DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,320,897

Hoàng Khởi Phong - Ngày N+… (kỳ 5, 6)

Wednesday, May 13, 20208:09 AM(View: 256)
Hoàng Khởi Phong - Ngày N+… (kỳ 5, 6)

                                                Ngày N+… (kỳ 5)

Trong lửa đỏ, giữa sự chết, trên quê hương! – DCVOnline

Ngày N + 11, 7 giờ chiều

Đồ ăn đã nguội, tôi ngồi vào ghế thủ vị, bác sĩ Huấn bên tay phải, Trung úy Đại đội trưởng bên tay trái, ngoài ra có tất cả sĩ quan của trại cùng vài ba hạ sĩ quan của ban Điều hành, Tiếp liệu. Đây là bữa tiệc đơn vị đón tôi. Những dịp thay đổi đơn vị trưởng như thế này trước kia là một lễ nghi kiểu cách. Họ dềnh dàng, dò xét, thăm hỏi xã giao. Họ bồn chồn lo lắng vì sợ phải thay đổi địa vị, chức vụ. Dĩ nhiên nó cũng thịnh soạn chớ không đơn sơ, đạm bạc như bữa cơm hôm nay, trong hoàn cảnh này không ai có thì giờ để bày vẽ, nhưng tôi cảm ơn những người đón tôi vô cùng. Nó không có sơn hào hải vị, không chả phượng râu rồng, cũng không mổ bò, đãi trâu. Tôi đột nhiên thấy đói, đói như cả tháng nay chưa hề ăn.

Mới không đầy ba giờ trước, vợ tôi muốn đi mua đồ ăn cho tôi, tôi gạt phắt đi. Bây giờ là lúc tôi đói thật, tôi ăn tận tình, một mạch bốn chén cơm, trong lúc mọi người mới ăn một, hai chén. Có thể là họ giữ ý, có thể là họ LO, tôi đã có quá nhiều điều LO rồi, bây giờ tôi đói.

Lợi dụng một khoảng thời gian ngắn trong bữa ăn, tôi đề nghi duyệt xét lại toàn bộ khả năng đơn vị, đúng thật ra thì xét xem phải làm những gì cần thiết khi rút lui.

1. Trước tiên về phía tù binh, chúng tôi còn 27 tù binh bị bắt sau khi Hiệp định Paris ký kết, nghĩa là sau khi trao đổi hết tù binh vào năm 1973, rồi từ đó hai bên đều tố cáo nhau vi phạm đình chiến. Kết quả cụ thể của vụ vi phạm này là người vẫn tiếp tục ngã, lửa vẫn tiếp tục cháy và đạn vẫn tiếp tục bay. Có giao tranh là lại có tù binh, do đó chúng tôi có 27 tù binh này. Đây là điều phiền toái nhất cho đơn vị trong lúc này. Dẫu sao chăng nữa tôi sẽ cố tới mức tối đa, để bảo vệ sinh mạng của chính chúng tôi cũng như chu toàn nhiệm vụ được giao phó. Đây là vấn đề nát óc nhất, nhưng chắc chắn là tôi sẽ giải quyết được.

2. Về tiếp liệu: cái tôi cần là lương khô dự trữ, nhiên liệu đủ dùng cho toàn thể xe cộ, bây giờ không phải là lúc bàn giao, kiểm điểm về bàn ghế, tủ giường, máy đánh chữ, v.v. Tôi chỉ thị cho nhân viên lập một danh sách các quân nhân có gia dình sẽ di tản vào ngày mốt. Đồng thời Tiếp liệu có bổn phận phân phối hết số gạo dự trữ của đơn vị cho cái danh sách này. Tôi muốn mọi người yên tâm rằng cho dù vợ con họ có phải vào trại tị nạn ở Nha Trang, thì ít nhất vợ con họ cũng không đến nỗi sợ đói trong những ngày đầu bơ vơ nơi xa lạ. Tất cả lương khô quân đội, sẽ được phân phối đồng đều cho mọi quân nhân.

3. Một nội lệnh sẽ được gửi đến Ban chỉ huy cũng như Đại đội chuyên trách Tù binh, ấn định khi di chuyển trên xe mọi quân nhân chỉ được mang quần áo cá nhân, vũ khí, cũng như lương khô được cấp phát. Tuyệt đối không mang theo những vật dụng nặng nề, cồng kềnh như xe Honda, v.v. Nói tóm lại nhẹ nhàng và gọn ghẽ tới mức tối đa.

4. Riêng với bác sĩ Huấn, tôi muốn ông kiểm soát lại những thuốc men và dụng cụ y tế tối cần thiết, nếu cần sẽ đi Nha Trang, Cam Ranh, về các kho y dược, các đơn vị quân y lớn cung cấp cho đầy đủ. Tôi nhấn mạnh là ông lo được càng nhiều thuốc men càng tốt.

Tôi nhớ đến hầm binh Xích Bích. Chém giết sắp đến hồi trời sầu đất thảm, tên đạn lại vô tình làm sao tên đạn có thể biết phải mất mười hai năm học trung tiểu học và bảy năm y khoa mới sản xuất được một bác sĩ. Tôi nhớ đến cảnh Bàng Thống tung tin vịt để giúp Từ Thứ có cớ không phải hiện diện trong hầm binh Xích Bích. Tôi thấy sự có mặt của bác sĩ Huấn không thật cần thiết. Toàn đơn vị từ trên xuống dưới đều mạnh cùi cụi, còn khi hữu sự có lẽ chính bác sĩ Huấn cũng không giúp được chúng tôi nhiều nhặn gì. Tôi nghĩ đến con số thống kê cứ hai chục hay ba chục ngàn người Việt, mới có được một bác sĩ. Tôi tiếc những năm học này, bởi lẽ tôi lêu lổng từ nhỏ, xong trung học đã nghĩ rằng mình tài giỏi rồi giang hồ vặt, đúng là nhỏ mà không học lớn làm… đại uý. Tôi không thể chính thức nói bác sĩ Huấn ở lại trong đó, nhưng tôi nghĩ rằng Huấn đã đậu tới bác sĩ chắc phải hiểu ý tôi muốn gì: “Ông không cần gấp, cứ từ từ, kiếm chỗ để cho bà ấy trú ngụ xong, lo thuốc men càng nhiều càng tốt rồi hãy ra đơn vị. Có khi cũng cả tuần lễ.” Tình hình này làm gì có được một tuần lễ.

 

Ngày N + 11, 11 giờ đêm

Tôi lái xe chậm rãi trên vòng đai phòng thủ, hệ thống ánh sáng tốt, lính gác đầy đủ. Thiếu úy Đại đội phó cùng đi với tôi, anh có vẻ là một thư sinh, một thầy giáo hơn là một quân nhân.

Qua khỏi hàng rào là một bãi đất trống, dĩ nhiên đây là bãi mìn nhằm ngăn chặn Việt cộng len lỏi, đột kích vào đơn vị tôi để giải thoát tù binh.

Tôi nghe những tiếng động ồn ào từ các đơn vị bạn. Tiếng động cơ xe gầm rú. Trong bóng đêm, phải nhìn qua bãi đất trống thế mà tôi vẫn thấy sinh hoạt ở hai đơn vị phải, trái của tôi rất nhộn nhịp. Tôi hỏi bâng quơ:

– Họ làm gì bên đó?

– Chắc họ cũng sửa soạn di tản đó, Đại úy.

– Mình lái xe sang họ coi được không?

– Bây giờ giới nghiêm rồi. Dĩ nhiên là mình đi được nhưng không biết ai sẽ tiếp Đại úy bây giờ.

– OK. Sáng mai tôi muốn qua các đơn vị bạn để thăm hỏi tình hình.

 

Ngày N + 12, 1 giờ sáng

Gấp tất cả các báo cáo chi tiết của ban lại, tôi đọc hờ hững những tập “Nhật ký đơn vị”, lật qua lật lại đọc những biến cố lớn nhỏ đến với đơn vị từ ngày thành lập. Tôi đọc để mà đọc, bởi không biết để làm gì. Lạ nhà khó ngủ, lo sợ, đủ mọi chuyện. Những tiếng động ồn ào từ các đơn vị bạn càng lúc càng dữ dội.

Tôi ngồi dậy, đi xuống ban quân xa. Thượng sĩ Trưởng ban cùng cả tiểu đội lính đang quần thảo với chiếc xe GMC có citern nước.

Họ đã tháo được hết các đai sắt. Bây giờ là lúc trục nó xuống. Thấy tôi người hạ sĩ già hơn hai mươi năm quân vụ chạy lại chào, tôi hỏi thêm về những chiếc xe còn lại, ông ta trả lời:

– Chiếc này coi như xong. Còn chiếc kia hơi rắc rối, nhưng tôi hứa với Đại úy chiều mai mình có ba chiếc GMC chạy ngon lành, không thua gì xe của Quân vận.

 

Ngày N + 12, 7 giờ sáng

Tôi choàng tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao, đêm qua tôi trằn trọc mãi, tới gần sáng mới thiếp đi một giấc dài rất nặng nhọc.

Mới tháng ba mà nắng đã đổ lửa trên đầu. Đơn vị lại nằm lọt giữa một khu thấp, nên nóng dữ dội. Đã từ gần tháng nay, tôi quen ngủ với quân phục trên người. Những hôm nằm gần đập Đồng Cam, có hôm còn không cởi cả giày. Đánh răng, súc miệng xong tôi bước ra bàn giấy. Một tờ báo để ngay ngắn bên cạnh chồng hồ sơ trình ký. Ngay trang đầu là hình ảnh tơi tả của đoàn người về từ liên tỉnh lộ 7. Một bài thật dài về vụ rút lui này, một bài khác về tình hình vùng I, và sau cùng, một bài nữa về tình hình vùng IV.

Nói chung tình hình vô cùng đen tối. Tôi để ý một bài nhỏ nhưng nó không kém quan trọng tới Việt Nam, đó là quốc hội Mỹ đang biểu quyết ngân sách viện trợ. Quốc hội Mỹ thông qua một ngân khoản ba trăm triệu Mỹ kim mà họ gọi là “viện trợ nhân đạo”, nhưng viện trợ quân sự thì còn đang bàn cãi chờ biểu quyết. Đây là lần đầu tiên tôi thấy danh từ “viện trợ nhân đạo”. Trước giờ chỉ có “viện trợ kinh tế và quân sự”. Nam Việt Nam ngoài những bất lợi quân sự đối với kẻ địch là Việt cộng, đang chịu một trận chiến nữa với những người bạn, đó là trận chiến của những từ ngữ ngoại giao. Tôi e rằng trong khu rừng từ ngữ ngoại giao này chúng ta lại một lần nữa thất bại. Lại một lần nữa chúng ta lạc nẻo đường về.

Trung úy Đại đội trưởng đại đội Quân cảnh chuyên trách tù binh bước vào với vẻ mặt hốt hoảng:

– Đại úy, hai đơn vị bên cạnh mình họ rút hết rồi. Dân chúng đang hôi của ở đó. Để tôi đưa Đại úy đi một vòng chung quanh các đơn vị bạn.

– Không cần nữa. Ông gọi ngay hộ tôi ông Tiếp liệu và Quân xa lên gặp tôi. Mời cả bác sĩ Huấn nữa. Riêng ông thông báo cho đại đội của ông tôi sẽ cho di tản vợ con binh sĩ vào Nha Trang đúng 1 giờ trưa nay. Chỉ thị cho binh sĩ chỉ mang quần áo mà thôi.

 

Ngày N + 12, 8 giờ 30 sáng

Tất cả sĩ quan có mặt đầy đủ nơi phòng tôi. Tôi không rào đón gì cả, nói ngay:

– Tiếp liệu còn bao nhiêu gạo dự trữ, chia đều ra các bao cát, mỗi đầu người mười ký gạo.

– Mình còn nhiều hơn số đó, Đại úy.

