DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,508,443

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (dẫn 2)

Saturday, July 25, 20207:28 AM(View: 1928)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (dẫn 2)
Tháng Ngày "lính lác"

Sach TYH


Dẫn 2.

 

Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi về Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng ngăn hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ.


Tết Mậu Thân, tôi về ở đây ăn Tết cùng cha mẹ. Và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi rất sợ bị lạc đạn, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà.

Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn lộn xộn. Tôi ghé thăm nhà trọ cũ của thầy hiệu trưởng Lê Hữu Quả, thì nghe tin, thầy Quả chết. Tôi thật sự bàng hoàng. Thì ra, trong dịp Tết này, thầy Quả về Huế ăn Tết, đã bị bắt và vì là công chức (dù là giáo chức) thầy Quả cũng đã bị giết với một số đông đồng nghiệp công chức. Tôi nghe mà thương cảm cho thầy. Thiệt tình thầy Quả tốt với tôi, đã giúp đỡ tôi tận tình những ngày đầu tiên tôi về dạy học ở Mộ Đức. Thầy lại mới cưới vợ đâu được ba, bốn tháng gì đó.

Nghe tin thầy Quả mất, tôi buồn vô cùng. Thấy mình không có duyên với xứ Quảng Ngãi, nên tôi quyết định nghỉ dạy luôn ở Mộ Đức, chỉ dạy ở trường Lý Tín thôi.

Lý Tín là quận lỵ mới mở sau này. Tỉnh Quảng Nam được cắt từ quận Thăng Bình trở vào trong, là tỉnh Quảng Tín. Các cấp chính quyền thấy quận Tam Kỳ quá rộng, nên cũng cắt đôi ra, từ xã Kỳ Hưng trở vô trong là quận Lý Tín.

Quận Lý Tín có quận đường và Bộ Chỉ Huy Chi Khu đóng ở xã Kỳ Khương. Phía trong quận đường là trường trung học công lập Lý Tín. Khi tôi về dạy, trường cũng mới mở đến lớp đệ ngũ.

Ngôi trường mới thành lập được hai, ba năm gì đó. Ngôi trường ngói đỏ nằm sát bên những hàng dương liễu, và bãi cát trắng phía sau trông rất thơ mộng. Hiệu trưởng là thầy Tôn Thất Khởi. Thầy tốt nghiệp Sư Phạm Quy Nhơn (hay Huế?). Sau, vì thầy Khởi có bằng tú tài 2, nên được đưa lên dạy trung học. Và thầy được đề cử giữ chức vụ hiệu trường.

Tôi về dạy ở trường trung học Lý Tin cũng rất vui. Có thầy Tú, dạy Anh Văn. Với thầy Tú, cũng quen biết nhau khi học ở Tam Kỳ. Thầy Trương Văn Hào, cùng học lớp với tôi, khi học ở Trần Cao Vân. Có thêm thầy Nguyễn Viên, quê ở Chiên Đàn, Kỳ Lý, học sinh Nguyễn Dục, Tam Kỳ. Thầy Nguyễn Viên không học chung với tôi, nhưng nhà thầy Viên ở trên đường tôi đi học, nên tôi biết thầy. Về đây, thầy Trương Văn Hào đã có vợ, thầy làm nhà ở riêng, còn lại, tôi, Đặng Hữu Tú, Nguyễn Viên, ở nhà trọ nhà của một phụ huynh học sinh, ăn cơm tháng.

Lý Tín là một quận mới, trước đây, tôi chưa một lần vào nơi nầy. Học trung học Trần Cao Vân 7 năm, tôi cũng chỉ đi loanh trong thành phố Tam Kỳ, ngày hai buổi đi học từ Quán Rường - Tam Kỳ rồi Tam Kỳ - Quán Rường. Chỉ có một lần tôi và Trịnh Tộ, bạn cùng quê, cùng lớp, hồi học tiểu học, rủ nhau đạp xe đạp ra Hà Lam, quận lỵ Thăng Bình chơi. Nhưng, đi như vậy chỉ đến Hà Lam, vào quán cơm ăn trưa, quanh quất, loanh quanh, khoảng 1 tiếng đồng hồ, rồi hai đứa đạp xe về. Chẳng biết gì hơn là những hàng quán bán cơm, bán mì Quảng, bán phở mà thôi.

Bây giờ về dạy trường Lý Tín, tôi biết thêm phía dưới biển là căn cứ Chu Lai (lúc đó mới có tên). Tôi không hiểu Chu Lai có nghĩa là gì. Dĩ nhiên là danh từ riêng. Mỹ đóng quân ở căn cứ Chu Lai rất đông. Thêm trên các ngọn núi phía Tây, lính Mỹ cũng có đóng đồn. Phía ngoài cầu ông Bộ, có một nơi gọi là quán bà Miết, trên đồi có một đồn lính Mỹ đóng, nên dẫn dắt theo một đám "chị em ta" ăn theo. Họ làm các dãy nhà tranh dọc theo quốc lộ một, là nơi ăn chơi của lính Mỹ.

Ở trường trung học Lý Tín, thầy Khởi làm hiệu trưởng, thầy Tú dạy Anh văn. Thầy Khởi có mời một số lính Mỹ đến dạy cho học sinh tiếng Mỹ. Những người lính Mỹ này rất dễ thương, họ đối xử ôn hòa với giáo sư và học sinh. Thường thường mỗi tháng, những người lính Mỹ này đem đến nhiều thùng Ration C, (thực phẩm), cho các giáo sư. Tôi cũng thực buồn lòng và (hơi) xấu hổ khi thấy các giáo sư tranh dành nhau lấy thực phẩm. 

Phía trong trường trung học, qua một cây cầu gọi là cầu An Tân, là thuộc xã Kỳ Liên. Đây cũng gọi là An Tân. An Tân là một khu phố ăn chơi của lính Mỹ. Dãy nhà từ ngoài vào, 2 bên, là những nơi gọi là "động", chứa "chị em ta". Chứa công khai, mời gọi công khai. Với thể diện của một người giáo sư, tôi ít giám vào đây, vì đi đâu cũng có thể gặp học sinh hoặc phụ huynh học sinh. Một quận lỵ nhỏ, làm giáo sư trung học, tôi nghĩ, chắc ai cũng biết mình, nên không giám léo hánh đến những nơi đó.

Lúc này, tin về việc, chính phủ ban hành luật Tổng Động Viên, sau Tết Mậu Thân, rất là gắt gao. Thanh niên đến tuổi, có tú tài 1 trở lên, là phải bị động viên đi lính hết. Nên tôi rất lo lắng cho số phận của mình. Vào dạy ở trường, có tin là các giáo sư trung học, có thể được động viên tại chỗ, chỉ đi thụ huấn quân sự 9 tuần, ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, rồi sẽ được trả về dạy học lại. Tin đó thì vui, nhưng tôi không vui tí nào vì tôi chỉ là giáo sư tư nhân dạy giờ, không có tốt nghiệp trường sư phạm nào, không biết có được về dạy lại hay không? Tôi hoang mang quá. Thật sự lúc này tình hình rất xao động, thanh niên cở tuổi tôi, đi đến đâu cũng đều nói đến luật Tổng Động Viên, đi lính.

Vì sự hoang mang và tính toán đó, nên tôi nghĩ, nếu động viên theo giáo chức, đi học quân sự 9 tuần ở Quang Trung, mà mình không được xét, về đi dạy lại, mà phải qua quân trường Thủ Đức, thì eo ơi! Ra tác chiến như chơi. Với thân cô, thế cô, như tôi, thì chuyện ra tác chiến, với cái lon chuẩn úy (quai chảo) trên vai, nắm giữ chức trung đội trưởng, thì chết chắc. Những người bạn cùng quê tôi, như anh Đoàn Bán, đi sĩ quan địa phương quân, ra trường chuẩn úy, mấy tháng sau thì chết. Một anh nữa là Trần Ngọc Nam, bị động viên đi Thủ Đức trước tôi mấy khóa, ra trường mấy tháng cũng tử trận. Tin buồn diễn ra liên tiếp, sao mà không lo lắng cho được.

Như tôi đã nói trên, vì sự lo lắng, lo sợ, chuyện đi lính, nên tôi tính toán phải "nhảy". Những người có thân có thế, có tiền có bạc thì có thể "chạy" bằng cách đem sự thân thiết, quen biết với các cấp chỉ huy, rồi bỏ tiền bạc ra "chạy" cho được về đơn vị không tác chiến. Còn tôi không có gì cả, nên tôi có hai cách "nhảy". Cách nhảy thứ nhất, là thi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, học 4 năm, lúc này cũng đang kêu gọi thi tuyển vào Khóa 25. Và cách nhảy thứ hai, là thi vào trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2, học 2 năm.

Vào trường Võ Bị học 4 năm, thời gian 4 năm, ngon ơ, ở trong quân trường 4 năm, tình hình chiến tranh ở VN, có thể thay đổi. Nhưng tôi biết chắc, là học ở Võ Bị ra trường, 100% là đi tác chiến, là đi đánh nhau, chữ "thọ" cũng không chắc lắm, dù có được lên lon cao, lên chức cao, nhưng cũng trầy vi tróc vãy. Sống sót như hột gạo trên sàng. Dù biết vậy, nhưng tôi cũng "bắt cá hai tay", tôi nộp đơn thi vào  cả 2 trường.

"Nhảy" vào trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị, chỉ học hai năm, nhưng sơ qua danh xưng trường cũng hấp dẫn tôi hơn. Tôi lúc này chỉ hiểu biết sơ sài là trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, nôm na là trường sẽ đào tạo những sĩ quan thuộc về ngành chiến tranh chính trị, đánh giặc bằng mồm (nói) hay bằng viết lách (sách vở, lý thuyết). Tôi cũng nghĩ thêm, theo ý tôi, là tốt nghiệp trường này như là, văn trong võ. Lính là Võ, nhưng Chiến Tranh Chính Trị là Văn. Tôi thích văn chương, thích văn học, nghệ thuật, đam mê sách vở, nên tự nhủ lòng, biết đâu nơi đây sẽ tạo cho mình có môi trường viết lách, thực hiệc hoài bảo, mơ ước, sau này. Cũng có thêm những ý kiến, ngành Chiến Tranh Chính Trị trong quân đội sẽ được tổ chức như quân đội Trung Hoa Dân Quốc, là người sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị sẽ như là Chính Trị Viên của đơn vị. Sẽ có thật nhiều quyền hành, chi phối tổ chức quân đội, những thi hành của đơn vị, sẽ do Chính Trị Viên quyết định theo hàng dọc.

Đề thi hai bên, trường Võ Bị và Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, tôi đều làm được cả, nghĩa là theo suy đoán của tôi là trên 70%. Dù sĩ số lấy vào mỗi bên khoảng 200, nhưng tôi rất hy vọng. Khi kết quả bên trường Võ Bị tôi chưa có, thì tôi được thông báo là đậu vào Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, nên tôi "hồ hởi, phấn khởi" đi trình diện nhập ngũ như đã kể trên.

"Hồ hởi, phấn khởi", nói thì nói cho vui thế thôi, chứ tôi không phải là người thanh niên hào hùng, như trong các bản nhạc của các nhạc sĩ mà sau này, tôi biết, chỉ là người ở hậu phương an lành, viết ra những bản nhạc xúi thanh niên đi lính, như "người ơi quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai, tôi đã ra đi rồi..." Rồi mong chiến thắng "Giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu"...hay rẻ tiền hơn là "đi quân dịch là thương nòi giống."

Tôi cũng xin cá cược là có những ai, khi bước chân vào đời, học giỏi, có thể thi đậu vào những trường "danh giá" như Y, Nha, Dược, hay các ngành Kỹ sư Phú Thọ, hay Quốc gia Hành Chánh, Đại Học Sư Phạm, mà bỏ những nơi đó, để vào trường Bộ Binh Thủ Đức, để làm người hùng "trong đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu" thì tôi phải phục là "thánh".

Trong lúc đó, tôi biết, có một số anh em, bạn bè, dù có bằng Tú tài 1 hay Tú Tài hai, cũng xin vào nghĩa quân thị xã, để được an thân (lính kiểng). Một số vào Xây dựng Nông Thôn để được ở gần nhà và ít tác chiến hơn. Những bạn cùng lớp với tôi, học giỏi, xuất sắc, đều đứng ngoài cuộc chiến, khi thi đậu vào trường Kỹ thuật Phú Thọ, xin hoản dịch vì lý do học vấn từng năm...thoát qua vòng quân đội.


                                                                                Trần Yên Hòa
                                                                                       (còn tiếp)

                                        Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, March 4, 20217:13 AM(View: 760)
Chuyện thực ngoài đời lắm khi vượt qua trí tưởng tượng của con người. Tôi có cái duyên gặp được một số nhân vật khá lý thú. Nhìn bề ngoài họ cũng chỉ bình thường nhưng họ lại kể cho tôi nghe những mẩu chuyện đời rất kỳ lạ, có những chuyện nghe bi thảm trên mức tưởng tượng của tôi. Nghe chuyện của họ, nhiều khi tôi bị lạc vào những thế giới khác, xa lạ với tôi. Tôi không nhớ rõ các chi tiết được nghe kể, nhưng những nét chính thì không quên được. Đôi khi tôi gom góp những mẩu chuyện đời kia, sắp xếp cho chúng có liên quan với nhau, để từ đó viết một truyện ngắn, một tiểu thuyết, hoặc một bài thơ… Truyện ngắn dưới đây dựa trên ba câu chuyện tôi được nghe kể ngoài đời. Vì những người kể cung cấp cho tôi những chi tiết khá tỉ mỉ nên tôi tin là những câu chuyện đó có thật. Tôi đem những điểm chính của ba câu chuyện này “ráp” lại thành bố cục của một câu chuyện… hư cấu mới. Để viết thành truyện ngắn. Xin được chia sẻ cùng các bạn. Số, Số là những con số, là căn bản của luận
Thursday, February 25, 20215:05 PM(View: 707)
Nói đến thơ Nguyễn Lương Vỵ trước tiên tôi hình dung khối lượng thơ khổng lồ của anh. Làm thơ từ thuở bé và xem thơ như thứ nghiệp dĩ cuộc đời thử hỏi đến tuổi gần bảy mươi, sự nghiệp thơ của Nguyễn Lương Vỵ không thể đề cập đến kiểu bài thơ này hoặc tập thơ kia mà phải nói tầm vóc một đời thơ, một gia sản thi ca ấy như thế nào? Và có nói như thế cũng chỉ là gượng ép bởi muốn nói như thế, ít ra bạn phải mất nhiều thời gian để đọc hết các tập thơ của anh. Tôi đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ từ thuở còn là một sinh viên văn khoa năm thứ nhất. Lúc bấy giờ thơ anh đăng trên tạp chí Khởi Hành hoặc Văn. Tôi thích thơ anh ngoài bản thân yêu thơ, tôi còn là người luôn cổ xúy tinh thần văn nghệ của thế hệ trẻ miền Trung (đầu thập niên 1970) mà lúc bấy giờ dường như trăm hoa đua nở. Đến khi tham dự quân sự học đường khóa đầu tiên, tôi gặp anh qua một người bạn học miền Trung. Cũng khá đặc biệt là tôi cùng người bạn đến thăm anh tại bệnh viện Sùng Chính. Nguyễn Lương Vỵ bị thương do xô xát với quân cả
Wednesday, February 24, 202110:52 AM(View: 619)
Từ đầu đến cuối, già 400 trang sách, tiểu thuyết “Đất mồ côi”[1] mô tả đầy rẫy những cái chết. Chết đơn chết chùm. Chết cá nhân chết nhóm. Chết trong các phong trào chính trị – xã hội, chết trong chiến tranh. Chết xưa chết nay. Chết Nam chết Bắc… Đây là một tiểu thuyết dành để nói về cái chết. Thật thế. Đến nỗi một nhà thơ, bạn tôi (mà không chỉ bạn tôi) quả quyết rằng cái tên tiểu thuyết “Đất mồ côi” lẽ ra phải là “Đất chết” thì mới thâu tóm chính xác được tinh thần của tác phẩm này. Cái chết chính là kết quả, đồng thời là hiện thân của BẠO LỰC. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về bạo lực, thứ bạo lực tác oai tác quái, hoành hành công khai, trắng trợn trong suốt lịch sử người Việt. Có thể hình dung mấy loại cái chết. Loại đầu tiên là cái chết do định kiến xã hội. Những lớp người mang bệnh hủi đi qua ngôi làng bị dân làng chôn sống. Mở đầu tiểu thuyết, tác giả dựng lên khung cảnh những người hủi bị giết chết, và cả người đàn ông kỳ dị chăm sóc đoàn người hủi mang dán
Sunday, February 21, 20218:37 AM(View: 724)
Chưa bao giờ câu ca dao ấy lại đúng hơn thế và cho ta lời khuyên đúng đắn, thiết thực nhất trong mùa đại dịch này. Cho dù tháng Giêng có “là tháng ăn chơi”, như một câu ca dao khác, thì cũng chỉ nên “ăn” và “chơi” ở trong nhà hoặc “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” hơn là du Xuân đến những chốn lao xao hội hè, đình đám. Một trong những “chốn vắng” ấy là dạo chơi trên cánh đồng thơ mùa xuân để hái về những bông hoa tươi thắm là những bài thơ, câu thơ tháng Giêng khoe sắc trong nắng xuân. Thơ hay, một đôi câu cũng hay. Những câu thơ trích dẫn trong bài này chỉ là tiện tay gặp đâu ghi xuống đó, không phân biệt, phân loại thơ cũ thơ mới, thơ già thơ trẻ, thơ ngoài Bắc thơ trong Nam, thơ ngoài nước thơ trong nước. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ. Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần (“Vội vàng”, Xuân Diệu) Câu thơ cũ nhưng vẫn cứ mới như mùa xuân chẳng bao giờ cũ, chẳng bao giờ già. “Tháng Giêng ngon”, không mới sao? Chẳng biết chơi Xuân, ăn Tết ngon, dở thế nào nhưng cứ
Sunday, February 14, 20218:56 AM(View: 749)
Thằng Nhớ giật mình tỉnh giấc khi nghe tiếng bà ngoại đang la cái gì đó ở ngoài sân. Ánh nắng xuyên qua khe hở của cửa sổ phết thành một vệt dài trên nền nhà. Nhớ đưa tay giụi mắt, vươn vai mấy cái. Nó bước xuống giường, vén mùng lên, xếp mền gối thật lẹ rồi bươn bả bước ra nhà sau xem có chuyện gì. Đứng gần bờ ao, bà ngoại đang nói thao thao, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ, coi bộ giận dữ lắm. Thấy Nhớ ra, bà lại càng cao giọng như để phân bua: – Thiệt là quá sức chịu đựng rồi! Ai đời quần áo buổi tối còn phơi đầy một dây mà sáng ra mất ráo trọi. Thằng ăn trộm nào mà cả gan chọc tới nhà này vậy không biết! Nhớ hoảng hồn: – Mất quần áo hả ngoại? Còn bộ quần áo mới để mặc Tết của con ngoại giặt cho ra hồ đâu? Cũng mất luôn chớ gì? Bà ngoại thở ra: – May là ngoại giặt hôm bữa, thâu vô rồi. Lần này là lần thứ ba đó. Mất ba con gà tuần trước, rồi hôm kia mất thêm cái nồi đồng nữa. Điệu này chắc nhà mình hết ăn Tết quá! Ông ngoại đang ngồi đan rổ ở hàng hiên sau, cất giọng