay lão quờ một vật gì đó dưới chân. Chỉ nghe tiếng “oẳng” một tiếng thì đã thấy một con chó chừng bảy, tám cân đang giãy giụa trên tay hắn. Rất nhanh, hắn đút con chó vào trong bao tải cắp vào nách như không có chuyện gì xảy ra. Con chó nằm trong bao tải run sợ chỉ ư ử vài tiếng rồi im. Loáng cái hai người ra khỏi làng đi thẳng tới quán thịt chó đầu phố huyện. Đức đi quành ra phía sau nơi chủ quán nhốt chó trước khi làm thịt. Tư Lâm nghe Đức nói với chủ quán:
- Con này em chỉ xin bác hai bữa, nhẹ nhàng thôi bác ạ…

Trưa hôm sau tan học, hai người cắt cơm đạp xe ra quán thịt chó cách trường chừng hơn một cây số. Mùi thịt chó nướng thơm lừng. Đã lâu rồi lão Tư Lâm không được ăn miếng thịt chó nên nước bọt cứ trào ra phải nuốt vội. Chủ quán xếp mâm cho hai người ngồi ăn ở căn buồng phía trong, ông ta xun xoe:
- Con này chưa đi tơ, thịt rất mềm và ngon. Thế nên các cụ mới bảo cầy tơ bảy món. Chán nhất là chó già. Bận sau cứ con tháu tháu mà mần. Chúc hai anh cán bộ nguồn ngon miệng…

Lão Tư Lâm vừa ăn vừa ngẫm nghĩ, buột miệng:
- Hay! Hay…
Trần Duy Đức gắp miềng dồi chó chưa kịp đưa vào miệng nghe thế dừng lại hỏi:
- Ông bảo hay cái gì?
- Bây giờ tôi mới hiểu cái tài của trai làng Lủa bắt chó lẹ như bắt dế. Làng mình mỗi ngày cung cấp cho Hà Nội mấy tấn chó nhỉ?
- Không dưới mười tấn. Mà ông tìm hiểu chuyện đó làm gì. Rượu làng Tào của ông uống ngon đấy. Tôi đang nghĩ sau này học xong về làng chưa biết tìm phương hướng phát triển kinh tế cho làng như thế nào. Chẳng lẽ lại là làng bán chó, khó nghe lắm. Làng Tào gọi là làng rượu truyền thống nghe rất hay…

Uống cạn chén rượu, lão Tư Lâm lúc đó có vẻ chếnh choáng khua khua đôi đũa trên tay:
- Bây giờ gọi là làng nấu rượu truyền thống, nhưng tôi sẽ biến làng Tào thành làng công nghiệp rượu trong dăm mười năm nữa. Còn làng Lủa cứ phát huy truyền thống mua bán chó của làng, ông ạ…

Ngày chủ nhật, những học viên có gia đình ở gần thì chiều thứ bảy họ đều tranh thủ về nhà giúp gia đình cày bừa, gặt hái hay dọn dẹp nhà cửa. Lão Tư Lâm thi thoảng ở lại trường. Hôm ấy chả hiểu vì sao mọi người về hết chỉ còn lão và Hà Bích Hạnh ở lại trường. Ăn cơm chiều lão cởi áo ngồi dưới gốc nhãn phe phẩy chiếc quạt ngắm đàn cá cờ bơi lội dưới ao đớp những cánh bèo dâu trước cửa trường mà không hay Hạnh đang đi lại phía sau. Cô nhìn thân hình vạm vỡ của lão với những thớ thịt cuồn cuộn nổi lên như những luống cày, khiến cô nhớ tới Cảnh, chồng cô dáng đậm chắc nhưng không vâm váp như lão Tư Lâm. Như vậy là anh ấy nhập ngũ đã hơn ba năm rồi, sáu tháng nay cô không nhận được thư của anh ấy. Mọi người bảo chắc anh ấy vào sâu phía trong, nên thư từ gửi từ mặt trận ra không dễ dàng gì. Cô nhớ Cảnh, mong sao anh được về phép mấy ngày…

Hạnh tới sát bên lão Tư Lâm cầm chiếc quạt trên tay lão, khiến lão ngạc nhiên ngước nhìn Hạnh trong bóng chiều đang sẫm dần.
- Kìa cô Hạnh, tôi nghĩ ăn cơm chiều xong cô về nhà chứ. Làng cô cũng gần thôi mà, đi bộ chừng hai tiếng là tới. Hay để tôi lấy xe đạp đèo cô về?
Hạnh lắc đầu:
- Em mới về tuần trước, nhà cũng chẳng có mấy việc, bố mẹ chồng em bảo con về ít thôi, ở lại trường cố gắng mà học, chồng con ngoài mặt trận cũng khuyên như thế…

Ngừng một lát, cô bảo:
- Trên đê rất mát, hoa sen mùa này đang nở thơm ngất ngây. Hay chúng mình lên đó hóng mát đi anh, sau về ôn lại bài cũng được.
Lão Tư Lâm gật đầu vào nhà lấy áo mặc, hai người sóng đôi đi lên con đê cách trường mấy trăm mét. Họ đi thong thả trên con đê có rất nhiều cỏ may để tận hưởng những cơn gió mang đầy hơi nước từ đầm hoa sen dưới chân đê thổi lên mát rượi, nói những chuyện tầm phơ về mùa  màng, gặt hái và nấu mật mía.

Chừng đã mỏi chân, Hạnh ngồi xuống vạt cỏ dưới chân đê, cô dứt những cây cỏ may buộc lại thành túm, lão Tư Lâm thì đi xuống chân đê hái những bông hoa sen mang lên đưa cho Hạnh, cô hít hà mùi thơm dịu mát rồi nằm duỗi chân trên bãi cỏ. Trời đã tối, trăng lấp ló sau những rặng tre, ánh trăng như dát bạc trên những lá sen lung linh dưới mặt hồ.
- Anh Tư này, anh giúp em nhổ những sợi cỏ may trên quần em nhé. Hoa sen thơm quá…

Lão Tư Lâm thoáng chút ngỡ ngàng, nhìn Hạnh ôm bó hoa vào ngực đôi mắt lim dim như đắm mình trong mùi hương sen ngầy ngậy. Lão lặng lẽ nhặt, ánh trăng không đủ sáng để lão nhìn thấy từng chiếc hoa cỏ may li ti bám trên chiếc quần lụa đen của Hạnh, lão phải vuốt bàn tay lên chiếc quần lụa để lần tìm những chiếc hoa cỏ may. Hạnh nằm ườn ra, cặp đùi rắn chắc của cô khẽ khàng rung lên. Chợt Hạnh đặt bó hoa sen xuống đất, nắm lấy bàn tay lão Tư Lâm, đôi mắt long lanh nhìn lão, giọng lạc đi.
- Anh Tư!…

Lão Tư Lâm chợt hiểu, lão cúi xuống ôm chầm Hạnh ghì chặt vào lòng. Bàn tay phải luồn qua chiếc cạp quần lụa, còn bàn tay trái vội vàng mở từng chiếc cúc áo, hối hả xoa đôi bầu vú căng tròn của Hạnh, khiến cô rên lên khe khẽ.
- Anh Tư ơi… Em… em…
- Anh hiểu rồi…

Lão rút bàn tay ra khỏi quần Hạnh giơ lên ánh trăng, thấy một thứ gì nhóng nhánh. Lão thở hổn hển, tụt quần Hạnh ra ném lên bãi cỏ.
- Hạnh ơi, như thế này có vi phạm chính sách hậu phương quân đội không?
- Anh dở người à? Yêu em đi, bao nhiêu năm em khát đợi như thế này…

Khuya lắm họ mới trở về, trăng sáng vằng vặc, họ bước đi trong tiếng rế kêu rỉ rả, bản tình khúc của muôn đời bất tận. Lão Tư Lâm nắm chặt bàn tay Hạnh:
- Em là người giúp đỡ anh Tư vào Đảng nhỉ? Hãy tha lỗi cho những việc làm vừa xong của anh em nhé.
Hạnh cười rúc rích, đấm thùm thụp vào lưng lão Tư Lâm,.
- Anh đừng có lỡm nữa…

Cuối năm học thứ nhất, lão Tư Lâm được kết nạp đảng với sự giúp đỡ tận tình của hai đảng viên Trần Duy Đức và Hà Bích Hạnh.
Còn mụ Tuyền Bếp được kết nạp đảng sau khi lão Tư Lâm trở về làng Tào làm chủ nhiệm hợp tác xã.
Như vậy bạn đọc đã hiểu, không còn trách tôi là người bịa chuyện.


Ngày 17/8/2019
Thái Sinh
(từ: vv)



Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content
hoa_65-content
TYH và Cindy Tran



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, November 7, 20197:10 AM(View: 665)
Nhưng càng ngày, anh em ông Diệm càng độc tài, độc tôn, độc quyền, kỳ thị tôn giáo, tàn ác… Trong số anh em nhà họ Ngô, người bị ghét hay thù ghét, trước nhứt là “Cậu”, “cậu” là ông Ngô Đình Cẩn, độc đoán, độc tài, tàn ác, tham nhũng, “lãnh chúa miền Trung”… Người bị dân Huế thù ghét thứ hai là ông Ngô Đình Thục, là “Đức Cha Ngô Đình Thục”. Ông Thục cũng là người tham lam, độc đoán, kỳ thị tôn giáo… Ông Ngô Đình Nhu, có tốt xấu như thế nào thì ông Nhu cũng là người ở xa. Việc ông Nhu làm, có ảnh hưởng tới Huế cũng chỉ là gián tiếp. Người dân Huế ghét bà Nhu hơn, nhất là khi bà ta ăn nói hổn láo, xúc phạm đến hàng tu sĩ cao cấp Phật Giáo. Bà là người “thần khẩu hại xác phàm”, nhìn cái miệng bà chu ra - có người gọi là mỏ chuột - người Huế đã thấy ghét lắm rồi. Có lẽ người Huế không có gì, biết hay thương, hay ghét ông Ngô Dình Luyện, người con út; thậm chí người Huế còn tưởng lầm “cậu” là con út, mới gọi là “Cố Trầu”, “Cậu Út Trầu”… mà quên hay không biết rằng, Ông Luyện mới là “cậu út
Monday, November 4, 20198:12 PM(View: 714)
Sau một hồi nói chuyện qua điện thoại, Dung báo cho tôi: “Bác biết chuyện gì xẩy ra cho ba cháu chưa?” “Chưa. Chuyện gì?“ “Ba cháu đã vào chùa, xuống tóc đi tu từ hơn nửa năm nay. Ba cháu hiện tu ở một chùa gần thành phố bác ở. Ba cháu không cho ai biết chuyện ông đi tu. Dấu, không cho biết tu ở chùa nào. Cháu mới tìm ra. Cháu định tháng tới qua thăm, và rủ bác cùng đi luôn. Gặp bác chắc Ba cháu mừng lắm.” “Bác cũng mong gặp ba cháu. Lâu rồi, ba cháu và bác chưa gặp lại nhau. À, tại sao ba cháu có quyết định đi tu? Sao lại phải dấu chuyện tu hành. Đi tu, chứ có phải đi tù đâu mà dấu diếm. Còn mẹ cháu thì sao?” Dung ậm ừ, như không muốn nói. Một lúc sau mới trả lời: “Mẹ cháu vẫn bình thường. Vẫn oai phong như cũ. Thật ra ba cháu không cho ai biết tu nơi nào, vì sợ mẹ cháu đến phá đám. Bốn tháng trước, ba cháu tu tại một chùa gần West Virginia, mẹ cháu đến làm ồn ào, bắt ba cháu trở về. La mắng cả sư cụ, xỉ vả ông ta đủ điều, còn phao vu lên rằng sư cụ đồng tính luyến ái với ba
Tuesday, October 29, 20196:05 PM(View: 297)
Lần này, tiểu thuyết lịch sử Kẻ sĩ thời loạn của nhà văn Vũ Ngọc Tiến vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về chính trị xã hội thời cuối Lê đầy biến động của lịch sử VN, một thời kỳ nhiễu nhương và có nhiều phân chia sâu sắc giữa các thế lực quân sự: Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn, rồi thế chân vạc Trịnh - Nguyễn - Tây Sơn và lấy Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh, làm nhân vật chính. Nhà văn Vũ Ngọc Tiến chia sẻ là mình rất