– Càng tốt, phát cho mỗi người mười lăm ký. Nghĩa là mỗi người một bao cát đầy và một túi hành lý gồm quần áo, chăn màn, v.v. Ông cấp sự vụ lệnh cho bác sĩ Huấn Trưởng đoàn xe vào Nha Trang liên lạc với kho Y dược trong đó. Chọn cho tôi bốn tài xế để lái hai xe GMC và hai xe Dodge, với một sự vụ lệnh khác trở về vào ngày mai. Tôi muốn một sĩ quan đi vụ này, dẫn đoàn xe về trại tị nạn Cộng sản ở Nha Trang xong trở về vào ngày mai. Đừng quên là cả đơn vị chờ xe về mới có xe đi tản. Bất cứ thiếu úy nào đi cũng được ngoại trừ Đại đội trưởng, Điều hành và Tiếp liệu. Ban Điều hành thảo cho tôi một phúc trình về tình hình địa phương, xin lệnh Bộ Chỉ huy Quân cảnh cho phép rút toàn đơn vị vào Quy Nhơn. Ở Phú Tài bây giờ mình trống hai mạng sườn, sẽ là cái đích thu hút địch tấn công. Tôi không nghĩ là mình sẽ có công điện trả lời. Không một ai dám trả lời thuận đâu. Nhưng một cách gián tiếp, tôi muốn Bộ Chỉ huy biết tôi đang làm gì, định làm gì. Tôi cũng không nghĩ là phúc trình mình gửi về trong đó kịp. Bây giờ tôi vào Tiểu khu để xin rút lui vào trong đó.

– Mình sẽ giải quyết hai bảy tù binh như thế nào?

– Ngay bây giờ tôi sẽ xin Tiểu khu giải tán trại Quân kỷ. Giờ này phải tống mấy ông nội say rượu, vô kỷ luật, trễ phép, đào ngũ, v.v. đó ra ngoài mặt trận. Ít nhất mình có chỗ trống để nhốt tù binh an toàn. Đồng thời quân số tham chiến tại chỗ có thể tăng lên cả tiểu đoàn, nếu tôi thuyết phục được Tiểu khu mở cửa cả Quân lao ra. Tôi sẽ về lại trại trước một giờ. Đích thân tôi sẽ kiểm soát đoàn xe chở vợ con binh sĩ di tản trước khi khởi hành.

 

Ngày N + 12, 10 giờ sáng

Trung tá Tham mưu trưởng Tiểu khu Bình Định tiếp tôi tại văn phòng. Sau khi nghe trình bày lý do thăm viếng, tôi đi thẳng vào vấn đề:

– Xin Trung tá tăng phái cho đơn vị tôi một Đại đội Địa phương quân, để có thể phòng thủ đơn vị hữu hiệu, đồng thời giữ an ninh được một phía cho Tiểu khu Bình Định.

– Ông tưởng là tôi nặn ra người được à?

– Nếu vậy Trung tá cho tôi rút vào trong Quy Nhơn, tôi sẽ có cách tăng cường một tiểu đoàn cho Tiểu khu Bình Định.

– Quân số của ông có bao nhiêu?

– Hơn một đại đội, Trung tá.

– Thế thì ông nặn ra người à?

– Thưa Trung tá, không. Nhưng tôi đề nghị với Trung tá mình giải tán đám binh sĩ bị thọ phạt tại Đồn Quân cảnh Quy Nhơn, ở đó có cả trăm binh sĩ bị thọ phạt, cũng như những binh sĩ bị bắt vì quân phong quân kỷ ngoài phố. Nếu mình thả cả các binh sĩ đào ngũ, cũng như cưỡng bách những thanh niên trốn quân dịch trong quân lao ra, thì con số một tiểu đoàn đâu có thấm gì. Nhưng điều quan trọng nhất là vãn hồi trật tự và kỷ luật. Cả thành phố giờ này hỗn loạn vô cùng, phải đem một chút sinh khí lại cho dân chúng biết rằng quân đội còn hiện diện ở đây, phải trấn an mọi người. Tôi tin rằng đồn Quân cảnh Quy Nhơn không đủ sức để làm việc này, họ còn đang điên đầu lên ở ngoài bến tàu cũng như ở phi trường.

– Anh theo tôi vào gặp Đại tá Tiểu khu trưởng.

 

Ngày N + 12, 10 giờ 35 sáng

Tôi ngồi chờ ở phòng đợi. Trung tá Tham mưu trưởng vào gặp Đại tá Tiểu khu trưởng một mình. Mười phút sau, tôi được mời vào. Đại tá Tiểu khu trưởng hỏi ngay:

– Anh còn tù binh không?

– Thưa Đại tá còn, tôi còn 27 tù binh mới bị bắt trong những vụ chạm súng gần đây.

– Anh xử bắn họ hết xong rồi tôi cho rút vào trong này.

– Thưa Đại tá tôi không thể làm vậy được. Đó không những vi phạm quy ước Genève về tù binh chiến tranh, mà cũng không giải quyết được gì. Đó là việc riêng của đơn vị tôi. Xin Đại tá để tôi được phép tự lo liệu.

– Nếu anh rút vào sẽ nhốt họ ở đâu?

– Thưa Đại tá, như tôi đã trình bày với Trung tá Tham mưu trưởng, tôi sẽ nhốt họ ở phòng giam của đồn Quân cảnh Quy Nhơn. Nếu thiếu an toàn tôi sẽ nhốt họ ở quân lao, trong trường hợp Đại tá quyết định đẩy các đào binh ra ngoài mặt trận.

– Anh cho tôi biết qua kế hoạch vãn hồi trật tự lại thành phố.

– Thưa Đại tá, chúng tôi có đủ người và xe để đi tuần 24/24, mỗi lần đi là sáu xe Jeep do một sĩ quan đi trên xe dẫn đầu, và một xe gắn đại liên M60 đi sau cùng, chạy với tốc độ thật chậm, đồng thời phóng thanh một nội lệnh, một nhật lệnh hay thông cáo gì đó do Đại tá ký. Nội dung trấn an dân chúng, kêu gọi đồng bào bình tĩnh và kêu gọi quân nhân đào ngũ, cũng như thanh niên bất phục tùng trình diện tại đồn Quân cảnh Quy Nhơn. Cuối ngày tôi sẽ cho dẫn sang phòng 1 Tiểu khu làm thủ tục nhập ngũ. Ngoài ra, kể từ bây giờ, tôi cắt một xe Jeep hộ tống lúc nào cũng đi theo Đại tá. Đã đến lúc mình phải xử bắn tại chỗ những binh sĩ đào ngũ cũng như những quân nhân cướp bóc dân chúng. Binh sĩ của tôi sẽ làm việc này, giúp Đại tá củng cố lại cái uy vũ của quân đội. Phải chặn đứng sự hoảng sợ. Phải đứng lại chiến đấu chứ không bỏ chạy nữa.

– Rồi ông về thu xếp đơn vị đưa vào trong này, nhưng ông sẽ đóng ở đâu?

– Thưa Đại tá tôi sẽ tạm đóng ở đồn Quân cảnh Quy Nhơn. Tôi đã cho người liên lạc về việc đó rồi. Thưa Đại tá, một nửa tiếng nữa tôi sẽ cho xe Jeep hộ tống Đại tá trình diện ở đâu?

– Cho họ trình diện ở đây được rồi.

 

Ngày N + 12, 11 giờ sáng

Tôi tạt vội qua nhà, Phúc đương giúp vợ tôi và má tôi thu xếp nhà cửa, có một người lính nữa phụ với Phúc dùng những thanh gỗ đóng bít các cửa sổ và cửa sau. Mặt trước là cửa sắt kéo ra kéo vào, được trang bị với bốn, năm cái khóa to tướng. Vợ tôi mắt rươm rướm, chạy vô chạy ra nhưng chẳng làm gì ra hồn. Tôi thấy bà cụ xách theo một cái quạt máy, chắc định dùng đỡ khi vào Nha Trang. Tôi định cản nhưng lại thôi. Lát nữa mới đúng là lúc bỏ cái quạt lại.

 

Ngày N + 12, 12 giờ trưa

Đoàn xe đã nổ máy, một số vợ con binh sĩ đồn Quân cảnh Quy Nhơn và Đại đội D2 Quân cảnh cũng có mặt đi ké. Họ mang theo một số đồ cồng kềnh, tôi bảo họ bỏ xuống, vài người xuống xe, họ không muốn đi nữa. Tôi thầm cám ơn các binh sĩ của tôi, vợ con họ không một ai mang theo cái gì ngoài ít quần áo và mỗi người một bao gạo nhỏ. Ai nấy đều mang theo lương khô mới được cấp phát sáng nay. Mỗi người trên xe chỉ có một túi đồ. Tôi dịu dàng bảo vợ tôi:

– Em để cái quạt lại cho anh dùng, ở đây nhà tôn nóng quá. Vào trong đó em chỉ ở nhà bác Năm một, hai ngày mà đã có quạt trần.

Vợ tôi biết ý giao ngay cho Phúc mang xuống.

Tôi dặn bác sĩ Huấn:

– Đoàn xe sẽ trở về ngày mai, ông cứ yên trí lo thuốc men dụng cụ cho đầy đủ.

Quay sang Thiếu úy Đại đội phó tôi nói:

– Chậm lắm là bốn giờ chiều mai tôi muốn thấy ông mang bốn chiếc xe này về. Nó là sinh mạng của cả đơn vị trong những ngày sắp tới. Đồn Quân cảnh Quy Nhơn chỉ có toàn xe Jeep thôi. Chỉ trừ trường hợp ông bị phục kích, bị giật mìn thì không kể. Ông nhớ là chậm trễ lắm là bốn giờ chiều ngày mai phải có mặt. Đừng để mọi người thất vọng.

– Anh Ba yên tâm. Em sẽ về đúng giờ.

Xiết tay vợ tôi, hôn các con tôi xong, tôi trở về đứng ở đầu thềm, nhìn đoàn xe khuất dần, khuất dần về phương Nam cho tới khi khuất hẳn. Tôi quay vào bảo Phúc:

– Chú lái xe cho anh ra đồn Quân cảnh.

– Anh ăn hủ tíu xong sẽ đi. Em đã hâm nóng rồi. Hồi nãy chị đi mua phở cho anh không được. Anh ăn xong mình đi ngay.

Trong lúc tôi ăn, Phúc loay hoay với một khẩu súng M18. Đây là súng M16, nhưng có gắn thêm một khẩu M79 và dùng hai cò khác nhau. Tôi hỏi Phúc:

– Cái này ở đâu?

– Súng của Thiếu tá Thanh để ở trong tủ quần áo. Hồi sáng nay em dọn lại tủ để có chỗ cất đồ cho anh thì thấy nó.

– Thiếu tá Thanh còn gì trong đó không?.

– Còn toàn đồ lặt vặt, em lấy xếp lại một chỗ rồi. Bác có đưa em năm ngàn bảo lo đồ ăn cho anh. Em không cầm, song chị Hải cứ bắt em cầm. Bác muốn đưa nhiều nữa nhưng em nói sao Bác không đưa thẳng cho anh? Bác với chị thương anh dễ sợ đó.

– Ông già vợ tôi có hai vợ, bà cụ không hẳn đã thương tôi đâu. Lo tôi giống ông cụ thì có lẽ đúng.

Ngày N + 12, 2 giờ 30 chiều


Trung úy Trần Thanh Kiệm, Đại đội trưởng Đại đội D2 Quân cảnh kiêm Trưởng đồn Quân cảnh Quy Nhơn đón tôi tại đơn vị. Kiệm vốn là nhân viên cũ của tôi từ năm 1964 ở Quảng Ngãi. Cả hai cùng ra trường một dịp, Kiệm xuất thân khóa 1 Hạ sĩ quan Điều tra Tư pháp, còn tôi khóa 15 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, kế đó năm 1965 Kiệm cũng theo tôi đi Trung đội Kiểm soát tài nguyên ở Hậu Nghĩa. Sau cùng mỗi người một ngả, anh được theo học khóa 1 Sĩ quan Điều tra Tư pháp, ra khỏi ngành tư pháp về lại tiểu đoàn tôi từ khoảng một năm nay. Tôi cảm thấy an tâm khi gặp Kiệm ở đây hơn là một người khác. Tôi hỏi Kiệm:

– Anh có nhận được công điện bổ nhiệm tôi của Bộ Chỉ huy gửi cho anh một bản không?

– Có, Đại úy. Nói ngay không có công điện đó, tụi tôi cũng vốn là nhân viên cũ của Đại úy, huống hồ trong tình trạng này. Không biết mấy anh em trong Trại giam có trình cho Đại úy biết không? Tôi cũng nóng ruột chờ ông ra mãi. Ngày nào cũng hỏi thăm. Mãi tối hôm qua mới biết là Đại úy ra ngoài này rồi. Lúc đó đã chín giờ tối, muốn xuống đó gặp Đại úy lắm, nhưng nói thật Đại úy đừng cười. Đây xuống đó cả chục cây số, mà tình trạng này đi đêm cũng ngại lắm. Sáng nay tôi lại phải có mặt ở bến tàu. Tình hình bi đát quá. Tôi sợ mình thua mất. Mùa hè 72, tôi ở Sài Gòn, nên không rõ các nơi khác như thế nào, nhưng mấy hôm nay tôi quan sát ở bến tàu chỗ Bộ Chỉ huy Tiếp vận, di chuyển một số quân dụng nặng vào Nam, tôi thấy mình hết thuốc rồi, Đại úy.

– Nếu tôi hỏi qua tình hình đơn vị của anh thì có gì trở ngại không?

– Không, Đại úy. Vả lại, bây giờ theo công điện, Đại úy là cấp Chỉ huy của tôi ở ngoài này rồi. Bây giờ mà giao được luôn cho Đại úy tôi còn mừng nữa là khác.

– Tôi không muốn xen vào nội bộ của anh. Tôi chỉ muốn biết để phối hợp hoạt động với anh mà thôi. Chậm lắm là sáng mai tôi sẽ dọn cả đơn vị tôi ra ngoài này. Tôi đã trình với Đại tá Tiểu khu trưởng, anh cho phóng thích mấy thằng ôn vật bị giam quân kỷ trong đồn ra, không cần biết họ ở đâu. Ở đâu cũng là lính. Cho người dẫn họ sang phòng 1 tiểu khu, họ sẽ được tái võ trang, phân phối tới các đơn vị tại đây, đưa ra tham chiến tại mặt trận Bồng Sơn ngay chiều nay.

– Đại úy để tôi làm tờ trình về Bộ Chỉ huy đã.

– Tôi chịu trách nhiệm về việc này. Mình đâu có thả họ lấy tiền. Mình mang họ qua phòng 1, giờ này là lính thì phải chiến đấu. Mình có bao nhiêu quân phạm cả thảy?

– Còn cả hơn trăm người. Đủ mọi thành phần. Mà tôi sợ rằng mình có giao cho phòng 1 đưa họ ra mặt trận, họ cũng sẽ chuồn luôn. Đã mất người lại mất luôn cả súng nữa.

– Đó không phải việc của mình. Tiểu khu khi giao cho các đơn vị tác chiến chắc họ cũng có cách của họ. Vả lại mình sẽ lập một tuyến trì binh 1 ở đằng sau mặt trận. Kể từ ngày mai 1 Tuyến trì binh là một danh từ hoàn toàn có tính cách quân sự. Trì binh tức là những binh sĩ trì hoãn ra mặt trận. Tuyến trì binh là một hoạt động của quân cảnh nhằm bắt những binh sĩ lén lút ở lại đằng sau mặt trận. Anh sẽ có thêm cả trăm nhân viên do tôi cung cấp. Vả lại súng mất nhiều rồi, mất thêm ít nữa cũng không sao.

– Đại úy còn bao nhiêu tù?

– 27 người, tôi sẽ nhốt ở trại quân kỷ của ông. Tôi sẽ xin với Đại tá phóng thích cả quân phạm ở trong quân lao ra mặt trận. Nếu ông ấy đồng ý tôi sẽ nhốt tù ở đó an toàn hơn. Và nếu phải rút lui thì còng họ ở lại đó. Chiều nay tôi muốn nói chuyện với toàn thể binh sĩ của ông được không? Vào khoảng sáu giờ.

– Được, Đại úy. Đại úy định nói về vấn đề gì vậy?

– Tôi cho họ một ít kinh nghiệm về cuộc rút lui liên tỉnh lộ 7 về đây. Tốt nhất là đừng rút lui. Mà nếu phải rút lui, tôi muốn đơn vị của ông và tôi đã được sửa soạn kỹ lưỡng, và tốt nhất là đoán đúng ngày giờ để rút trước. Chỉ cần ba tiếng đồng hồ thôi. Những hỗn loạn phút ban đầu là địa ngục. Tôi đã thấy địa ngục một lần kéo dài cả tháng rồi. Tôi không muốn thấy nó nữa. Thà đứng lại chiến đấu tới phút chót. Tôi thật nản cái cảnh kéo lê súng mà chạy mà chạy như một con chó cụt đuôi. Bây giờ tôi về lại Trại giam. Tối nay anh soạn thảo cho tôi một kế hoạch tuần tiễu đặc biệt. Anh dành hết binh sĩ của anh ở bến tàu để điều hòa ngoài đó. Số còn lại nhập với đơn vị tôi chia làm ba toán. Một toán đi tuần, một toán trừ bị ở tại trại, một toán hạ phiên được nghỉ, đi ăn uống lo thu dọn đồ đạc, v.v. Ngày mai tôi sẽ dọn hẳn ra và mình làm việc chung.

Phúc vừa nổ máy, xe dợm chạy thì Trung úy Kiệm chạy ùa từ trong văn phòng ra. Xe ngừng lại. Kiệm đưa cho tôi một gói giấy miệng nói:

– Anh em ở Đồn Quy Nhơn định mời anh Ba Râu đi ăn một bữa, nhưng giờ này chắc không được. Biếu Đại úy cặp rượu uống chơi.

– Cứ giữ ở đây, mai tôi ra mình uống suông cũng được.

– Kệ nó, ông cầm xuống đêm nay thỉnh thoảng tu một hớp đâu có chết ai mà Đại úy sợ.

 

Ngày N + 12, 5 giờ chiều

Thượng sĩ Trưởng ban Quân xa lên gặp tôi tại văn phòng, và báo cáo là đã sửa được thêm hai xe nữa. Nhưng ông chỉ bảo đảm một chiếc chạy tốt thôi. Chiếc còn lại ông ta không dám chắc.

Tôi thở ra nhẹ nhõm. Nếu ngày mai, ngày mốt xe ở trong Nha Trang về không kịp cũng có cái để mà lết đi. Suốt hai hôm nay tôi chạy đua với cái đồng hồ, bây giờ mới có một chút an ủi nhỏ. Tôi vỗ vai người hạ sĩ quan già đầy thân ái, miệng nói:

– Đâu có cần bốn ngày phải không ông? Chỉ sợ mình không có lòng làm công việc đó, đừng có nói bốn ngày, nếu ông không muốn sửa nó sẽ nằm đó thiên thu. Vợ con ông đi hết chưa?

– Đi rồi, Đại úy. Tội nghiệp bà ấy với mấy đứa nhỏ. Tôi ở lính đã hai mươi lăm năm, nhưng chưa bao giờ phải sống xa vợ. Hồi xưa đi thụ huấn thì đương nhiên ai cũng phải xa gia đình. Đi công tác nhiều lắm là vài ba ngày.

– Đừng có mong gặp sớm. Gặp sớm ngày nào là chạy ngày đó. Tôi muốn đứng lại. Đứng lại để chiến đấu như một người lính.

Tôi rủ ông xuống câu lạc hộ đơn vị kiếm một chai bia uống chơi.

Mấy binh sĩ đang ngồi chơi domino cho qua chuyện thấy tôi vào đều có vẻ mất tự nhiên. Tôi sà xuống ngồi gần ngay họ, và hỏi:

– Đánh ăn tiền hay ăn chơi?


Dĩ nhiên họ đánh ăn tiền song vài ba chục một ván domino một trăm điểm đâu có thể coi là cờ bạc. Một thiếu úy và một chuẩn úy thật trẻ đến ngồi bàn tôi. Họ cũng có vẻ lúng túng. Tôi nói chuyện bâng quơ với mọi người. Tôi rủ cả hai đi theo tôi ra Đồn Quân cảnh Quy Nhơn. Tôi dặn Trung úy Đại đội trưởng thay mặt tôi tập họp điểm danh quân số 100%. Kể từ bây giờ mỗi quân nhân phải có trong túi quân trang hai bộ quân phục, lương khô được cấp phát và vũ khí đạn dược đầy đủ.


Còn quá sớm để tới đồn Quân cảnh Quy Nhơn, tôi đi đường vòng hướng đông qua ngả kho đạn, qua những cánh đồng trống, qua một con sông nhỏ và ruộng hai bên đường lấp lánh ánh mặt trời. Cảnh tịch mịch một cách kỳ lạ. Vắng người, vắng cả chó, mèo, trâu bò, xe cộ. Bầu không khí sặc mùi ảm đạm thê lương. Xa về hướng tây, những ngọn núi đầu tiên của quận lỵ Phú Phong nhô lên ngạo nghễ. Tôi nghĩ đến ngọn cờ đào của anh em Tây Sơn. Tôi nhớ đến bài thơ của Ngọc Hân công chúa khóc chồng, tôi nhớ đến tướng Võ Văn Dũng, một tướng của Quang Trung Hoàng đế trên đường đi sứ Trung Hoa về đã khóc chủ soái mình bằng bốn câu thơ tự đáy lòng:

Bố y phất tích ngũ niên trung

Kim cổ tri vi sự bất đồng

………………………………………….

Bất ư Đường Tống thuyết anh hùng

Tôi giận mình không làm sao nhớ hết được bốn câu thơ chữ Hán này, nhưng tôi biết chắc ý của nó: “Từ áo vải phất cờ nổi lên có năm năm. Trước và sau không có ai như thế. Nếu Trời cho vua ta sống thêm một giáp nữa. Thì bọn Đường, Tống đâu có đáng xưng hùng.” Bối cảnh lịch sử hiện nay cũng Nam Bắc chiến tranh. Đằng sau lưng miền Bắc, chẳng những con cháu của bọn Đường, Tống, Hán, Mãn lại còn thêm bọn bạch quỷ Nga-la-tư. Đằng sau lưng miền Nam, bọn tài phiệt tư bản đang bỏ của chạy lấy người. Chiến tuyến của miền Bắc bây giờ là quận Bồng Sơn. Mắt tôi hoa lên, tôi nhìn những đám mây nổi cuồn cuộn giữa trời. Những đám mây tạo thành những hình thù kỳ lạ trên trời cao, có lúc những đám mây này trông giống như hình ảnh đoàn quân của vua Quang Trung hai thế kỷ trước, với voi lồng phía trước, ngựa hý đằng sau, những binh sĩ nằm cáng chạy lúp xúp trong đêm tối. Hãy đốt lửa lên, nổi trống trận lên, tôi muốn nghe tiếng trống thúc vang hồi, tôi muốn nghe nhạc võ Tây Sơn.

– Anh có muốn ghé qua nhà không? Em đưa anh về nghe.

– Nhà với cửa gì, chỉ sợ không còn mạng mà về nhà thôi.


Tôi sờ vào túi, chẳng còn một điếu thuốc lá, quay xuống dưới tôi hỏi:

– Có cậu nào còn thuốc lá cho tôi một điếu.

– Còn sớm mà anh, Bác với chị Hải dặn em là mỗi chiều ghé qua nhà vài phút thôi.

– Cái thằng này gặp bà cụ có hai ngày nay mà suốt ngày Bác với chị Hải. Cho anh lại đồn.


Tôi thấy mình vô lý, có thể vì Phúc hỏi đúng vào lúc tôi đang như thiếp đi và tưởng chừng như tôi đã lạc bước trở về hai thế kỷ trước, làm một tên lính chạy lúp xúp với cái cáng đè nặng trên vai, nhưng lòng vui bão táp. Tôi ân hận nên quay sang nói với Phúc dịu dàng:

– Mày cho anh với hai ông này xuống đồn Quân cảnh, rồi tạt qua nhà một chút độ nửa tiếng quay lại đón anh được rồi.

– Anh có muốn ăn gì không? Bác nói trong tủ lạnh có nhiều đồ ăn Bác mua sẵn cho anh đó.

– Lại Bác với chị Hải nữa rồi. Anh không thấy đói, nhưng có chai rượu ông Kiệm mới cho. Mày kiếm cái gì nhậu được đem về trại tối nay mấy anh em mình lai rai chơi.

 

Ngày N + 12, 9 giờ tối


Tôi chán chả muốn xuống câu lạc bộ ăn cơm nữa. Có chai rượu của Kiệm cho, tôi rủ một số lính cũ, cùng tất cả sĩ quan về phòng tôi nhậu. Phúc không biết đào ở đâu ra một con gà quay, câu lạc bộ mang lên một thố tôm khô, củ kiệu. Ly tách không có, tôi bảo mọi người uống bằng cái nắp chai vậy. Chuyền nhau mỗi người một tua. Hết tua này tới tua khác. Ai có việc thì đi làm, xong việc hãy trở lại. Đây là đêm cuối cùng của đơn vị này. Ông sĩ quan Tiếp liệu hỏi toàn những câu lẩn thẩn về sổ sách kế toán giải quyết làm sao, v.v. Tôi bảo một chuẩn úy trẻ:

– Cậu chạy ra ngoài, lấy cái xe của tôi đi một vòng coi lính gác, ráng giữ vững đơn vị cho tới sáng mai. Cũng chả có gì lo đâu, Việt cộng thì còn đang lo tấn công cỡ đại đơn vị, họ không thèm tấn công các doanh trại đâu, nhưng cứ cẩn thận là hơn.

– Đại úy, mai mình rút vào trong Quy Nhơn, có phải phá hủy những máy điện không?

– Phá hủy làm gì, máy điện để cung cấp ánh sáng chứ Việt cộng có dùng nó để cho điện giật bọn mình chết đâu mà sợ. Có mấy khẩu đại liên 50, anh đem hết hộp cơ bẩm, vất xuống giếng, đạn cũng bỏ xuống giếng luôn. Biết đâu mình có ngày về trại còn biết chỗ vớt lên mà xài.

– Mai mấy giờ mình đi Đại úy?

– Mình không rút luôn một lần đâu, cứ thong thả mỗi lần đi như đi chợ mười, mười lăm người một chuyến GMC, dẫu sao mình chỉ thực sự bỏ khi đoàn xe ở Nha Trang về. Sáng mai cho thiêu hủy hết những hồ sơ không cần thiết. Dặn lính đừng có từ biệt người quen, chủ nợ gì cả. Cứ tà tà mà đi. Sáng mai bảy giờ đại đội cho tôi một trung đội tăng phái đồn Quân cảnh Quy Nhơn trước. Trung úy Kiệm sẽ giao cho ông năm chiếc xe Jeep để đi tuần, cộng với một chiếc của mình là sáu.


Ông Thiếu úy ở ban Nhân viên là trưởng toán này. Tôi có đặn Trung úy Kiệm ở ngoài đó rồi. Anh gắn cho tôi hai khẩu M60 trên xe chạy đầu và xe chạy cuối. Giữ tốc độ tuần tiễu độ mười cây số giờ. Đi khắp hang cùng ngõ hẻm.

– Hết rượu rồi Đại úy.

– Hết thì đi ngủ. Đào đâu ra nữa bây giờ?

 

Ngày N + 13, 8 giờ 30 sáng

Xuất phát từ đồn Quân cảnh Quy Nhơn một toán tuần tiễu gồm sáu xe Jeep. Một xe có gắn đại liên M60 đi đầu và một xe gắn đại liên đi đoạn hậu. Mỗi xe bốn nhân viên quân cảnh trang bị sắc phục Quân cảnh hành sự, băng Quân cảnh tay trái, nón sắt hai lớp có lưới, đi thật chậm quanh những khu đông đúc nhất. Viên thiếu úy ngồi trên xe đầu, dùng loa phóng thanh đọc một bản thông cáo:


– Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Đây là thông cáo đặc biệt của Đại tá Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định kiêm Thị trưởng thị xã Quy Nhơn:

“Cùng toàn thể đồng bào của thị xã Quy Nhơn. Như toàn thể đồng bào đã biết, Bắc quân đang dốc toàn lực để xâm lăng miền Nam. Sau những bất lợi ban đầu, Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã củng cố lại hàng ngũ, chúng ta đang chặn đứng đà tiến của Bắc quân tại Bồng Sơn. Chúng ta sẽ phản công để chiếm lại những phần đất đã mất. Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào hãy bình tĩnh, giới hạn các di chuyển không cần thiết. Lệnh giới nghiêm bắt đầu từ 8 giờ tối tới 6 giờ sáng hôm sau. Tôi tha thiết kêu gọi toàn thể đồng bào triệt để thi hành thông cáo này, ngõ hầu mang trật tự về cho thị xã chúng ta, để quân đội rảnh tay chặn đánh những đạo quân tiền phong của Cộng sản Bắc Việt đang xuất hiện ở ngưỡng cửa thị xã chúng ta.

Quy Nhơn, ngày… tháng… năm…

Đại tá Tỉnh trưởng Quy Nhơn, kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định.”


Từ một xe Jeep khác, một giọng đặc biệt Bình Định vang lên, tôi chọn Trung úy Đại đội trưởng để đọc bản văn thứ hai này, bởi lẽ ông là người Bình Định, sinh ra và lớn lên ở đây:

“Cùng toàn thể thanh niên của thị xã Quy Nhơn nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung!. Chính nơi đây hai thế kỷ trước Quang Trung Hoàng đế đã phất ngọn cờ đào để dựng lên nghiệp lớn. Chính nơi đây ca dao tục ngữ đã xác định tinh thần thượng võ của chúng ta:

Ai về Bình Định mà coi

Đàn bà cũng biết múa roi đánh quyền.


Hỡi các con cháu của Quang Trung Đại đế! Chúng ta không thể để cho phương Bắc, tay sai của con cháu Tôn Sĩ Nghị đặt chân chúng lên phần đất của Quang Trung Hoàng đế. Chúng ta phải chặn đứng bọn tay sai của đế quốc Cộng sản lăm le thôn tính chúng ta. Đất nước đang lâm nguy, và Quy Nhơn, Bình Định thân yêu của chúng ta đang nằm trong tầm đại bác của bọn Cộng sản vô thần.


Hỡi thanh niên của Bình Định! Các bạn là con cháu chẳng những của Quang Trung Đại đế, lại còn là hậu duệ của những Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, những danh tướng xa xưa đã từng đem máu xương mình, trộn vào mảnh đất cắt rốn chôn nhau. Hỡi các quân nhân còn đang nghỉ phép tại nhà, hỡi các thanh niên bất phục tòng và đào ngũ! Các bạn hãy mạnh dạn đứng lên bảo vệ chính đất đai của các bạn, chính gia quyến của các bạn. Hãy mạnh dạn đứng lên, những lỗi lầm cũ nếu có sẽ được xóa bỏ. Hãy đứng lên, an nguy của tỉnh nhà không phải chỉ nằm trong tay quân đội mà thôi. Nó còn nằm ngay trong tay của chính các bạn. Phòng tuyển mộ nhập ngũ của Tiểu khu Bình Định cũng như Quân trấn Quy Nhơn lúc nào cũng mở cửa để đón các bạn tình nguyện trong đoàn quân chống giữ tỉnh nhà.”


Tôi chưa bao giờ viết diễn văn, thông cáo, và đã phải mất bốn tiếng đồng hồ đêm qua, viết và xé không biết bao nhiêu lần mới thành hai bản văn tương đối tàm tạm này. Đọc lại nó tôi rất ngượng, dầu thế nào cũng phải làm một cái gì. Ít hay nhiều tôi rất thành thực trong hai bản thông cáo đó, tôi không bưng bít sự thật, Cộng sản hiện mới chỉ ngấp nghé ở Bồng Sơn, tôi không nói láo là quân ta đang chiến thắng. Tôi ngượng ở chỗ không nói hết sự thật là chúng ta đang bại. Tôi có ý tìm ông sĩ quan Trưởng phòng 5 của Tiểu khu Bình Định, nhưng không thể gặp được ông ta. Chính ra loại văn chương thông cáo này là nhiệm vụ của phòng Tâm lý chiến. Lẽ ra họ phải có một xe phóng thanh đi với chúng tôi, cực chẳng đã tôi đành phải viết hai bản thông cáo này và sử dụng máy phóng thanh xách tay của đơn vị.

 

Ngày N + 13, 11 giờ sáng

Trung tá Tham mưu trưởng Tiểu khu Bình Định muốn gặp tôi ở đầu dây điện thoại. Ông ngỏ ý khen ngợi và kêu tôi tiếp tục như vậy, ông ghi nhận thành phố có vẻ có trật tự lại. Ông đã chỉ thị cho Cảnh sát dã chiến gác trên các cao ốc trong thành phố.

Ông hỏi có cần ông giúp gì không? Được dịp, tôi xin ông lương khô và nhiên liệu càng nhiều càng tốt. Ông cho biết nhiên liệu thì nhiều vô số kể, nhưng lương khô thì ông không biết có hay không. Tuy nhiên ông cũng vẫn ký giấy cấp phát cho đơn vị tôi 500 khẩu phần lương khô. Lãnh được hay không là do còn hay hết.


                                                       Ngày N (Kỳ 6)



Trong Lửa Đỏ, Giữa Sự Chết, Trên Quê Hương - Phan Nhật Nam


Ngày N + 13, 12 giờ trưa

Tôi và Trung úy Kiệm gặp nhau riêng trong văn phòng của Kiệm, bây giờ tôi đang ở nhờ làm gì còn văn phòng. Tôi nói với Kiệm:

– Tôi có chuyện tối quan trọng muốn bàn với ông.

– Bộ mình rút ngay bây giờ hở Đại úy?

– Không phải, nhưng có liên quan đến chuyện rút lui.

– Đại úy chạy từ Pleiku rồi về tới đây. Thấy cái gì phải làm, Đại úy cứ ra lệnh.

– Bây giờ cậu cho tôi một chiếc Jeep tuần tiễu quanh Ty ngân khố, nếu cần thì cho một người túc trực ở đó.

– Bộ mình định làm một cú đặng có tiền chạy hay sao?

– Cậu điên rồi, nội cái ý đó không cũng đủ mười năm tù, còn thực hiện nó thì phải bắn. Nhưng ý cậu cũng không sai ý mấy sếp bự là mấy. Người ta sẽ ẵm bạc trước rồi mới dọt. Mình cho người túc trực ở đó, hễ các sếp bự đến đây là sắp dọt đó. Tôi cho một xe Jeep đi bên cạnh Đại tá Tiểu khu trưởng, ngoại trừ việc để củng cố uy quyền, cũng có vụ này luôn. Bây giờ mình phải có hai tần số để liên lạc. Một tần số chung với tần số của Tiểu khu. Nhưng khi nào phải báo động cho đơn vị thì dặn các toán tuần tiễu vào máy xin đổi sang tần số làm việc riêng của mình. Thế là đủ hiểu.

– Đại úy đã nói vậy thì cứ như thế mà làm.

– Bây giờ cậu dặn riêng cái toán tuần tiễu ở kho bạc cho tôi, còn toán đi với Đại tá Tỉnh trưởng tôi đã dặn họ rất kỹ rồi. Tuyệt đối kín và tuyệt đối tỉnh táo. Tình hình ở bến tàu ra sao?

– Nản lòng lắm đại ca, quân dụng đi cũng lắm và điếm dọt theo cũng nhiều. Em nào cũng nói là vợ con quân nhân.

– Lính của mình có đủ để làm việc ở ngoài đó không?

– Dư nữa là khác Đại úy.

– Chiều nay tập họp binh sĩ, cậu thay mặt tôi phổ biến một nội lệnh thông báo cho mọi người biết kể từ giờ phút này mỗi người trong lúc hành sự, thi hành công tác, v.v. phải mang đủ hai bộ quần áo, lương khô và súng đạn đầy đủ. Tất cả những thứ này để ngay trên xe tuần tiễu. Cậu họp với mấy sĩ quan bên đại đội chuyên trách, phân phối trước xe cộ cho từng toán, từng tiểu đội, chớ có làm ồn lên. Về phương tiện, tôi có ba GMC, hai xe Dodge cùng năm xe Jeep. Nhập quân số hai đơn vị lại, cộng chung số xe cộ và phân phối cho hợp lý. Bây giờ tôi về lại Phú Tài. Xế chiều tôi sẽ ra.


Ngày N + 13, 2 giờ 30 chiều


Mãi hai ngày nay, bây giờ mới có chút thì giờ để thở. Tôi nói Phúc lái xe tạt qua nhà. Căn nhà vô chủ nào cũng lạnh lẽo, cũng vô duyên. Phúc làm như quen thuộc căn nhà hơn tôi. Hắn lôi ra đủ thứ để ăn được, để gói mang đi được, những thứ ăn tại chỗ, những thứ ăn dọc đường, gã thấy tôi nhìn chăm chú, gã nói:

– Những thứ này chị Hải làm sẵn, dặn em lo cho anh, chị với Bác lo cho anh quá trời. Chị dặn em đủ thứ việc nào là anh không thích ăn cá, anh thích ăn phở, không thích mì, thích hủ tíu bò viên có gân, sách, v.v.


Tôi bâng khuâng, không biết giờ này vợ con tôi đang làm gì? Còn ở Nha Trang hay đã vô được Sài Gòn? Sáng nay liên lạc với Đại úy Vũ đồn Quân cảnh Nha Trang, song không được gặp. Tôi liên lạc với Võ Ý cũng không được, chỉ gặp Trung tá Trang của Sư đoàn 2 Không quân, ông cũng không hứa hẹn được điều gì. Ông chỉ nói là sẽ cố để giúp vợ con tôi một chỗ ngồi trong phi cơ quân sự.

– Hôm qua em hỏi thằng Quang nó đi với mẹ hay ở với bố. Nó nói với em nó muốn ở với bố. Thằng nhỏ trông giống anh như hai giọt nước. Con Hằng cũng giống anh, nhưng có vẻ giống chị Hải nhiều hơn. Nếu không có giặc giã chắc anh chị hạnh phúc lắm.

– Chú làm gì vậy?

– Em nấu bậy bạ nồi cơm, có thức ăn sẵn anh em mình làm một bụng. Nói dại, có chết bất đắc kỳ tử thì mình cũng no, không có làm ma đói khổ lắm.


Tôi bỏ lên lầu. Căn nhà bốn tầng này là kết quả buôn tần, bán tảo của một đời bà mẹ vợ tôi. Ông già có vợ hai ở trên Pleiku, một tay bà cụ gây dựng cho các con. Tôi nhìn quanh các phòng. Trên bức tường phòng chính của lầu hai, có hình vợ chồng tôi hôm đám cưới, hình hai đứa nhỏ. Đây chắc là phòng bà cụ dành cho vợ tôi. Tôi lên lầu ba, một căn phòng để thờ Phật Tổ, có hình bà cụ ngoại của vợ tôi, mới mất được hai năm, có hình cô em vợ tôi mới chết vì đau màng óc được mấy tháng. Tôi leo tuốt lên sân thượng.

Từ trên vị trí cao này nhìn được bao quát cả thành phố Quy Nhơn. Biển vẫn trong và xanh, nhưng cái chợ ồn ào náo nhiệt khi trước chỉ có vài người lèo tèo qua lại. Tôi đã thấy những thành phố chết: Pleiku, Phú Bổn và bây giờ là Quy Nhơn, mỗi nơi chết một cách khác. Pleiku, nơi có cả trăm ngàn quân, hàng trăm đơn vị lớn nhỏ, chết như mãnh hổ trúng ngọn lao chí tử, nó lồng lên, sải bốn vó trên đường chạy trốn. Phú Bổn lại giống như một con nai trúng đạn, nằm thở dốc chờ chết. Nhưng Quy Nhơn thì khác hẳn, nó cũng là mãnh thú, chưa bị trúng lao, chưa bị trúng tên, nhưng đang bị dồn tới đường cùng. Hẻm núi ở trước mặt lại bị chặn, nó đang co cái thân thể khôi vĩ lại. Nó biết được những gì sắp đến nên trông rõ sự đau đớn tuyệt vọng nơi mỗi con đường, mỗi ngõ hẻm, mỗi căn nhà, và mỗi người dân. Tôi thèm được nghe tiếng ngựa hí, voi lồng, quân reo, trống thúc. Nhưng tôi chỉ nghe dược tiếng chân rón rén của Phúc lên gọi tôi xuống ăn cơm.


Ngày N + 13, 3 giờ chiều

Đích thân tôi lái xe tới nhà Nguyễn Mộng Giác. Nhà đóng im ỉm, gọi cửa mãi không thấy ai trả lời. À thì ra tên thầy giáo trông có vẻ lù đù hiền hòa này không chậm chạp như tôi nghĩ, lại thêm một Từ Thứ nữa thoát thân. Tôi lái xe tới nhà Lữ Quỳnh, gã còn ở trong trại chưa về, gặp vợ Lữ Quỳnh mới biết Giác đổi về Sài Gòn khá lâu, thế mà hồi nãy tôi nghĩ sai về Giác, dẫu sao cũng được, còn ai là bạn tôi ở thành phố này, tôi đều muốn họ có cánh mà bay cho hết.


Ngày N + 13,3 giờ 30 chiều

Phúc vừa lái xe lọt vào trong cổng trại tôi đã thấy ông bác sĩ Huấn đứng thơ thẩn nơi hành lang. Tôi giận điên người lên. Cái ông này chậm hiểu thế mà lại đậu được bác sĩ. Tôi đã dặn kỹ ông ta là không vội ra ngoài này. Có ai phạt vạ gì đâu mà ra sớm thế. Tôi cố giữ giọng hòa nhã hỏi:

– Sao ra sớm thế ông Đốc? Có lo được thuốc men cho đầy đủ không?

Huấn cười, cái cười không ai có thể giận được, anh nói nhỏ nhẹ:

– Thưa Đại úy, không. Ở trong đó cũng như ngoài này, chẳng có ai làm việc, tôi có chờ thêm vài ngày nữa cũng thế thôi. Nha Trang cũng thế, Quy Nhơn cũng vậy. Tôi muốn ra ngoài này với đơn vị.


Tôi nhìn thật sâu vào mắt Huấn, tôi thấy rõ là Huấn hiểu những ý ngầm của tôi. Có thể anh muốn ra đây chia sẻ với mọi người, anh như có mặc cảm phạm tội nếu ở lại Nha Trang, đây không phải là phạm kỷ luật của quân đội, bởi lẽ anh đọc rõ ý tôi là ở lại trong đó. Anh muốn ra ngoài này, đó là tình đồng đội, tình Người, và cũng có thể đó là lương tâm của một y sĩ trẻ. Đột nhiên tôi nhớ lại lời vợ tôi nói hôm nào:

– Người ta chết nhiều quá. Lại chết toàn người tốt bụng không à!

Tôi vỗ vai Huấn hỏi thân ái:

– Ông Đốc ăn gì chưa? Chú Phúc ơi, làm cái gì ăn đi, có chết cũng thành con ma no. Bảo mấy ông ở Nha Trang mới về lại ăn luôn một thể. Ăn xong là bọn mình dọt, ăn xong là giã biệt Phú Tài.


Ngày N + 13, 4 giờ chiều

Chuông điện thoại reo vang, tôi cũng không buồn nhấc,

Phúc cầm lấy ống nghe, gã nói:

– Anh ở bên ban Truyền tin gọi anh xuống, có một ông Thiếu tá nào ở Cục An ninh Quân đội Sài Gòn muốn nói chuyện trực tiếp với anh trên máy siêu tần số.

Tôi đứng dậy ra ngoài. Thì ra bố mẹ tôi ở Sài Gòn quá nóng ruột, đã nhờ một ông chú họ liên lạc với tôi. Tôi nhờ chú thưa với bố mẹ tôi là vợ con tôi đã vào Nha Trang, ở nhà đừng lo cho tôi lắm.

Bây giờ tôi mới nhớ mẹ tôi. Dường như trong đời tôi hiếm khi nào tôi nhớ tới mẹ. Tôi nhớ bà cụ lo cho tôi từng lọ chà bông khi tôi học ở Thủ Đức. Hồi đó khi nói chuyện quân trường tập diễn binh cho cả nhà nghe, bọn sinh viên sĩ quan chúng tôi hay đếm bò, gà, cá, heo thay vì đếm một hai ba bốn. Bà cụ hỏi tại sao lại đếm bò, gà, cá, heo. Tôi giải thích đó là thực đơn của trường cứ một bữa ăn bò, một bữa gà, một bữa cá, một bữa heo. Bà cụ biết tôi không ăn cá, nên tuần sau về phép tôi có một hũ chà bông, khi thì giò kho khô. Tôi nhớ tới bố tôi, tôi nhớ tới bài thơ làm riêng cho ông cụ:

… Chúng con đem xương máu đắp đường,

Nâng gót chân cha trở về nhàn hạ…

Đường về chắc chắn lại không có trong đời bố tôi. Đường đi cho đời tôi rồi lại cũng không có nốt. Không biết đời các con tôi sẽ ra sao?

Tôi ngồi thừ ra ở trong phòng truyền tin, tiếng rè rè của cái loa khuếch âm của hệ thống siêu tần số đều đều liên tục, Phúc tiến vào nói:

– Anh về ăn cơm, bác sĩ Huấn và mọi người đang đợi anh.


Ngày N + 13, 5 giờ chiều

Thế là chúng tôi bỏ lại đơn vị, chúng tôi đi trong lặng lẽ, ông sĩ quan Tiếp liệu trước khi đi còn khóa cổng đơn vị bằng ba cái khóa tổ chảng. Doanh trại này tôi mới ở có ba ngày. Thế mà tôi nhớ từng pháo đài, từng vọng gác, từng cái bóng đèn hàng rào phòng thủ. Nói chi tới sân cờ, tới phòng hội, câu lạc bộ. Phải chi tôi đổi về đây vài tháng trước, có một ít ngày thần tiên với vợ con. Phải chi… ước chi… Nếu mà…


Ngày N + 13, 5 giờ 30 chiều

Xe rẽ vào đồn Quân cảnh Quy Nhơn, tôi đã thấy lố nhố một đám thanh niên quân phục lẫn thường phục. Tôi hơi ngạc nhiên vì sự hiện diện của đám người này, thì Trung úy Kiệm đến chào và nói:

– Kết quả mấy cái thông cáo của Đại úy đó. Anh Ba giỏi thật, làm những việc ít người làm, văn chương cũng hay nữa.


Tự nhiên bụng tôi quặn lại. Sao mà nhiều oái oăm thế này, muốn ông Huấn ở Nha Trang thì ông lù lù vác xác ra, viết hai cái thông cáo phần chính để dân chúng bớt dao động, hoảng hốt, lại vồ được vài chục ông đi trình diện. Miền Nam đâu cần vài chục người, cần trăm ngàn người nữa kìa. Thật ra cũng không cần thêm người, chỉ cần những người chỉ huy, quyết tâm đánh. Quang Trung Hoàng đế đâu có nhiều quân. Tôi nói với Kiệm:

– Không phải vì văn chương đâu, vì họ sợ bị bắt đó. Chưa bao giờ Quy Nhơn lại được tuần tiễu kinh hoàng như vậy, họ trình diện là vì sợ đó thôi. Ngày mai ông cho đọc một cái thông cáo kêu gọi dân giữ trật tự thôi. Tôi không muốn đọc cái thông cáo số hai nữa. Nướng thêm một số người cũng chẳng ích gì. Ông vẫn cho người thường trực ở Kho bạc phải không?

– Dạ, ngoài ra tôi có tăng cường thêm nhân viên của trại giam để lập tuyến trì binh phía Bắc thành phố. Tôi không muốn đưa nhân viên đi quá xa. Tôi chỉ tăng cường thêm nửa tiểu đội nhân viên ở Trạm kiểm soát phía Bắc.

– Vậy đủ rồi. Từ giờ trở đi, đào binh trình diện thì giữ lại chuyển qua phòng 1, còn thanh niên tình nguyện thì kiếm cớ cho họ về nhà.

– Đại úy, tôi nghe tin đồn là mình sẽ nhường cho Mặt trận Giải phóng từ vĩ tuyến 14 ra, nghĩa là cỡ từ Nha Trang ra. Đại úy nghĩ coi có lý không?

– Tôi cũng muốn tin như thế lắm. Nhưng giả thử nếu ông có thể đớp được cả tô phở trong lúc đói mờ người, ông có sẻ cho thằng khác nửa tô không?

– Không, nhưng chuyện này đâu có giống tô phở, Đại úy.

– Nó vậy đó, chúng ta chỉ là dăm cọng giá trong tô phở đó mà thôi.


Ngày N + 13, 8 giờ tối

Vài sĩ quan bên Quân cảnh Tư pháp lại thăm, họ hỏi tôi về dự tính thế nào trong những ngày sắp tới. Phần lớn họ cùng khóa với Trung úy Kiệm, đôi người là học viên của tôi ở trường Quân cảnh. Cũng như Kiệm, họ có được thông báo một bản về vị trí của tôi: Cái chức vụ “Chỉ huy trưởng Quân cảnh khu chiến miền bắc” nghe vừa giễu, vừa nhà quê. Họ nửa như muốn nhập chung chạy với tụi tôi khi rút lui, nửa họ lại muốn độc lập. Họ dò ý kiến, tôi thì sẵn sàng nếu họ ngỏ ý, nhưng tôi không muốn tự mình gánh thêm một chút trách nhiệm bâng quơ. Tôi có cả ngàn mối lo. Họ thì chỉ muốn biết lúc nào tôi dọt, để dọt theo, nhưng không muốn đi cùng đoàn. Do đó hai bên nói chuyện nhạt nhẽo, gượng gạo. Kiệm nói với tôi:

– Mặt trận Bồng Sơn chắc sẽ vỡ không chịu nổi. Hôm nay ở Trạm kiểm soát mạn Bắc dân chạy về lũ lượt anh Ba à.

– Tôi không sợ Việt cộng tấn công, tôi chỉ lo đêm nay nó tung một tiểu đoàn án ngữ quốc lộ 1 chỗ đồi núi hiểm trở như đèo Đại Lãnh là bọn mình như cá ở trong rọ rồi.

– Ngày mai mình dọt đi anh Ba.

– Tôi cam đoan với cậu mình sẽ dọt ngay khi nào những sếp lớn dọt. Tôi không muốn dọt. Tôi muốn đứng lại chiến đấu như những người LÍNH.

– Anh Ba à, lính của mình người ta gọi trại đi quân cảnh là quân kiểng đó, mình là lính kiểng mà nhập cả hai đơn vị lại chưa được hai trăm mống. Đánh chác cái gì anh Ba?

– Từ hôm ra ngoài này tới giờ, tôi chưa bao giờ có ý định đánh nhau, tử thủ gì cả, bởi tôi biết rõ phẩm chất đơn vị mình, biết rõ những người lính của mình. Cái mà tôi toan tính phần lớn là chuyện rút lui, nhưng không thể bỏ chạy nhục nhã như thế. Hễ còn những người chiến đấu phía trước mặt, thì tôi còn ở lại đây. Chẳng để làm gì cả. Nhưng phải ở lại cho tới khi không thể ở lại.

– Thôi kệ mẹ mọi chuyện, anh Ba cho mời mấy ông kẹ của anh Ba lại nhậu vài ly chơi.

– Ông đã cho di tản vợ con binh sĩ của ông chưa? Tôi nản cái cảnh lúc hữu sự vợ bìu con díu lắm.

– Tụi tôi đâu có xe GMC như anh Ba. Nhưng mà tụi nó cũng cho vợ con về nhiều lắm rồi. Những người nào ở lại phần lớn là người địa phương.

– Tôi báo trước cho ông biết, lúc phải đi là sẽ đi liền trong năm phút, mười phút không có chờ đợi bất cứ ai.

– Được rồi anh Ba. Kệ mẹ nó, đi nhậu anh Ba.


Ngày N + 13, 11 giờ đêm

Tôi nói với Phúc:

– Chú lái xe cho anh đi xem toán tuần tiễu làm ăn ra sao?

Phúc và tôi chưa kịp leo lên xe thì đằng sau đã có tiếng người:

– Anh Ba cho tôi đi với.


Tôi quay lại, bác sĩ Huấn ngượng ngập khi gọi tôi là anh Ba, nhưng tôi đọc trong mắt anh, tất cả những gì quý mến. Có hai sĩ quan trẻ nữa cũng nói theo:

– Anh Ba cho tụi em đi với. Ở đồn này muốn điên lên. Tôi nói với Phúc:

– Thôi chú để anh lái, chẳng lẽ bắt ông Đốc ngồi đằng sau. Mày có buồn ngủ ở nhà mà ngủ, anh đi với ba ông kẹ này được rồi.

– Không em muốn đi, để em vào mang cây súng “Đại Cồ Việt” theo, hễ có thằng Việt cộng mả mẹ nào, em quạt cho nó về với Bác Hồ luôn.


Thành phố không một bóng người, những con chó nhớ chủ lang thang trong các ngõ hẻm, tụ tập nơi những đống rác.

Những con chuột chạy nhởn nhơ trong bóng tối. Quy Nhơn như một con mãnh thú, đã lọt lưới thợ săn, nhưng chưa bị một cái lao, một mũi tên nào. Nó vùng vẫy trong cái lưới cứ mỗi lúc mỗi thu hẹp. Bây giờ nó đang thở dốc. Nó đang thở dồn dập chờ người ta xỏ một cái đòn luồn dưới bụng nó, trói bốn chân lại, thế là xong.


Tôi bắt gặp toán tuần tiễu đang chạy vòng khu chợ, thấy xe tôi, họ ngừng lại. Tôi nói với Thiếu úy trưởng toán tuần tiễu cứ tiếp tục, tôi cho xe chạy vào hàng thứ hai, bản thông cáo số 1 tôi viết đại thay lời ông Tỉnh trưởng kêu gọi dân chúng giữ trật tự được đọc vang lên trong bóng đêm. Tôi ra dấu cho ngừng lại, tôi bảo người sĩ quan trưởng toán:

– Thôi ông đừng đọc nữa. Nghe nản bỏ mẹ, ông không thấy là người ta đã giữ trật tự rồi đó sao, có ai di chuyển nữa đâu mà ông cứ đọc hoài. Phải biết lúc nào cần làm gì thì làm chứ cứ như cái máy ấy.


Xe tiếp tục chạy trong thành phố như đi trên mây. Tôi quay lại hỏi hai người ngồi sau:

– Mấy ông có vợ con gì chưa?

– Chưa anh Ba. Tụi em còn là con bà phước.

– Thế là tốt rồi. Vợ con lúc nào có chả được. Còn trẻ mà, tàn cơn chinh chiến rồi tha hồ mà vợ con.

– Còn ông Đốc gởi bà ấy ở đâu?

– Nhà tôi có bà cô ruột ở Nha Trang. Tôi biết Anh Ba có ý muốn tôi ở lại Nha Trang, nhưng thú thật với anh Ba, tôi thấy ở trong đó nản quá. Giá chạy được vào Sài Gòn ngay thì tôi đưa vợ tôi về Sài Gòn rồi mới mò ra, nhưng mà đâu có phương tiện để đi. Vợ tôi nó cũng đòi ra lại ngoài này. Sáng nay nó đi chợ mua cả đống đồ ăn cho tôi. Nó biếu Đại úy chục nem với một cây giò, nãy giờ tôi đâu có dịp đưa cho anh Ba.

– Thôi ông cứ giữ lấy, bà xã tôi mua cả đống đồ ăn để trong tủ lạnh ở nhà. Thằng ma gà Phúc này cứ vài tiếng lại về nhà vồ ra ăn. Nó sợ làm ma đói lắm.

– Trung úy Kiệm có đưa một cô nào đó vô trong đồn Quân cảnh đó anh.

Phúc góp vào.

– Kệ ông ấy, mình ở nhờ nhà người ta mà.

– Còn hai ông kẹ ngồi sau, có ông nào cần dẫn cô nào chạy không? Nếu là người tử tế, người yêu của các ông thì tôi chấp nhận được. Còn bán ba hay là cà chớn thì đừng có mang theo, xui cả đám đó.

– Không có đâu anh Ba.

– Về nhà nhậu đi anh, bác sĩ Huấn nói bà ấy gởi biếu anh nem thì về cho rồi. Thành phố gì mà như nghĩa địa ấy.

– Mày chỉ sợ là ma đói thôi. OK. Về nhậu.


Ngày N + 14, 9 giờ sáng

Trung úy Kiệm lái xe đưa tôi đi quan sát bến tàu. Quân dụng, cơ giới xếp hàng chờ xuống tàu dài cả cây số. Tôi nói với Kiệm:

– Anh check lại máy truyền tin của họ hộ tôi. Tôi không muốn còn sót lại dù chỉ là một người lính.

– Đừng lo anh Ba, máy truyền tin ở đây có hư cũng còn có điện thoại. Chỉ sợ ở trạm kiểm soát phía Bắc thôi.

– Tôi nghĩ đến chuyện này rồi. Khi phải rút thì toán tuần tiễu đương phiên vòng lên Trạm kiểm soát Bắc bốc hết nhân viên ở đó. Toán ở bến tàu thì đã có xe cơ hữu, trạm kiểm soát mặt Nam thì đương nhiên đoàn xe của mình sẽ ngang qua đó.

– Anh Ba mà không về thì tụi tôi không biết đường nào mà mò.

– Ông nói vậy thì biết vậy, chứ ông đâu có vừa gì. Đã cho vợ con về trước, phút chót nảy ra một cô bồ ở trong đồn. Có mình ông tôi nghĩ ông dám vồ ty Ngân khố lắm.

– Anh Ba nói vậy tội nghiệp. Vồ ty Ngân khố để mà bị xử bắn à.

– Thôi về đi ông.


Ngày N + 14, 12 giờ trưa

Đang ăn cơm ở đồn Quân cảnh Quy Nhơn với Kiệm, Huấn, v.v. bỗng tôi nghe cái loa của máy truyền tin vang lên rõ mồn một:

“Phú Quốc gọi Đống Đa Hồng Hà.”

Phú Quốc là danh hiệu tôi đặt cho toán hộ tống của Đại tá Tiểu khu trưởng. Hồng Hà là danh hiệu của tôi. Tôi nuốt vội miếng cơm vừa và, bước tới bục điều hành chỗ để máy.

“Phú Quốc gọi Hồng Hà trả lời.”

“Hồng Hà nghe đây.”

“Phú Quốc đang vào tần số liên lạc stop. Hồng Hà trả lời.”


Năm phút trôi qua, tôi chuyển sang tần số riêng, giọng Thượng sĩ Điệp một nhân viên cũ của tôi ở Pleiku, nhanh nhẹn, tháo vát, một hảo thủ bóng chuyền của cả Quân đoàn 2 được tôi cử đi trưởng toán này. Qua tần số mới giọng Điệp vang lên:

“Phú Quốc gọi Hồng Hà. Trả lời.”

“Không cần phải ngụy thoại nữa. Cứ nói thẳng rõ. Hồng Hà tôi nghe đây.”

“Trình anh Ba, mặt trời lên con chim, có cả sao hai nữa. Mọi khi đi tôi đều được chỉ thị, kỳ này không.”

“Anh đang ở đâu?”

“Cách anh Ba bốn sải phía trước mặt.”


Vậy là họ ở cách đây bốn mươi cây số về phương Bắc. Vậy là họ đang ở Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn 22, “có sao hai” nữa tức là có cả Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn 22. Như vậy là Bồng Sơn vỡ rồi, không biết họ có lập phòng tuyến mới ở phía sau không? Nếu lập phòng tuyến mới ở Phù Cát thì Quy Nhơn còn đứng vững được hai, ba ngày nữa. Nếu không, Quy Nhơn sẽ vỡ ngay chiều nay. Tôi nói với Điệp:

– Anh cứ zu-lu đi, tôi cho người lên thế.

– Tôi nghe Hồng Hà năm.


Rời máy truyền tin, tôi quay vào bàn ăn nói với Kiệm và Trung úy Đại đội trưởng của tôi:

– Rồi, không có gì cuống quýt cả. Người nào đội nấy, Kiệm cho gọi người của mình ở bến tàu về, chỉ thị toán tuần tiễu đương phiên cứ đi tuần như thường lệ, tiến lên phía Bắc đón toán kiểm soát trì binh của mình rồi tiếp tục đi tuần trong thị xã. Khi nào có lệnh sẽ không quay về đồn. Hẹn gặp họ ở trạm kiểm soát phía Nam rồi từ đó mình đi luôn. Tôi còn chờ báo cáo của toán tuần tiễu ngoài ty Ngân khố. Còn ông cho tập họp 27 tù binh lại.

Tôi muốn nói chuyện với họ. Tôi nghe một giọng nói bâng quơ ở ngoài vọng vào:

– Bắn mẹ nó hết đi anh Ba.


Ngày N + 14, 12 giờ 30 trưa

Đây là lần đầu tiên và có lẽ là lần cuối cùng tôi nói chuyện trực tiếp với tù binh. Họ có vẻ lo sợ trong đáy mắt. Dĩ nhiên họ cũng đánh hơi được cái gì bao quanh họ. Họ sợ tôi bạo hành, ngược đãi họ. Không một ai già cả trong đám này. Họ đều là tù binh Bắc Việt xâm nhập. Tôi từ tốn nói với họ:

– Tôi là Chỉ huy trưởng mới của các anh. Thiếu tá Đèo Ngọc Thanh đã đổi đi đơn vị khác. Ở đây ai có cấp bậc cao nhất?

Thái độ cố hữu của tù binh Cộng sản là không bao giờ trả lời.

– Tôi nắm hồ sơ của các anh trong tay. Tôi biết ai là người có cấp bậc cao nhất. Nhưng tôi muốn xem thái độ cộng tác của các anh mà thôi. Cốt cách của các anh tôi biết rất rõ. Hiện tình hình chiến sự bất lợi cho chúng tôi. Tôi được lệnh di chuyển các anh tới chỗ an toàn hơn. Tôi muốn bảo vệ sinh mạng các anh. Nhưng các anh phải tự bảo vệ các anh trước bằng cách tuyệt đối thi hành những mệnh lệnh do toán áp giải của tôi ban ra. Khi di chuyển trên xe phải ngồi, không một ai được đứng. Không được nói chuyện. Nói tóm lại càng giữ im lặng càng tốt. Tôi sẽ có lệnh riêng cho toán áp giải các anh.


Quay qua ông Đại đội trưởng chuyên trách tù binh tôi nói nhỏ:

– Ông đã cho chỉ thị đặc biệt cho nhân viên đi xe này chưa? Còng tay họ lại, nếu cần bịt mắt. Về kỹ thuật giải giao trên xe, chắc tôi không phải nhắc các anh phải không?

– Tôi có ra lệnh rõ ràng chi tiết cho họ rồi. Cũng không cần phải bịt mắt vì xe đó tôi có cho chăng bạt kỹ lưỡng rồi. Chỉ có người tò mò tới tận nơi mới biết xe đó chở tù thôi.

– Mấy giờ rồi ông Kiệm?

– Mười hai giờ ba lăm, anh Ba.

– Ông đã gọi toán hành sự ở bến tàu về chưa?

– Họ về rồi.

– Toán tuần tiễu đã bốc người của mình ở trạm kiểm soát chưa?

– Để tôi lên máy check lại. Từ máy truyền tin vang lên: “Kinh Kỳ gọi Hồng Hà.”


Mọi người căng lên. Kinh Kỳ là danh hiệu tôi đặt cho chiếc xe tuần đặc biệt chung quanh Ty Ngân khố. Ai cũng biết cái gì phải đến đã đến.

“Hồng Hà nghe.”

“Mặt trời vừa mới mọc.”

“Kinh Kỳ zu-lu đến nhà mới sẽ có người đổi phiên. Trả lời.”

“Tôi nghe Hồng Hà năm.”

“Ông Kiệm đâu rồi, check cho tôi toán tuần tiễu đương phiên. Bây giờ là mười hai giờ bốn lăm. Tất cả có mặt ở trạm kiểm soát phía Nam thành phố lúc một giờ ba mươi. Xuất phát từ đây, ông Kiệm đưa toán tuần liễu hạ phiên chạy vòng vòng trong phố một chút rồi hãy trở xuống hướng Nam. Nhớ là tôi không muốn thấy có những người không phải là lính trong đoàn xe. Khoan đã, mình có bao nhiêu xe có gắn đại liên?”

“Đồn có bốn, mình có hai anh Ba.”

“Đây là thứ tự đoàn xe: toán tuần tiễu thượng phiên đi đầu, kế đó hai xe GMC, một xe chở tù có một xe đại liên chạy kế. Rồi tới toán tuần tiễu hạ phiên của ông Kiệm, kế đó là một xe Jeep gắn đại liên, rồi hai xe Dodge, rồi hai GMC còn lại, sau cùng là toán tuần tiễu chót. Mình có bao nhiêu Jeep cả thảy?”

“Đồn và Đại đội D2 Quân cảnh có 9, mình có 5, anh Ba.”

“Giữ cho tôi một Jeep đại liên đi sau chót.” “Trong trường hợp bị phục kích thì sao anh Ba?”

“Thường thường khi phục kích đoàn xe bao giờ địch cũng đánh cắt ra làm hai, ba khúc. Những xe nào đi đầu thoát khỏi dọt đi luôn. Tuyệt đối không quay lại. Những xe bị kẹt lại dĩ nhiên là phải chiến đấu rồi. Bình tĩnh là yếu tố duy nhất để tìm đường sống. Nhảy ngay xuống xe, nấp vào hố, mương, gò đất, gốc cây… Tất cả những xe đại liên nào không trúng đạn giây phút đầu là phải khai hỏa ngay lập tức vào hai vệ đường, đừng có hốt hoảng cứ đằng trước mà nã đạn thì bắn lộn vào quân nhà đó. Phải nhớ là bình tĩnh, bình tĩnh, bình tĩnh.”

“Tôi đi được chưa anh Ba?”

“Rồi, anh có năm phút để dặn lính mấy điều vừa rồi, anh đi ngả kho đạn tới trạm kiểm soát Nam chờ tôi.”

“Bao giờ em đi anh Ba?”

“Toán của ông đi với tôi, chờ ông Kiệm đi trước độ mười phút, toán của ông có hai GMC cứ tà tà đi thẳng quốc lộ 1 không phải vòng vèo đâu.”

“Xe anh Ba đi ở chỗ nào?”

“Kế chiếc xe đại liên sau cùng. Kể từ giờ tất cả các máy truyền tin phải mở 24/24.”


Ngày N + 14, 1 giờ trưa

Tôi nói Thiếu úy Cảm cứ dẫn đoàn xe đi từ từ tới điểm hẹn, tôi muốn nhìn thành phố Quy Nhơn lần chót. Chính nơi đây vợ tôi đã sinh ra, và đã lớn lên. Chính nơi đây ngay sau khi thành hôn tôi phải về ra mắt cả họ ngoại vợ tôi. Vì tôi là một anh Bắc Kỳ, mấy người anh em họ với vợ tôi lúc đầu nhìn tôi hơi kỵ, nhưng rồi họ thân với tôi ngay. Chính nơi đây qua Nguyễn Bắc Sơn tôi giao tình với Nguyễn Mộng Giác, Lữ Quỳnh. Từ liên hệ này lan sang những Lữ Kiều, Nguyên Minh, xem chừng ra Quy Nhơn tặng cho tôi nhiều hơn những nơi khác. Những nơi khác tôi đến với lòng phiền muộn và đi với lòng buồn bã, ở đâu đâu tôi cũng làm rơi vãi tuổi trẻ, ở đâu đâu tôi cũng chỉ thấy cái không khí thời chiến hủy hoại chúng ta đến tận cỗi rễ. Chỉ nơi đây Quy Nhơn cho tôi được đôi điều ấm cúng của tình người, để sau cùng hết sức oái ăm, hết sức oan trái, tôi đến đây ba ngày nhìn thấy Quy Nhơn rồi cũng chẳng còn gì. Có còn chăng chỉ là mấy cái tháp của dân Chàm đã dựng cách đây vài thế kỷ. Rồi những tháp Chàm này sẽ đứng vững được bao lâu?


Tôi đi ngang qua một cây cầu nhỏ ở đầu thị xã, mấy người nghĩa quân già vẫn giữ an ninh đầu cầu. Tôi nhìn thấy những cánh bèo của mùa hè đầy hoa tím, tôi nhìn thấy những ngọn lúa ngã rạp dưới gió. Và đây những cao ốc đầu tiên của thành phố, những người cảnh sát dã chiến còn đang đứng gác trên các cao ốc, những bầy sẻ vẫn bay lên, sà xuống, những con én lạc đàn của mùa xuân đang chao mình trong nắng. Tất cả có biết không? Những người có trách nhiệm với Quy Nhơn đang tìm cách đào tẩu. Những người mới mấy tháng trước đây còn khệnh khạng ra vào, còn quyền uy ngập mặt, họ đang cúi đầu xuống, giấu mặt đi, len lén đào tẩu không một lời báo động với thuộc hạ. Cả tôi nữa, tôi đã dàn ra một số những xen kịch đủ để làm cho những người dân yên tâm ở trong nhà, đủ cho những người nghĩa quân già gác trên đường vào thị xã, những người cảnh sát dã chiến phòng thủ trên các cao ốc. Tôi cũng bỏ đi như một tên ăn cắp. Phải chi tôi được chỉ huy bởi những tiểu tướng của Quang Trung. Những tiểu tướng ít tài nhưng có dư lòng quyết chiến. Đất Quy Nhơn ơi! Sao cay nghiệt thế này?


Ngày N + 14, 1 giờ 30 chiều

Bây giờ thì xa hẳn rồi. Quy Nhơn ở đằng sau lưng mười cây số. Trong suốt mười cây số vừa qua, có những lúc tôi giận mình đến nghẹt thở, muốn bảo Phúc thắng xe lại, để tôi xuống, đưa cho tôi khẩu “Đại Cồ Việt” của ông Thanh. Tình hình này rồi sớm hay muộn cũng có lúc mình là cá nằm trên thớt. Tại sao không nhân cơ hội cái lưới chưa chụp xuống thì làm bậy một vài đường gươm.


Phải đổi máu của mình lấy một chút gì chứ? Phải đổi thịt của mình lấy một chút gì chứ? Nhưng rồi tôi vẫn ngồi bất động trên xe và bây giờ là đoàn xe trước mặt, Quy Nhơn mười cây số sau lưng.

Tôi biết phẩm chất lính của tôi. Họ đều có người thân ở Nha Trang, Sài Gòn. Và cả tôi nữa. Trăm tay súng của hai đơn vị gộp lại, chúng tôi cũng chỉ là một con chốt nhỏ. Bõ bèn gì. Phúc vừa lái xe vừa liên lạc, gã nói vào ống liên hợp:

“Hồng Hà gọi.”

“Phú Quốc nghe năm.”

“Kinh Kỳ nghe năm.”

“… nghe năm.”

“Hồng Hà đã nhìn thấy nhà mới.” Tôi giằng lấy cái ống liên hợp nói không ngụy thoại gì cả:

“Kiệm, Cảm cho khởi hành đi, giữ tốc độ đều, khoảng cách đều. Xe đi đầu đừng có chạy nhanh quá.”


Ngày N + 14, 3 giờ 30 chiều

Qua con dốc này là tôi đã có thể nhìn thấy những cánh đồng đầu tiên của tỉnh Tuy Hoà. Từ cuối đoàn xe tôi thấy chiếc đầu tiên đã lên tới đỉnh. Tự nhiên tốc độ phía trước chậm lại. Tôi nghe báo cáo từ cái loa truyền tin:

“Kinh Kỳ gọi Hồng Hà.”

“Tôi nghe.”

“Trình anh Ba, một GMC bị hư không chạy được.”

“Đẩy nó sát vệ đường, san người sang những xe khác. Tôi lên đó ngay bây giờ.”


Chiếc xe đã bò lên được đỉnh đèo, tôi bảo Phúc mời mấy sĩ quan lại hội ý với họ một chút. Vài phút sau mọi người hiện diện đủ. Tôi nói:

– Tôi muốn có ý kiến chung về một việc. Bây giờ là ba giờ rưỡi. Mình nghỉ đây nửa tiếng rồi lên đường. Mình có thể tới Tuy Hoà vào lúc hơn năm giờ, nếu mình đi luôn tối nay thì mới có hi vọng tới Nha Trang. Trong trường hợp phải đi đêm, tôi muốn biết ý các ông đi thẳng hay ghé Tuy Hoà nghỉ mai đi.

Một phút nặng nề trôi qua. Trung úy Kiệm lên tiếng trước:

– Nghỉ đêm ở đây đi anh Ba. Mình dọt khỏi Quy Nhơn rồi. Thế là an toàn tương đối rồi. Đi đêm tôi sợ đường không bảo đảm.

– Ý kiến các ông kia sao?

– Anh Ba quyết định sao cũng được. Tụi em không có ý kiến.

