DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,493,483

Hạ Long Bụt Sĩ - Đọc sách NHẤT HẠNH

Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 1494)
Hạ Long Bụt Sĩ - Đọc sách NHẤT HẠNH

                                 Đọc sách NHẤT HẠNH



blank


Các bản dịch Kinh và sách Phật học 
Từ D.T. Suzuki dẫn nhập Zen tới công trình phát huy Thiền toàn cầu của Nhất Hạnh. 


Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch.
Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực…
Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn.


NHẤT HẠNH : NHÀ HOẰNG PHÁP KHÔNG MỆT MỎI



Kinh sách Đại thừa của ta thường thường dịch từ bản chữ Hán, mà chữ Hán lại dịch từ bản gốc chữ Phạn, cho nên thường khó hiểu, từ ngữ súc tích, danh từ tâm học rất trừu tượng, nhưng tới Nhất Hạnh ta mới có những cuốn kinh dịch sáng sủa, những pháp thoại rõ ràng , với bút pháp giản dị như :


Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười…


Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn, Nghiêm Xuân Hồng… Sau 1963, Phật giáo phục hưng, viện Đại Học Phật giáo Vạn Hạnh được thành lập, nhất là nhờ các các nhà sư tu học ở Nhật Bản về, như Tâm Giác mở trường dậy Judo, lập Tuyên úy Phật giáo, các sách vở về Thiền tràn ngập, từ Thích Đức Nhuận, tới Thanh Kiểm, Mãn Giác, Thiện Siêu... và lớp tu sĩ trẻ như Tuệ Sỹ, Trí Siêu Lê Mạnh Thát... cùng với các sáng tác Phật giáo trong thơ như Phạm Thiên Thư, trong ca nhạc như Đạo Ca Phạm Duy, thời chiến tranh bom đạn, giữa tranh chấp ý thức hệ Đông Tây, lớp trí thức thời đó đều thấy nhu cầu trở về nguồn cội dân tộc, Linh mục Kim Định với bộ sách Việt Nho, triết lý An Vi, đã mang lại niềm hãnh diện cho trào lưu đó và Nhất Hạnh cũng bắt đầu đại công trình hoằng pháp với các sách về Phật Việt, về văn hóa truyền thống Việt như Văn Lang Dị Sử, Tương Lai Văn Hóa Việt Nam, Quan Âm Thị Kính, Nói Với Tuổi 20, Kiều và Văn Nghệ Đứt Ruột, đại bộ Phật Giáo Sử Luật, truyện Đường Xưa Mây Trắng…


Với 100 đề sách, trong đó 40 cuốn bằng Anh ngữ, Nhất Hạnh trong dòng Đại Thừa Thượng Tọa Bộ, nhánh Lâm Tế, dòng Liễu Quán, Nhất Hạnh đã lập ra dòng Tiếp Hiện, tiếp xúc với hiện tại, Phật giáo dấn thân, từ trường Thanh niên Phụng sự Xã hội 1960, Đại học Vạn Hạnh, nhà sách Lá Bối, cho đến các trung tâm Thiền Làng Mai khắp thế giới... trong hướng đi này, Nhất Hạnh đã vận dụng Tâm Lý Học, Khoa học Vật lý Tây phương vào Tâm học Phật giáo, khiến người Âu Mỹ, Tây học có thể lĩnh hội được. Nhất Hạnh nhấn mạnh tới Chánh Niệm, mindfulness, là một nhánh trong bát chánh đạo, một phép tu tập luyện tâm: chánh kiến, chánh niệm, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn.

Kinh sách Phật Đại Thừa cả 5000 cuốn, Nhất Hạnh đã bắt đầu dịch kinh và chú giải những cuốn kinh cơ bản như Kim Cương, Người Bắt Rắn, Người Biết Sống Một Mình, Pháp Ấn... dường như Tác giả muốn khai tâm giới trí thức thường hay bị trói buộc trong chấp kiến và định kiến :


Mở đầu là kinh Kim Cương - Gươm Báu Chặt Đứt Phiền Não, 1992, đây là cuốn kinh đã làm thức tỉnh bao nho sĩ, trí thức, như Nguyễn Du từng viết :


Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
...tài tri vô tự thị chân kinh (trích bài Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài)


Tạm dịch :


Kim Cương kinh đọc nghìn lần
Mới hay không chữ mới gần chân kinh


Là bởi vì càng biết nhiều, càng tri càng dễ bị kẹt vào khái niệm, càng bị trói buộc vào ngôn từ ước lệ, như sư Thái Lan Achaan Chah từng nói “tu hành là để vượt qua cả sự ngu dốt lẫn sự thông minh”.


Trong những năm 1990, nhà xb Lá Bối đã ra hàng loạt những kinh sách do Nhất Hạnh chú giải, cặn kẽ, sâu rộng nhờ tác giả tinh thông cổ ngữ Phạn, Việt ngữ, Anh, Pháp ngữ, với lối hành văn trong sáng và biết dùng các từ ngữ triết lý, tâm lý hiện đại. 


Cuốn kinh Im Lặng Sấm Sét tức Kinh Người Bắt Rắn, 1993, nhấn mạnh sự giải thoát khỏi sợi dây thừng ý niệm, ngôn từ trói buộc tâm trí, đây là cuốn kinh, theo thiển ý, hay nhất, quan trọng nhất mà Thiền sư đã đưa vào Phật học, phá chấp kiến, lìa điên đảo tưởng, dứt sở tri chướng, phải đạt được yếu chỉ kinh sách, không khư khư đội thùng sách giáo điều lên đầu, qua sông rồi để lại cái bè cho người khác dùng, không được tôn thờ hay thần tượng hóa bất cứ chủ thuyết nào, chủ nghĩa nào “cầm một cây súng trong tay, ta có thể bắn chết một người hay năm bảy người. Nhưng khi cầm một ý thức hệ hay một chủ thuyết trong tay, ta có thể giết hàng vạn người” ( tr 59).


Tất cả công trình Thiền quán, thiền hành, nhật tụng... đều khởi đi từ phá chấp tới Không, vô tướng, vô tác, ba cánh cửa giải thoát của Phật đại thừa, nghiêng về nhận thức (kinh Pháp Ấn) Vô thường, Vô ngã và Khổ của Tiểu thừa, lại nghiêng về luân lý đạo đức, Thiền sư nhấn mạnh con đường giải thoát của nhà Phật là trí tuệ, là chánh niệm, từ Duy Thức Học (1980) tới các kinh Người Biết Sống Một Mình (1990)... đều hướng dẫn ta tới đời sống hạnh phúc, nhẹ nhàng thân tâm nhờ vô tác, vô nguyện, hiện tại toàn vẹn, đầy đủ, không cần tìm gì thêm bên ngoài.


Sách của Nhất Hạnh là một tàng kinh các của Phật giáo VN và quốc tế, nó làm giàu Phật học, làm sáng Phật đạo và có công năng thức tỉnh đại chúng.


Có lẽ cuốn kinh Đạo Bụt Nguyên Chất, xb 2015, là cuốn kinh cuối do Nhất Hạnh biên dịch và chú giải, gồm 16 bài kinh thời đầu khi Bụt thành đạo, tức Nghĩa Túc Kinh, từ Hán văn. 


Với cả trăm cuốn sách như vậy, Nhất Hạnh đã gói lại trong cuốn Trái Tim Của Bụt, 1997, gồm 25 bài Phật Pháp Căn Bản. Thiết yếu hơn cho hành giả, tu sĩ, cư sĩ,... là cuốn Thiền Môn Nhật Tụng năm 2000, xb 1997, sử dụng cho cả Thiền phái và Tịnh Độ, gồm các công phu, kinh tụng, tĩnh tọa, suốt tuần, riêng thứ bảy và chủ nhật, có hai công phu sáng và chiều, kèm vào các kinh ngắn Tịnh độ, Mật Tông và Thiền Tông, gọn ghẽ, sáng sủa.


Tóm lại chỉ cần 3 cuốn: Đường Xưa Mây Trắng, Im Lặng Sấm Sét và Nhật Tụng Thiền Môn, người học Phật cũng tạm đủ hành trang để lên đường thiền hành.


CÁC BĂNG và CLIPs trên Youtube



Thời 30 năm trước, những buổi thuyết pháp của Nhất Hạnh đều được ghi trên băng nhựa, về sau được đưa lên Youtube, rất tiện ích cho khán thính giả. Trong các buổi ghi hình, pháp thoại năm 2005 là đặc biệt vì là thời gian này Nhất Hạnh thuyết giảng ở Việt Nam, tại Hà Nội, trước cử tọa đa số là Mác Xít duy vật. Đây quả là một sự tự tin rất cao như vào hang cọp thuyết pháp. Những đề tài như Tâm Linh, Duy Tâm Duy Vật được Thiền sư dùng tri kiến thắng nghĩa Phật rọi sáng và thuyết phục. Nhất Hạnh đã khéo léo trong tinh thần phá chấp hỷ xả, không làm thương tổn tự ái của cử tọa khác trường phái, ung dung giải nghĩa Thân Tâm là một, namarupa, vượt trên lưỡng nguyên, tri giác và đối tượng phát hiện cùng lúc, như khi ta thấy-đóa hoa hồng, hiện nay tâm lý học mới cũng thấy tâm vật là một, psychosomatic, tâm bệnh cũng là bệnh xác, mà hơn nữa khoa học vật lý lượng tử cho thấy một chất điểm (particle) có khi là hạt, có khi là sóng (wave and particle), thường và hằng như trong Duy thức học.


Tây phương, từ Descartes tới Thần học, thường phân ra lưỡng nguyên Hồn và Xác, trong khi Đông phương như Nho giáo hợp Âm với Dương trong nhất nguyên Thái cực, mà Lão tử cũng như Phật, đều lấy Đạo vượt trên hình sắc, ngôn từ “đạo khả đạo phi thường đạo” đạo mà nói ra được thì chẳng phải là đạo, Niết bàn là phi tưởng và phi phi tưởng, quét sạch niệm, chẳng có chẳng không, chẳng đi chẳng đến. Chính triết gia Trần Đức Thảo từng nói với các ông Duy vật “ các anh chẳng hiểu Mác xít là gì cả, để tôi dạy cho” ! nhưng ở thời 1950, ngay chính Trần Đức Thảo vẫn chưa ra thoát biện chứng Duy Vật, materialistic dialectics, của ông Judeo K.Marx, mà các nhân sĩ quốc gia như Lý Đông A, Nghiêm Xuân Hồng, Ngô Đình Nhu... cũng chưa phê bình Duy Vật một cách rốt ráo, phải đợi tới Nhất Hạnh, từ căn cơ nhà Phật, mới đưa ra những lý chứng thắng nghĩa theo phong cách phá chấp của Đức Phật khi giảng thuyết cho 62 trường phái điên đảo tưởng của thời mạt kiếp mạt kiến.


Trong pháp thoại về Luân Hồi, Nhất Hạnh đã dùng Duy thức để hiểu Luân hồi như sự tiếp nối, tiếp nối ngay trong hiện tại, tương tục tương tức, trong khi ý niệm Luân hồi, samsara, từ Ấn Độ Giáo nghiêng về tái sinh, kiếp này chuyển qua kiếp khác... Nhất Hạnh trên quan điểm Đại thừa, duy tâm tạo, trước những câu hỏi của tục nhân về các đề tài “bất khả tư nghị ” đã thỏa mãn khao khát tìm hiểu của giới trí thức. Trong một phần khác, bàn về mê tín dị đoan trong chùa, tập tục như đốt vàng mã, cúng giỗ ma chay... Nhất Hạnh cho rằng nếu chưa có gì thay thế hay hơn thì cũng không nên phá bỏ bừa bãi tín ngưỡng phong tục dân gian.


CÁC TRUNG TÂM THIỀN 



Phật giáo nhập thế là tâm niệm của các nhà tu thời Phật giáo phục hưng, khoảng 1970 trở đi, trong nước Thiền sư Thích Thanh Từ xây dựng chùa theo tinh thần Trúc Lâm Yên tử của vua Trần, cư trần lạc đạo, đã là mồi lửa từ bi, một cái phao cho Phật tử, tạo môi trường tu dưỡng trong điều kiện xã hội khó khăn. Những lần về nước hoằng pháp, 2005, 2007… Nhất Hạnh đã là một luồng gió mới, từ hải ngoại, với cả trăm thiền sinh quốc tế, mang tới cho Phật giáo Phật tử trong nước một niềm tin vững bền vào chính pháp, tạo cơ duyên cho những ai đang bị trói chặt trong giáo điều một hướng giải thoát êm đềm trong danh dự. Cho tới nay Phật giáo, dù là Phật giáo quốc doanh, dù là tu viện dạy cả Mác Lê... vấn đề là khế cơ, và như Schopenhauer nói : chẳng có đạo nào có thể thay thế Đạo Phật ở Đông phương, làm như thế có khác gì bắn một viên đạn lên vách núi cao (...as if we fire a bullet against a cliff...The Story of Philosophy by Will Durant p.339), đạo khác, như Ấn giáo, Hồi giáo, Duy vật giáo trước sau cũng chỉ là những viên đạn nhỏ bắn lên vách núi Trường Sơn ! rồi tới cơ duyên, chánh pháp vẫn là chánh pháp, tam pháp ấn vẫn đánh dấu rõ lên Thiện và Ác.

Cụ Phan Văn Trường (1876-1933), theo hồi ký Hồ Hữu Tường, từng nói từ trước : Rồi đây Mác xít sẽ thành công về chính trị ở phương Đông, nhưng rồi sẽ bị Phật giáo đào thải... mà quả thật, ý thức hệ điên đảo tưởng trong trường kỳ đã khô héo, tàn lụi, như Nhất Hạnh đã khéo léo nhắc nhở, khuyên nhủ trong clip Duy Tâm Duy Vật : Phật giáo hay Mác Xít, muốn tồn tại đều phải phát huy, khai triển liên tục, nếu không sẽ ứ đọng tàn lụi... ai cũng biết Mác xít từ lâu chỉ là cái xác vô hồn, ướp đi ướp lại vẫn không hồi sinh được. Tới nay, làn gió Thiền âm thầm truyền vào khắp nước, chính quyền có dè dặt nhưng quan nhất thời, dân vạn đại, các ngôi chùa vĩ đại đã được xây cất, chiêm ngưỡng : Bái Đính, Tam Chúc, Ba Vàng, tượng Phật ngồi trên đỉnh núi chót vót Sapa... tuy cao vọng đưa Phật giáo vào làm tác nhân chuyển hóa chưa thành nhưng mầm Thiện chánh pháp đã được gieo trồng chờ ngày bung nở khi hội đủ cơ duyên.


Từ SUZUKI tới NHẤT HẠNH 



Tiền bán thế kỷ XX, học giả D.T.Suzuki (1870-1966) mang Phật giáo với Thiền Nhật Bản sang đánh chuông xứ Âu Mỹ : thập niên 1930 với cuốn Thiền Nhập Môn (An Introduction to Zen), Tuyển Tập Kinh Phật (Manual of Zen Buddhism), Bàn Luận về Thiền Nhật Bản (Essays on Zen Buddhism-Bộ 3 tập), sau Đệ Nhị Thế chiến ông viết về Thiên Chúa và Phật 1957, viết chung với Eric Fromm về Zen Buddhist and Psychoanalysis (Thiền và Phân Tâm học )... dịch kinh Lăng Già từ Sanskrit, ông cũng đề cập’ tới Tịnh Độ tông ở Nhật. Đi giảng thuyết ở Mỹ, Anh, Đức, ông là người canh tân Đạo Phật và giảng Thiền cho thích hợp với văn hóa triết lý Tây phương, Carl Jung từng ca tụng “Suzuki là người mang Thiền tới gần với nhận thức Tây phương” .


Suzuki vừa lìa trần 1966, thì Phật giáo lại tiếp tục phục hưng với Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng, mang Kim Cương Thừa, Mật Tông và các lễ nghi đặc biệt làm rung động trời Tây, nhưng phải đợi đến Nhất Hạnh thì Phật giáo, qua lối sống Thiền đạo, mới thật sự phát triển sâu rộng từ Âu Mỹ tới Thái, Hàn, Tầu, Việt... Sâu như Suzuki qua cả 100 cuốn kinh sách và thuyết giảng liên tục, rộng như Đạt Lai Lạt Ma vì các trung tâm Thiền Làng Mai cũng chẳng khác gì các ngôi chùa từ Hy mã lạp Sơn tràn lan thế giới. Ưu điểm của Nhất Hạnh là vừa là nhà tu, vừa là học giả, vừa là nhà văn, sư lại phát xuất từ một xứ giao điểm Ấn-Trung, Đông-Tây, giao thoa Tam Giáo với luồng gió Tây phương, trong cơn lốc Tư bản- Cộng sản, cuộc hoằng pháp 50 năm của Nhất Hạnh là công trình độc nhất vô nhị của Phật giáo vào thời cả thế gian đang sống quay cuồng trong cơn lốc vật chất sát phạt ô uế, kỹ nghệ ô nhiễm, kim tiền ô trọc.


*


Bây giờ dòng sông Hương vẫn lặng lẽ xuôi dòng, nhà sư già như cánh chim Việt trở về chùa xưa, mây trắng ngàn năm vẫn lờ lững trên tháp chuông Thiên Mụ…


Nhất Hạnh đã sống đời một tu sĩ, đã hành trong tinh thần “tận kỳ tính” của Nho giáo, tận khả năng của Pháp Cú, đang thoát ra như một đạo sĩ, ung dung thư thái quán niệm từ chiếc xe lăn trong sân chùa, bao gót chân bé nhỏ của chú tiểu 16 tuổi luân hồi qua bước chân vạn lý thiền hành tứ xứ năm châu. Cộng nghiệp dân Việt thật ghê gớm, đảo lên đảo xuống, quay đi quay lại, một trái tim nhỏ bé trong bọc trứng tròn Lạc Hùng!


Người viết tiếc không có cơ duyên để gặp vị cao tăng của thế kỷ, để hỏi những câu hỏi vô minh như vô thường trong thời gian vũ trụ và trong trăm năm cuộc đời có nên nhìn khác nhau không ? hợp tướng sẽ phân hủy nhưng tổng thể -gestalt- tạm thời có thể nhìn một cách tích cực hơn không ? hoa hồng kia sẽ tàn phai, nhưng khi nó đang rạng rỡ bung nở ta nên nhìn nó với chánh niệm hay cảm quan nào ? Nhất tâm bất loạn, bình thản, không vướng mắc, thiền có thể làm ta gần sỏi đá chăng ? ...làm cách nào để nhà tu Đại thừa lấy thân giáo thuyết phục đại chúng như Nguyên thủy ?...Nhưng rồi chợt tỉnh, nhớ câu bất khả tư nghị của Phật, và câu “ nước biển có một vị là vị mặn, đạo ta chỉ có một vị là vị giải thoát ” người viết xin hồi hướng tới thiền sư Mây Trắng vài dòng tán thán thô lậu như sau :


Trời đất bao la
Nơi đâu an trú cũng là nhà
Trái tim bảo tàng tinh tú
Có hay không, một tiếng thu ca !
Mai này dế tụng kinh chân tháp
Hỏi ai nằm mây trắng ngâm nga ?
Một con chim Lạc nghe hồn mõ
Rẽ gió đi tìm bóng cà sa.
                                                                             Hạ Long Bụt sĩ 
                                                                                       29-8-2020
                                                                                                                                                     (Từ: DĐTK)
                                   *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, May 10, 20216:27 AM(View: 49)
Tháng 12 năm 2017, sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch sử” được xuất bản. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), do chính các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan (CSVSQ) của TVBQGVN thực hiện. (link: “giới thiệu sách TVBQGVN – TDLS”). Sau quyển sách trên, rất nhiều CSVSQ của TVBQGVN bày tỏ ước mong được nhìn thấy một tác phẩm viết về TVBQGVN và về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, để giúp cho các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, hiểu biết về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng trước năm 1975. Lý do chiến đấu và hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản để bảo vệ nền Dân Chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam, đồng thời bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó là lịch sử của TVBQGVN và sứ mệnh của người sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam. Để đáp lại niềm mong ước đó, tháng 8 năm 2018,
Sunday, May 9, 20217:22 AM(View: 39)
Từ nghìn xưa cho đến nay – trên quê hương chúng ta – hình ảnh người mẹ là hình bóng thiêng liêng, cao quý nhất… không hết lời ngưỡng mộ trong dòng văn học nghệ thuật. Mẹ từ khi “mang nặng đẻ đau”, cưu mang, nuôi nấng, dạy dỗ khi con chào đời cho đến khi trưởng thành, xa cách và khi về già. Nói đến mẹ là nói đến trái tim nhân bản, hy sinh và thương yêu vô bờ bến cả cuộc đời cho con đến khi nhắm mắt. Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại. Trước năm 1975, ở miền Nam VN không có Ngày Hiền Mẫu, Ngày Của Mẹ… để nhắc đến, để vinh danh, để nhớ vì với người con, hình bóng đó gắn liền với ngày tháng cuộc đời. Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ. Gởi đến mọi người những ca khúc tiêu biểu. Và, thân tặng với những ai không còn mẹ
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 88)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 196)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con
Sunday, April 25, 20218:02 AM(View: 306)
Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước