DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,380,522

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 8)

Tuesday, September 1, 20208:06 AM(View: 442)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 8)

                     Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)




8.

 
Khi bước lên nấc thang SVSQ, chúng tôi được Bộ Chỉ Huy nhà trường đặt may cho một bộ quần áo kaki vàng, một bộ Worsted dạo phố mùa hè, một bộ jaspê dạo phố mùa đông, một bộ jaspê đi học mùa văn hóa. Nón bê rê màu xanh đậm, nón casket vàng, đội lúc bận đồ worsted đi phép ra phố mùa hè, nón casket màu nâu đậm, cùng màu với áo quần jaspê để đi phố mùa đông. Tất cả áo quần đều được tính tiền vải cộng với tiền công may, được ban tài chánh trừ lương hàng tháng, mỗi tháng một ít.

Thời khóa biểu hàng năm được chia như sau:
- Mùa quân sự: khoảng 3 tháng học tại các bãi tập trường Võ Bị Quốc Gia.
- Mùa CTCT: Do các sĩ phụ khảo của trường dạy, về công tác CTCT và lý thuyết "phê phán chủ nghĩa Maxit".
- Mùa Văn Hóa: Do các giáo sư của các đại học Sài Gòn được mời lên dạy, như các giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Trần Như Tráng, Nguyễn Thị Tự, Nghiêm Thẩm, Lê Tôn Nghiêm,  Nguyễn Thị Huệ. Và một số giáo sư Viện Đại Học Đà Lạt...

Nhìn qua chương trình, thì thấy cũng hay, nhưng thật ra, với một SVSQ, buổi tối phải lo canh gát khoảng hai tiếng, rồi có đêm, đi gát ở các nơi bên ngoài vành đai trường như trường tiểu học Võ Tánh, trường Bùi Thị Xuân, Viện Đại Học Đà Lạt, chùa Linh Sơn, Hội Thông Thiên Học...thì quá mệt mỏi, còn sức đâu để ngồi học nữa. Cho nên khi đám SVSQ ôm sơ mi vào Đại giảng đường để học Văn hóa, thì ngồi ngủ gục cũng 1/3.

Khi đi học quân sự bên các bãi tập của trường Võ Bị Quốc Gia, hay qua các phòng học chiến thuật bên đó nữa, mới thấy khu doanh trại của trường Võ Bị dùng để đào tạo người sĩ quan hiện dịch, mới đúng tầm mức. Doanh trại rộng, khang trang, sạch đẹp, tất cả đường đi trong doanh trại đều được tráng nhựa, các phòng ốc xây tường, chắc chắn và kiên cố, chả bù với doanh trại trường tôi, tường chỉ là những tấm gỗ mỏng được đóng lên, nên mùa đông, với khí hậu trời Đà Lạt lạnh thấu xương, chúng tôi nằm co ro trên chiếc nệm cũ, tấm mền không làm sao ấm nổi để dỗ giấc ngủ, ngủ lấy sức mai đi học tiếp.

Sau này suy nghĩ lại khi bị trật duột hoài trong những ngày làm lính, tôi mới chiêm nghiệm ra rằng, một ngôi trường mà do một ông tướng không quân bốc đồng, mê gái, ăn nói bốp chát là tướng Nguyễn Cao Kỳ ký thành lập, sẽ không có cái nhìn viễn cảnh tương lai sẽ xảy ra, đó là một sự "đem con bỏ chợ", coi như cứ đào tạo ra những đứa con, cho có tiếng, còn thì "sống chết mặc bay". Nói thêm đến trách nhiệm đào tạo cả ngàn con người ra đứng mũi chịu sào, hứng đạn trong một  cuộc chiến, đã là một tội lỗi không thể dung tha.

Rất tiếc là nay, cả tướng Nguyễn Cao Kỳ và tướng Lâm Ngươn Tánh đã ra người thiên cổ.

                                                                                             *

Những ngày huấn nhục tôi và Ng. cũng có những kỷ niệm vui. Là sau khi bị quần thảo cả tuần, SVSQ nào cũng mồ hôi mồ kê đổ ra suốt ngày, mà nhà trường thì không có máy tắm nước nóng, nên chúng tôi cứ để vậy mà ngủ. Đến cuối tuần, thì được "giải phóng", đó là được cán bộ dẫn ra phố "tắm nước nóng". Đà Lạt lúc này dịch vụ tắm nước nóng mở ra rất nhiều. Tôi và Ng. lợi dụng "tranh thủ" tắm trước, tắm lẹ, trong lúc các "bạn ta" còn tuần tự tắm sau, cũng một tiếng đồng hồ nữa, tụi tôi bèn lén bỏ đi qua quán Phở Bằng, gần đó, ăn phở.