– Tôi thấy đã đi thì đi luôn. Mình sẽ vượt đèo Đại Lãnh vào lúc sáu giờ rưỡi. Trời hãy còn sáng. Nhỡ đêm nay họ chỉ cần có một đại đội mò được đến đây, rồi đóng chốt bít khúc đèo Đại Lãnh lại thì mình công cốc.

Thế là mấy người nhao nhao lên:

– Đi luôn đi anh Ba.


Đúng lúc dó tôi thấy còi xe inh ỏi. Một đoàn xe lẫn lộn năm chiếc vừa Jeep cảnh sát, vừa xe du lịch dân sự lại có thêm một chiếc Jeep nhà binh bắt đầu leo dốc. Đó là đoàn xe của Đại tá Tiểu khu trưởng tiểu khu Bình Định, cùng Trung tá Trưởng ty Cảnh sát. Tôi quay mặt đi, giấu một nụ cười, không có lẽ giấu một hạt lệ thì đúng hơn. Tôi cười vì tôi đã tính đúng giờ khắc phải bỏ. Tôi khóc cho những người ở lại vẫn tin rằng giờ này cấp chỉ huy của họ còn đang hiện diện đâu đó trong nhiệm vụ. Tôi không sợ phải chạm mặt Đại tá ở đây, nhưng không muốn nhìn thấy ông khi đi ngang chỗ tôi, nên cố tình ngồi quay lưng lại. Dầu sao thì tôi cũng chẳng hơn gì ông ta. Nói cho cùng tôi cũng chỉ là một sĩ quan đào nhiệm, dù cho tôi có mang hết được binh sĩ của tôi, tôi vẫn là một cấp chỉ huy hèn nhát không hơn kém. Tôi nghe giọng một người sĩ quan trẻ nói bâng quơ:

– Anh Ba Râu nhà mình giỏi thật.


Ngày N + 14, 6 giờ chiều

Tuy Hoà ngay trước mặt, có một giây tôi muốn rẽ vào, nhưng xe tôi chạy gần đoạn hậu, tự nhiên tôi thấy nóng ruột kỳ lạ, máy mắt, tim đập loạn xạ. Trong suốt một tháng nay, nhiều lần cái chết xảy ra ngay trước mắt, nhưng chưa bao giờ gặp hiện tượng này. Tôi nói với Phúc:

– Tự nhiên anh linh tính như có chuyện bất trắc sắp xảy ra. Anh muốn trở lại Tuy Hoà đêm nay.

– Chắc tại anh suy nghĩ nhiều quá đó, bây giờ mình trở đầu đoàn xe không kịp đâu anh.


Lúc đó tôi mới để ý tới trên đường thiên lý, không phải chỉ có một đoàn xe của tôi. Một đoàn xe khá đông, nhưng tôi đoán chắc là gồm rất nhiều đơn vị, họ qua mặt đoàn xe tôi dễ dàng vì tốc độ của chúng tôi tương đối chậm. Tôi muốn đoàn xe của mình không bị chen kẽ bởi những xe lạ. Tất cả cứ trôi về phương Nam trong lúc nắng chiều lịm dần. Ban đầu tôi còn nhìn thấy những xe chạy đầu, dần dần chỉ thấy vài xe trước mặt. Xe đã phải lên đèn, những chiếc xe đầu đoàn đã bắt đầu leo dốc đèo Đại Lãnh. Đúng vào lúc đó tôi thấy một bó lửa túa ra từ bụi cây ven đường, một chiếc xe chạy bên hông đoàn xe tôi bị trúng đạn, nó chạy nghiêng hai bánh vài chục thước nữa trước khi lật xuống bên vệ đường. Đoàn xe của tôi bị cắt khúc, trên đầu bốn chiếc Jeep của toán tuần tiễu một, cùng với chiếc GMC chở tù binh và một chiếc Jeep đại liên đi kế lồng lên chạy về trước. Phúc thắng xe thật gấp, liếc mắt lại đằng sau, thấy đường trống, bẻ quặt tay lái, chân đạp thắng, chiếc xe như oằn lại, chồm lên vệ cỏ bên đường rồi trở mũi ngược lại hướng Tuy Hoà không đầy chớp mắt. Tôi hét to:

“Stop lại.” Tôi nhảy xuống núp vào một mô đất ngay bên đường. Cả đoàn xe còn lại của tôi đã dừng lại kịp thời, những binh sĩ trên xe nhảy xuống. Một số người chạy ngược lại phía tôi. Tôi thấy đã đến lúc phải đứng dậy. Tôi xách khẩu “Đại Cồ Việt” chạy lên phía trước. Súng nổ ran ở phía đầu đoàn xe. Hai chiếc xe đại liên phía trước khai hỏa không ngừng dọc theo hai vệ đường. Vài binh sĩ xách súng chạy lúp xúp theo tôi. Địch chỉ bắn có một trái B40 rồi thôi. Tôi nói với Kiệm và ông Đại đội trưởng của tôi:

– Đi tiếp hay quay lại?

– Quay lại đi anh Ba.

– Tôi nghĩ là mình nên đi bừa đi, hiện giờ nó mới có chỉ ít người bắn một trái B40 rồi thôi. Đợi đêm nay nó về đây đông hơn là mình bỏ mẹ.

– Tôi chỉ sợ mình lên được nửa đèo nó lăn đá xuống mình cũng đủ lật xe mà chết.

– OK. Mình quay lại. Bây giờ xe tôi đậu đầu, đường hiện trống, các ông ra lệnh cho trở đầu đoàn xe mình về lại Tuy Hoà.



                                                                     Hoàng Khởi Phong
                                                                                                                                                                            (còn tiếp)
                                                                                                                                                                                 (từ: VV)

                                                                          * 


Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D



Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 


 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, June 7, 20209:28 AM(View: 156)
Trong những phụ nữ thuộc thế hệ chị và mẹ của mình, tôi thương nhất chị Thanh và dì Bẩy. Khi còn đôi tám, người ta thường gọi dì là con Bẩy. “Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nước.” (Sơn Nam. “Con Bẩy Đưa Đò”. Hương Rừng Cà Mau. 51-52*). Tài sắc, cũng như đức hạnh, không mấy khi mang lại hạnh phúc và may mắn cho những kẻ sinh ra trong thời ly loạn. Cuộc đời cô Bẩy (rất) không may và (hoàn toàn) không hạnh phúc. Lúc còn thanh xuân, cô gặp (và yêu) một chàng trai trên dòng Cái Lớn. Chàng từ Bình Thủy xuống, đẹp trai, lịch thiệp, và hò hát cũng rất hay. Chỉ có điều đáng tiếc là người ta không phải loại “thường dân” nên không chịu cùng cô Bẩy kết duyên đôi lứa và sống an phận thủ thường (như những đám lục bình trôi) nơi ao hồ sông rạch. Nghe qua con Bẩy bùi ngùi tấc dạ; từ chỗ kính mến đến chỗ yêu thương
Thursday, June 4, 202010:57 AM(View: 206)
Khóa 16 ra trường có dành 15 chỗ lưu dụng tại trường để giữ các chức vụ huấn luyện quân sự và chỉ huy trong Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan các khóa đàn em. Thủ khoa Bùi Quyền không chọn chỗ…bình an này. Anh là một trong ba tân sĩ quan chọn về binh chủng Nhảy Dù. Trong cuốn Lưu Niệm của Khóa 16, khóa tiên phong trong ngôi trường đổi mới từ tên trường tới thời gian và phương pháp huấn luyện, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, nguyên Chỉ Huy Trưởng trường đã viết: Trong những giờ giáo dục tinh thần, chúng ta đã nói nhiều về Con Người Tiền Phong. Các Bạn nên hãnh diện, vì dưới mái trường này, các Bạn đã thể hiện một phần con người lý tưởng ấy, đã đặt những viên đá đầu tiên cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của những người Quân Nhân Trí Giả, đã tìm được cho mình một lý do chiến đấu và hoạt động cao cả hơn mối hy vọng tự nhiên được khích lệ và khen thưởng”. Tôi sống và làm việc tại Sài Gòn, Quyền bôn ba trên khắp chiến trận, lạc nhau nhưng tôi vẫn không quên được người đồng môn cũ. Ngày đó,
Monday, June 1, 20209:07 AM(View: 203)
Thỉnh thoảng chúng ta lại chứng kiến một “trận” boléro mà, “trận” nào cũng vậy, cuộc tranh luận văn hóa lẽ ra phải tới nơi tới chốn này chỉ rộ lên rồi xẹp xuống nửa vời với sự áp đảo của số đông, cái số đông kết nối không chỉ bằng thị hiếu âm nhạc mà cả bằng đầu óc địa phương chủ nghĩa.[1] Như gần đây nhất sau phát biểu của một ca sĩ đất Bắc và những lời chì chiết “sến-sang” tiếp nối từ số đông lấn lướt thế thắng, cái cung cách hờn mát lẽ ra chỉ thấy ở bên thua cuộc.[2] Phe thắng, như thế, chẳng mấy tự tin. Bên bại trận thì, hẳn nhiên, tra gươm vào vỏ trong tâm thế bất phục. Và cuộc tranh luận, do đó, lại đâm vào ngõ cụt. Một ngõ cụt không lối thoát y như cái phần số lẩn quẩn theo điệu buồn boléro số kiếp của chúng ta, như một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia. Phải chăng, chúng ta còn bạc nhược, còn tiếp tục chấp nhận tình trạng bị tước đoạt tiếng nói là vì, phần nào đó, chúng ta càng ngày càng mê hoặc thứ âm nhạc nhừa nhựa dĩ vãng vàng son và tình đời cay đắng dở dang
Friday, May 29, 20207:06 AM(View: 264)
Gia đình tôi ở tỉnh Phú Yên. Những ngày tháng 4 năm 1975 tôi mười một tuổi, học lớp năm trường Tiểu học Bình Nhạn. Trường nay nằm trong khuôn viên Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa. Ba tôi là lính văn phòng, chuyên đánh máy chữ, của Phòng Ba Tiểu khu Phú Yên. Ông giải ngũ năm 1969 vì bị thương ở chân, khi tàu lửa qua Đèo Cả dính mìn. Ông nói vậy cũng may, vì mỗi đợt hành quân về phía tây Phú Yên, công lệnh do ông đánh máy, Việt Cộng đều biết, không khéo trước sau gì ông phải ra tòa án binh mất. Trốn nậu trển. “Nậu trển” là cách nói thầm của người dân Phú Yên (Xứ Nẫu) chỉ người trên núi xuống, tức Việt Cộng. Nghe bộ đội Bắc Việt chiếm cao nguyên Trung phần, ba tôi đưa cả gia đình vô Cam Ranh, khoảng cuối tháng 3/1975, gọi là chạy giặc hay đi trốn nậu trển. Và để nếu chia lại đất nước ở vĩ tuyến 13 (nghe phong thanh thế) thì mình thuộc về phía Quốc Gia. Xe ba-lua chở gia đình tôi và hai gia đình người bà con đi
Tuesday, May 26, 20208:39 AM(View: 227)
- Ông gì ơi, ông người Việt hử? Câu hỏi khàn khàn bất ngờ phát ra từ mấy thân hình chăn trùm kín đầu nằm trên ke làm tôi giật bắn mình. Ngoảnh lại, tôi thấy một mái tóc bù xù ngóc lên khỏi tấm vải dày kẻ ô vuông đã có vài lỗ thủng và một hàm răng trắng nhe ra trong nụ cười làm quen trên gương mặt xám, xương xẩu. Tôi gật. - Chả là tôi nghe tiếng hai ông từ biệt nhau. Ông bạn già nằng nặc đưa chân tôi tới tận trạm metro gần nhà. Bịn rịn mãi lúc chia tay, tôi lỡ mấy chuyến tàu. Hai thằng tôi hoạ hoằn mới gặp nhau. Xa thì không bao nhiêu, đường đi cũng thuận tiện, khốn cả hai đều ngại, tuổi già nó thế. Ông bạn ở ngoại ô, về mặt hành chính là tỉnh lỵ La Courneuve, một bidon ville của Paris, người Pháp gọi thế, mặc dầu nó chẳng có gì dính dáng tới một cái bi đông nào hết. Vùng này về đêm lâu nay không an toàn. Rải rác vẫn có những vụ cướp bóc ngẫu hứng của những con nghiện ma tuý và dân nhập cư từ những nước hậu cộng sản. Càng về khuya, tàu càng thưa. Trong lúc chờ tàu,