thích nhân vật phức tạp và có nhiều đánh giá trái chiều này. Cũng như với “Quỷ Vương” trước đó, tác phẩm này của Vũ Ngọc Tiến cũng đan xen lịch sử và thời hiện tại, cách viết của nhà văn là sử dụng nghệ thuật cốt truyện song hành, mượn chuyện xưa để nói nay mà tôi đã gọi đó là tiểu thuyết đồng hiện, ảo- thực, bóng và hình. Trong Kẻ sĩ thời loạn với cặp nhân vật chính là nhà di truyền học Duy Thiện và bà Hoàng Lan, hồng nhan tri kỷ của ông. Hai mạch truyện kể gắn với nhau, xưa và nay đan xen: Duy Thiện của thời hiện tại là người viết cuốn sách kể lại lịch sử cuộc đời của cụ
Thursday, October 24, 20197:04 PM(View: 573)
Lão Tư Lâm vội lấy tay bịt miệng mụ Tuyền Bếp lại, lão biết mụ yêu lão và ghen tức với tất cả những người đàn bà lão đi lại. - Tôi xin mụ, đêm hôm khuya khoắt thế này mụ nói to thế nhỡ mọi người nghe được thì ảnh hưởng đến tôi sao… Tôi gọi mụ ra đây chỉ để hỏi một câu: Mụ có đồng ý cho tôi đi học không? Nghe thế, mụ Tuyền Bếp lại rú lên cười. - Tôi là gì mà đồng ý cho lão đi học chứ? Cấp trên cho lão đi thì lão cứ đi, chả mất gì, cứ ngồi chơi vẫn được công điểm. Sau này về làng lại được đề bạt làm cán bộ. Biết đâu chức chủ tịch chả rơi vào tay lão. Lúc đấy, mụ này lên xã xin cái triện có nói rã bọt mép chắc gì lão đã cho… Lão Tư Lâm lập tức vật mụ xuống đất ngay trước cửa lò, lột phăng quần áo mụ ra, cười nhăn nhở: - Không cần phải đến lúc làm chủ tịch xã Tư Lâm mới cho mụ triện. Lão cho mụ triện ngay đây… Mụ cần bao nhiêu cái lão cho đủ hết… Mụ Tuyền Bếp rú lên trong sự sung sướng tột cùng, lão Tư Lâm phải bịt miệng mụ lại, quát mụ: - Kêu cũng khẽ khẽ thôi, kẻo người ta
Saturday, October 19, 20199:37 AM(View: 541)
(h.VTD) Trần Tuấn Kiệt qua đời vào chiều ngày 8 Tháng Mười, 2019, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Mồ côi mẹ lúc 8 tuổi nên thuở bé ông sống với bà ngoại tại vùng tản cư ở Đồng Tháp Mười. Năm 1950, lúc 11 tuổi lên Sài Gòn, theo học ở trường Tân Thanh với các giáo sư như Tam Ích, Thiên Giang, Bùi Giáng, Đồng Tân… và sau học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc về bộ môn thổi sáo và đàn tranh, theo học một năm rồi bỏ ngang. Với năng khiểu bẩm sinh, khởi đầu nghiệp cầm bút, thơ xuất hiện trong mục Hoa Hàm Tiếu, giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh; gia nhập Văn Đàn Bạch Nga và cộng tác tờ bán nguyệt san Phổ Thông (1958-1971) của Nguyễn Vỹ… Tam Ích giới thiệu vào làng báo ở Sài Gòn. Từ cuối thập niên 1950 ông đã cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí cho đến Tháng Tư, 1975. Bút hiệu Sa Giang ghép từ quê nhà Sa Đéc và Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất có nhiều dòng sông với Cửu Long Giang. Với thơ ông ký Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, với văn ông ghi Trần Tuấn Kiệt. Ngoài ra ông còn nhiều bút hiệu khác như: