DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,340,708

Trần Yên Hòa - Tháng ngày "lính lác" (dẫn 1)

Wednesday, July 22, 20206:35 AM(View: 438)
Trần Yên Hòa - Tháng ngày "lính lác" (dẫn 1)
Tháng ngày
"lính lác"
 

TYH trang den


Hồi Ức


Dẫn 1.


Không biết chữ "lính lác" có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng tư bảy lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ "lính lác" - lính là người gia nhập trong quân đội, lính bắc việt gọi là bộ đội. "Lác" theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền nam, miền trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh "lác". Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị "lác".

Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc...). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia quân đội gần bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975). Những điều tôi viết ra đây chỉ là những điều thực, rất thực, tôi đã gặp, đã trải, trong suốt trong "đoạn đường chiến bình" gần bảy năm. Và tôi xin nói thêm, chỉ có những người lính (hay sĩ quan) ở đơn vị tác chiến, cấp tiểu đội bộ bình trở lên... mới thấm được. Những người lính ở tuyến đầu, muốn gì, sống và chiến đấu ra sao! Các cấp chỉ huy, trực tiếp hoặc gián tiếp, đã "chiếm đoạt" những quyền lợi ít ỏi, nhỏ bé của người lính, mà đáng lẽ họ được nhận.

Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng, vào Bộ Tư Lệnh QĐI và QK1 để trình diện nhập ngũ. Lòng tôi rất vui vì tôi đã thi đậu vào trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, một quân trường mới mở đâu được khoảng 2 năm. Đã có Khóa 1 đang theo học, sắp ra trường...Tôi thi đậu vào Khóa 2, mà trong các lời quảng cáo trên báo chí, trên các poster dán khắp nơi, là trường sẽ đào tạo những sĩ quan văn võ song toàn, sẽ là những kỹ sư tâm hồn sau này... Tôi thích chí, làm đơn thi vào và đã trúng tuyển. Theo suy nghĩ, tôi sẽ vào đây học trong hai năm...Hai năm là một thời gian tạm cho là dài, để có thể thay đổi tình hình chính trị, quân sự, trong ván bài Việt Nam. Biết đâu hai năm sẽ hết chiến tranh, hai năm ra trường tôi sẽ về một đơn vị không tác chiến, như làm ở các văn phòng, các đơn vị CTCT. Đầu óc tôi đã trải qua những đêm dài không ngủ vì chuyện "đi lính" này. Bây giờ thì tạm ổn trong 2 năm.

Trước đó, tôi đã loay hoay tính toán cho cuộc đời mình. Nghĩa là sau khi đậu tú tài 2, được cha mẹ cho vào Sài Gòn học Đại Học, tôi luôn luôn suy nghĩ đến tương lai mình.

Ai không muốn tương lai mình, với tuổi trẻ mình, đạt được hoài bảo, như thi đậu vào một trường Đại Học Sư Phạm, ra trường sẽ đi dạy ở một trường trung học nào đó. Chuyện đứng trên bục để giảng cho học sinh nghe về những điều mình học được, về văn chương, chữ nghĩa, về văn học sử, các tác giả văn học mà mình yêu thích, thì  thú vị biết bao. Tôi cũng từng mơ thi vào một trường Y khoa, Nha khoa, để ra trường, trở thành một bác sĩ, nha sĩ. Nếu có đi lính thì cũng được làm ở hậu phương, ở các bịnh viện quân đội.

Hay thi vào trường Quốc gia Hành Chánh để học khóa Đốc sự, ra phục vụ trong chính quyền, tệ nhất là phó quận hay trưởng ty...Tất cả những mơ ước đó đã vượt khỏi tầm tay tôi. Lý do chính là thi vào các trường đó, ngành nghề đó, thí sinh thi vào rất đông và tiêu chuẩn lấy vào rất ít.

Hình như Y khoa chỉ thâu vào khoảng 20, 30 ngươi cho một năm. Đại Học Sư Phạm cũng vậy. Quốc Gia Hành Chánh ban Đốc sự 4 năm, cũng chỉ lấy vào 25 hay 30 thí sinh/năm. Niên khóa 1966, tôi thi vào Nha khoa, với hy vọng mơ hồ...Vì trình độ ngoại ngữ yếu nên tôi rớt là chuyện bình thường. Quốc gia hành chánh và Đại Học Sư phạm, tôi không thi, nhưng tôi nghĩ, có thi vào cũng khó mà đậu, vì sĩ số thí sinh lấy vào quá ít, với lại tình trạng con ông cháu cha, thí sinh có thân có thế, con nhà giàu có lắm tiền nhiều bạc, có thể "chạy" cho con cái họ vào các trường ấy, cũng chiếm một số, nên bản thân tôi, một học sinh nhà quê, mới bước chân vào đại học, học lực chỉ vào hạng khá thôi, thì chắc chắn là không chen chân vào những trường "danh giá" đó được.

Học đại học ở Sài Gòn, tôi vừa đi học vừa đi dạy kèm cho các gia đình có con em cần học thêm ở nhà. Trước tiên tôi ghi danh ở Đại học khoa học, khoa MPC (Toán Lý Hóa). Học đâu được khoảng 3 tháng, tôi thấy tôi không thể tiếp tục theo học được, vì quá khó, dù tôi đậu tú tài 2 ban B (Toán). Tự lượng sức mình, tôi bỏ. Tôi nhảy qua ghi danh bên trường Luật.

Học ở trường Luật, trên đường Duy Tân (sau này mới có bản nhạc Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy, "con đường Duy Tân cây dài bóng mát", coi như là một con đường tình sử của những cặp trai gái yêu nhau). Khi tôi học niên khóa 1966, trường luật bị khuấy động bởi những cuộc biểu tình, bãi trường, bãi khóa, và cuộc tranh dành trong cuộc bầu cử Ban Đại Diện Đại Học Luật Khoa. Tôi là một sinh viên mới, từ quê vào, chỉ lo cho đời sống của mình, với chiếc xe đạp cọc cạch, đạp xe từ Hòa Hưng đến giảng đường trường Luật, trong những buổi chiều các giáo sư dạy  từ 4 - 6 giờ.

Sau khi bãi lớp, tôi phải đạp xe từ trường Luật về ngã ba ông Tạ, chạy xe vào đường Thánh Mẫu, dạy kèm cho 2 cô con gái một vị giáo sư...(mà tôi không biết tên.) Hai cô gái khoảng 11, 12, 13 tuổi. Cô chị lớn hơn cô em chút. Cô chị thì tính tình hiền lành, dễ thương. Còn cô em thì giọng nói gắt gõng, chát chúa, mất đi tính ngây thơ của một cô bé học trò trung học đệ nhất cấp (khoảng đệ thất hay đệ lục).

Thêm một thời gian nữa, hình như khoảng đâu 6 hay 9 tháng, tôi nhận ra sống và đi học ở Sài gòn thấy linh đinh quá, nhiều lúc phải đi dạy kèm đến 8, 9 giờ tối mới về, cho nên có người bạn mách nước là Bộ Giáo Dục đang tuyển giáo sư dạy giờ ở các tỉnh miền trung, tôi bèn nộp đơn xin đi dạy.

Khoảng 3 tháng sau, tôi nhận được Sự Vụ Lệnh của Bộ Quốc Gia Giáo dục bổ về dạy tại trường Mộ Đức, Quảng Ngãi. Tôi bèn mua vé máy bay về Quảng Ngãi, và đây là bước đầu tôi làm một thầy giáo quận lỵ. Mộ Đức là một quận nằm phía trong thị xã Quảng Ngãi khoảng 20 cây số...Một quận "nửa nạc nửa mỡ", có nhiều xã ban ngày quốc gia ban đêm cộng sản.

Tôi được thầy hiệu trưởng trường này là anh Lê Hữu Quả, tốt nghiệp viện Hán học Huế, cho dạy khoảng 40 giờ một tuần, vì một trường quận, đang ở trong tình trạng chiến tranh, thiếu giáo sư nghiêm trọng, nên tôi bao thầu. Nhưng giáo sư dạy giờ, phải dạy khoảng 2, 3 tháng mới kê khai giờ dạy, rồi cũng khoảng một tháng nữa mới được lãnh lương, nghĩa là từ ngày bắt đầu dạy, đến lúc lãnh được lương cũng, 3, 4 tháng. Nhưng rồi cái gì cũng qua đi. Dạy ở đây thật là vui, trường mới mở đến lớp đệ ngũ, nhưng các em đà lớn sộ, vì học trò nhà quê đi học trễ. 

Dạy học ở trung học Mộ Đức, tôi buổi sáng vào trường dạy, và tối thì chạy xe về thị xã Quảng Ngãi ngủ. Tôi xin giáo sư Lê Hữu Quả, ở chung với anh, và chia sẻ với anh tiền thuê phòng. Cứ như vậy khoảng một năm trôi qua. Tôi biết được chiến tranh trong những buổi sáng đi vào trường dạy, phải đợi cho toán rà mìn của Mỹ rà mìn xong mới cho xe các loại lưu thông, những lúc ấy tôi thấy chiến tranh gần kề mình quá, như khi đi trên đường, thấy những chiếc xe nhà binh, hay xe đò, bị mìn nổ hất tung lên, xe bị cháy đen, còn người thì không biết thế nào. Vì chứng kiến những chuyện như vậy nên tôi lo sợ về chuyện đi đi về về mỗi ngày, cho nên tôi cùng với một anh bạn giáo viên tiểu học tên là Lê Văn Thí, thuê một căn nhà tranh nhỏ của một phụ huynh, nhờ vị phụ huynh này nấu cơm luôn cho chúng tôi ăn. Đây là những ngày bình an nhất của tôi khi đi dạy ở trường trung học Mộ Đức.

Đến Tết năm đó, tôi chuẩn bị tổ chức một bữa tiệc cho các em học sinh lớp đệ ngũ do tôi làm cố vấn. Tôi cho tiền mua kẹo, bánh ngọt, nước ngọt cho các em "liên hoan". Nhưng ở một nơi toàn lính tráng, giữa buổi liên hoan, có một anh lính nghĩa quân say rượu, vào sân trường la lối, hăm dọa các giáo sư, và bắn súng chỉ thiên ngoài sân trường, nên tôi đành cho giải tán buổi liên hoan. Và vào dịp Tết ấy, tôi lại được thêm một Sự Vụ Lệnh nữa của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, cho tôi về trường trung học Lý Tín Quảng Tín dạy. Nên tôi suy nghĩ, và cũng có ý tham công tiếc việc, tôi liền chia dạy hai nơi, một trường Mộ Đức, (khoảng 35 giờ/tuần), dạy buổi sáng từ 7 giờ đến khoảng 12 giờ trưa, là tôi chạy xe ra Lý Tín dạy buổi chiều, từ khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều (khoảng 20 giờ/tuần). Như vậy tôi dạy hai nơi khoảng 55 giờ/tuần. Tổng cộng tôi dạy khoảng từ 55 đến 60 giờ một tuần. (Vì nhiều lúc hiệu trưởng nhờ dạy thêm). "Cày" như vậy khoảng 2 tháng, thì tôi đuối sức, chạy xe từ Mộ Đức ra Lý Tín khoảng 50 cây số, quá vất vã, nhất là lúc đó, hãng RMK đang thầu làm đường quốc lộ 1, nên đường sá bị đào lên, toàn đá, nên tôi nghỉ dạy ở Mộ Đức luôn.



                                                                                    Trần Yên Hòa
                                                                                           (còn tiếp)
 
                                        Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 

 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, June 30, 20208:37 AM(View: 245)
Năm 1993, Nhà xuất bản Tân Thư in tập truyện Thằng Bắt Quỷ, gồm các truyện của tôi đã đăng trên tạp chí Hợp Lưu cùng vài truyện viết trước 1975. Ngay sau đó xuất hiện bài viết của Dịch giả Phan Huy Đường, ký tên Trần Đạo, tựa đề Thằng Bắt Quỷ, Ba mươi năm nung nấu một ngọn lửa [bài đăng trên tạp chí Hợp Lưu, số đặc biệt về nhà văn Mai Thảo]. Gần một năm sau tôi mới nhận được một thư tay, từ Paris của ông. Sau thủ tục thăm hỏi, ông đề nghị, và đã dịch tác phẩm của tôi sang Pháp ngữ. Trải mấy mươi năm, rất mong được gặp mặt nhau, dzô một ly rượu, ông đã qua đời năm 2019 tại Paris. Tháng Ba năm 2008, tôi nhận được một thư của một Kẻ Xa Lạ, nhà văn Đặng Thơ Thơ. Cô thông báo với tôi là Ban Biên tập tuần báo mạng Văn chương Không biên giới Da Màu sẽ thực hiện một số Đặc biệt Văn chương Cung Tích Biền. Số đặc biệt này khá phong phú, từ 23 đến 28 tháng 8-2008. Cô là chủ biên, viết bài nhận định, có thêm một bài phỏng vấn 4 [bốn] triền miên phiêu bồng dài dặc. Hai năm sau, nhân dịp cô từ Mỹ
Saturday, June 27, 20206:01 PM(View: 278)
Bất cứ vì lý do gì, một nhà văn khi còn sức viết mạnh mẽ, mà không thể viết được nữa là một bất hạnh. Khi “Không còn được viết nữa”, vì những lý do áp bức, cường quyền, vì chữ-nghĩa-bị-gông-cùm, ta phải cố mà thoát khỏi cái bất hạnh ấy. Trong hoàn cảnh một Việt Nam Hôm nay, một nhà văn khi còn sức viết mà không được viết, chỉ là bất hạnh thứ nhất. Nếu anh buông xuôi, chữ nghĩa anh sẽ chết, anh đành phải sống, trong thảm cảnh chết dần. Nếu anh viết tiếp với lòng trung thành, nhân văn, với cái gan nói ra sự thật, bất hạnh sẽ được nhân đôi. Đó là sự trừng trị từ phía nhà đương quyền. Anh bảo rằng ngòi bút tôi sung mãn, sâu sắc, về sau? Chính một giai đoạn lịch sử cuồng nghịch, xã hội con người dần biến ra một nhung nhúc tử thi, xú uế tối tăm, chính đó, đã tạo ra cho mỗi con người một sức bật mạnh mẽ để thoát ly. Mỗi thoát ly một tính cách biểu hiện. Có người dương khẩu hiệu, cầm đao kiếm. Tôi là nhà văn, tôi trút vào chữ nghĩa. Chữ nghĩa, cũng là một loại thuốc nhuộm màu
Wednesday, June 24, 202010:29 AM(View: 422)
Tôi là giọt máu lai Việt- Pháp. Đứa trẻ lai nào sinh ra cũng kháu khỉnh dễ thương. Nghe cha nuôi kể, lúc tôi chào đời ở bệnh viện Xanh Pôn, các bà xơ làm hộ lý tranh nhau bế bồng, khen tôi xinh đẹp, quý tướng. Cha tôi là con một chủ đồn điền trồng nho giàu có ở miền Nam nước Pháp. Mẹ tôi là con gái họ Ngô ở làng La Khê, một trong tứ quý địa ở ven kinh thành Thăng Long xưa. Ông ngoại tôi đi lính sang Pháp đánh trận từ hồi thế chiến lần thứ nhất (1914- 1918). Sau khi giải ngũ, cụ được Chính phủ Pháp trợ cấp một khoản tiền về quê tậu ruộng, xây nhà mái ngói hiên tây, vườn sau ao trước, sống đời thanh sạch được dân làng nể trọng. Nhờ thế, mẹ tôi được ra Hà Nội học trường Tây rồi làm việc ở tòa Công sứ. Cha mẹ gặp và yêu nhau say đắm nên tôi là kết quả cuộc tình lãng mạn khác màu da ấy. Cuối năm 1953, khi tôi vừa đầy tháng thì cha nhận lệnh phải về Pháp, hẹn sẽ quay lại đón hai mẹ con sang đó. Thế rồi chiến tranh kết thúc. Hà Nội được giải phóng, mẹ tôi có nhà ở phố Sinh Từ bị tịch thu
Monday, June 22, 20207:50 AM(View: 348)
Hồi ký là một thể loại dễ viết nhất, mà cũng là khó viết nhất. Cả hai đều đúng bon cả. Dễ viết, là một người Việt Nam, sống qua một lịch sử khá kỳ lạ non thế kỷ nay, nếu muốn viết về cuộc đời từng trải của mình, thì bất cứ ai cũng có thể viết nên một quyển hồi ký. Một cô gái lớn lên vào thời chiến chinh, bỏ đồng quê làng mạc, chạy nạn vào thành phố, giàu có nói chi, tới bao nhiêu gian truân, có khi làm đĩ nuôi con; có khi lấy một lính Mỹ, theo chồng Mỹ qua Mỹ thời hậu chiến, bao nhiêu vật đổi sao dời. Một cô gái đẹp, phải nhà nghèo, đành lấy chồng người Hàn Quốc, cả người cà thọt, anh cà nhỏng; thu món tiền lo cho cha mẹ, già bệnh nợ nần; sống trên đất người, cho tới ngày luống tuổi, đêm hắt hiu, chiều tàn hương bên xứ người, thương cha nhớ mẹ, mái nhà bụi chuối, đám bèo trôi miền sông Tiền sông Hậu. Một người lính Cộng hòa, đẫm máu trận mạc, là một thương binh, nạn nhân của một kẻ thù cùng chung họ hàng huyết thống, nay chống nạng đi giữa Sàigòn bán vé số, con cái bị
Saturday, June 20, 202010:39 AM(View: 370)
Nói cho rốt ruột, một ngày đời của tôi, hô hoán cho vênh vang, Đời một nhà văn, ngày nào cũng chỉ là một ngày cằm cụi làm ra “Cái-vô-dụng”. Nhân loại hôm nay có bao nhiêu nhu cầu thiết cấp đều đã được đáp ứng đầy đủ. Cần gì thì cần, chẳng ai cần văn chương. Đã qua thời văn chương là vũ khí, là vận động cách mạng, chấn hưng dân trí, tấm gương soi đạo lý làm người. Với “giặc corona”, người ta trữ gạo, thuốc men khẩu trang mỳ gói, chẳng ai mua về nhà vài quyển tiểu thuyết, tập truyện ngắn. Vậy mà “Vô dụng đã hơn sáu mươi năm?” Hẳn, tôi là một người vô-dụng-chuyên-nghiệp. Một đời thành bại nhục vinh, đói no lây lất cũng chỉ với ngòi bút và chữ nghĩa của mình. Xem Cái-Viết như một định mệnh, một hành nghiệp trọn đời. Nơi “nhất thốn tâm tư”, chỗ tấc lòng, nghiệp oan nghiệp chướng! chỉ tự nơi người thừa nghiệp riêng biết, riêng chịu. Tôi không ảo tưởng, chỗ tháp ngà, cho rằng việc cầm bút là một thiêng liêng cao cả, nhà văn là một kẻ cao quý hơn người. Chỉ là trời