Ơi, với đời sống kham khổ lúc này, được ăn một tô phở Bằng thì không có gì ngon hơn nữa. Ăn phở xong, nếu còn thời gian, tụi tôi còn mò qua đường Duy Tân, hay đường Phan Đình Phùng, "xổ bầu tâm sự". May mà mọi chuyện trót lọt, chứ nếu cán bộ biết được, thì chắc là bị phạt dã chiến ngay.

Amen, cảm ơn trời Phật! Mọi chuyện đều bình an vô sự.

Thật ra, tôi vốn nhát gan, sợ bị phạt, bị quần thảo suốt đêm dã chiến với bao trò chơi của các cán bộ. Nhưng đi theo Ng., tôi trở nên lì đòn, vì suy nghĩ, đi lính mà hiền quá cũng là một thiệt thòi.

Suốt 9 tuần huấn nhục, tôi và Ng. đã lén đi ăn phở Bằng cũng 4, 5 lần gì đó. Và đi "ăn vụng" ở đường Duy Tân cũng bấy nhiêu lần. Có thể nói, vào lính, sống trong một tập thể như vậy, tôi trở nên lì hơn, và bất cần đời hơn. Sau này ra đơn vị tác chiến, tôi mới nhận chân ra thêm rằng, tại sao "lính lác" ở một đơn vị tác chiến, sống bạt mạng bất cần đời, vì họ nghĩ, cuộc đời họ "sống nay chết mai", cho nên họ sống cho ngày hiện tại hơn. Họ sống với thú vui đĩ điếm, hút xách, rồi đào ngũ, làm lao công đào binh. Chỉ vì cái chết luôn luôn đe dọa, rình rập họ. Tất cả tại vì họ đã mất niềm tin, mất đi niềm hy vọng một ngày mai yên bình, hạnh phúc sẽ đến sau này.
 
Cuộc sống của một SVSQ trong vòng rào kẽm gai chỉ là ăn, ngủ, bị phạt hành xác, ngủ gật trên giảng đường. Nhất là buổi tối, khu doanh trại SVSQ đầy mùi xào nấu, chế biến thức ăn. Thì ra, SVSQ cũng có rất nhiều giai cấp, đó là giàu và nghèo. Những bạn giàu được người nhà tiếp tế tiền bạc, đồ ăn hàng tuần, thì họ bỏ bữa tại phạn xá. Hay họ chỉ đi ăn cho có lệ, cho đúng với nội quy nhà trường. Còn thì buổi tối, họ về phòng "nấu nướng linh tinh", chỉ ăn những món được gia đình gởi vào, hâm nóng lại, hay xào, nấu, chế biến...đủ thứ. Cho nên nếu nói, buổi tối ở đây là vùng nấu ăn, "oanh kích tự do" thì cũng đúng.

Còn những bạn với số lương còm cỏi, khoảng 3.500$/tháng cho một SVSQ, thì chuyện "cơm phạn xá" làm tiêu chuẩn là luôn luôn được áp dụng cho các bữa ăn. Dĩ nhiên với sức trai trẻ, thì chuyện ăn uống "không thành vấn đề".

Chuyện ăn uống của SVSQ là chuyện vui, coi như một thời để yêu và để sống. Cũng là những kỷ niệm đáng nhớ của một thời tuổi trẻ.

Ở Đà lạt, ai cũng có những mảnh tình "vắt vai". Vắt vai để ra phố đưa nhau đi ăn kem Thủy Tạ, đi dạo quanh bờ hồ Xuân Hương, hay dắt nhau lên đồi Cù tâm tình chuyện trò chuyện "trên trời dưới biển". Những "em" mà các chàng Sinh Viên Sĩ Quan hay nhắm tới, đó là những cô nữ sinh trường trung học Bùi Thị Xuân, trường Couvent Des Oiseaux, các nữ sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt, các nữ sinh viên trường Thương Mại Franciscaire. Có những bạn đã có những mối tình đẹp, sau này trở thành vợ chồng với nhau suốt đời.

Với trường Võ Bị, đã được thành lập từ những ngày còn ở Đập Đá, Huế, của quân đội Pháp, sau dời về Đà Lạt. Các SVSQ tốt nghiệp trường này, một số đã lên tướng. Đến ngày 1968 đã đến Khóa 25. Với một thời gian dài như thế, nên người ta nói đến Sĩ Quan Đà Lạt là nói đến các sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia. Đến khi khóa tụi tôi vào, khi có người hỏi, tụi tôi thường nói là sĩ quan Đà Lạt, nhưng kèm thêm là Chiến Tranh Chính Trị, để người nghe đừng lầm tưởng mình mạo danh. Dù danh từ nào đi nữa, thì chúng tôi vẫn có những tự hào riêng.

Đó có thể nói là tình Chiến Hữu, chúng tôi luôn binh vực nhau. Tôi nhớ lúc gần ra trường, chúng tôi có sự đụng độ mạnh với các SVSQ trường Võ Bị. Hai bên dàn trận sắp đánh nhau đến nơi, khiến Bộ Chỉ Huy hai trường phải kêu gọi quân cảnh đến can thiệp mới yên.
  
 
                                                                          Trần Yên Hòa
                                                                                     (còn tiếp)

                                 *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, September 26, 202012:41 PM(View: 37)
Chỉ cần nói “West Point”, ai cũng biết đó là chi rồi. West Point là cái tên…dân gian, nói ra ai cũng hiểu. Tên chính thức của ngôi trường này là United States Military Academy (Học Viện Quân Sự Hoa Kỳ). Nhưng nếu lười biếng, chỉ cần nói The Academy hay The Point thì cũng biết liền chính là hắn! Được Tổng Thống Thomas Jefferson thành lập vào năm 1802, đây là học viện quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ. Ngày nay mỗi năm trường thâu nhận khoảng 1300 sinh viên nhập học. Thời gian huấn luyện là 4 năm. Như vậy trong trường luôn luôn có 4 khóa tổng cộng khoảng trên 4 ngàn sinh viên. Chính ra con số này phải hơn nhưng vì mỗi khóa có khoảng 2% sinh viên bị loại mỗi năm, nên vào thì nhiều, ra thì ít, khoảng trên dưới một ngàn tân khoa mỗi khóa. Đây là một quân trường nhưng muốn vào học còn khó hơn vào những đại học danh tiếng. Tỷ lệ được chọn chỉ khoảng 9%, có nghĩa là trong 100 lá đơn xin học, chỉ có 9 thí sinh được nhận. Sở dĩ khó như vậy vì West Point chọn lựa sinh viên không chỉ dựa vào thành
Thursday, September 24, 20207:11 AM(View: 91)
Tôi qua Mỹ năm 11 tuổi tức là thuộc thế hệ Việt – Mỹ, sinh ở Việt Nam nhưng trưởng thành ở Mỹ. Trước năm 75 tôi sống ở trong khu nhà dành cho sĩ quan trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau 75, nhà của tôi bị tịch thâu, bố tôi đi tù cải tạo, mẹ tôi dẫn ba đứa con còn thơ dại lên trên Sài Gòn ở nhờ nhà người anh ruột. Đứa lớn nhất là tôi lúc đó được năm tuổi và cô em út của tôi lúc đó mới được một tuổi. Năm tôi lên bảy tuổi đã biết đọc thành thạo và đọc ké sách mà các anh chị họ con của bác tôi họ mượn của bạn bè. Tôi luôn luôn là đứa được đọc sau cùng mà phải đọc cho lẹ để mấy anh chị mang đi trả. Thủa ấy mấy anh chị của tôi cũng còn đang học dưới trung học nên toàn thích coi truyện kiếm hiệp và sách Tuổi Hoa. Phần tôi, vớ được cuốn truyện nào là tôi đọc và mê hết không kể thể loại. Từ năm tám tuổi tôi đã được đọc “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, “Liêu Trai Chí Dị” luôn cả truyện tình cảm của Dung Sài Gòn và Võ Hà Anh. Nghĩ lại tôi thấy buồn cười vì mẹ tôi không cấm mà chỉ cười khi tôi
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 325)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 243)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 769)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi