DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,418,136

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 9)

Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 780)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 9)
                   Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)


9.
 
Khi hải quân đại tá Lâm Ngươn Tánh được "tông tông" Thiệu móc lon 1 sao, cả Bộ Chỉ Huy Trường như sáng cả lên. Trước tiên là có xe tướng và xe quân cảnh trực hằng ngày bên ngoài văn phòng Chỉ Huy Trưởng. Lúc này, không khí trường đã tương đối bình yên trở lại. Theo chỗ tôi biết, cấp số chức vụ Chỉ Huy Trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị chỉ là đại tá thôi. Nên đại tá Tánh, khi đã được thăng Phó đề đốc (chuẩn tướng) thì coi như chức vụ đã quá đụng trần. Ông chỉ đợi ngày một, ngày hai, sẽ được dời đi khỏi trường, để giữ một chức vụ cao hơn, mới có thể thăng quan tiến chức tiếp. Vì vậy, khi ông đổi đi để giữ một chức vụ khác bên hải quân (không biết chức vụ gì?) thì có ngay đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh về thay thế.

Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhõm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết và bị thương. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành.

Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, thân mật, hòa ái. Tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.

Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh về làm Chỉ Huy Trưởng, tự nhiên không khí sinh hoạt ở trường vui hẳn lên. Lúc này chúng tôi coi như đã đến gần cuối của năm thứ nhất, chúng tôi đã thấm mùi quân trường, và mọi sinh hoạt đã vào nền nếp.

Tất cả SVSQ của Khóa 2 được thành lập, là một Liên Đoàn SVSQ, gồm 2 tiểu đoàn. Chúng tôi có hệ thống tự chỉ huy, có các cấp trưởng đều do anh em SVSQ bầu ra chỉ huy nhau, nhiệm kỳ thường 3 tháng. Cả hai tiểu đoàn có sinh hoạt văn nghệ, thể thao, bóng tròn, bóng chuyền, bóng bàn...

Nhưng tôi vẫn thấy trong hệ thống tự chỉ huy, ví như đơn vị tiểu đoàn, có Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó và SVSQ/CTCT/Tiểu Đoàn. Thật sự, tất cả mọi công tác, đều do Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó điều hành, còn SVSQ/CTCT/Tiểu Đoàn chẳng có chuyện gì làm, gọi là tham mưu CTCT, không có công tác gì cụ thể. Điều đó nói lên rằng, cái Tổ Chức Đơn Vị nó đã như vậy, nên chuyện khi chúng tôi ra trường, không được xử dụng cũng đúng thôi.

Về văn nghệ, Liên Đoàn SVSQ gồm tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2. Cả hai cùng tranh nhau thành lập những chủ đề Văn Nghệ.
 
Tiểu Đoàn 1 có chủ đề Đường Vào Dân Tộc, Lời Nguyền Sát Thát, lấy nhạc phẩm Con Đường Cái Quan của Phạm Duy làm nền. Những SVSQ xuất sắc được nêu ra là, các anh Trần Ngọc Hoàn, Đào Quang Hùng, Đỗ Phú Nên...Và các SVSQ tham gia vào các bộ môn ca tập thể, cá nhân, nhạc cảnh, như các anh Nguyễn Đức Phương, Bùi Ngọc Thạnh giả gái, rất tuyệt, giống y hệt con gái bắc, con gái nam.

Tiểu Đoàn 2 cũng không thua kém, có các SVSQ như Nguyễn Ngọc Mạnh, Nguyễn Ngọc Thuyết, Hoàng Đăng, Lê Quang Huỳnh cũng rất xuất sắc trong các bản hợp ca, đơn ca...

Tuy nhiên, nhận xét khách quan mà nói, Văn Nghệ TĐ 1 nhờ có 3 anh Trần Ngọc Hoàn, Đào Quang Hùng, Đỗ Phú Nên đã từng học từ trường dòng xuất ra, nên các anh đã tổ chức dàn đồng ca, hợp ca, hát bè, rất bài bản.

Như vậy thì sinh hoạt ở đây chủ yếu là Văn Nghệ, Thể Thao. Nhiều lúc tôi tự nhiên có một ước muốn là nếu như còn thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, có đảng Cần Lao Nhân Vị, là chính đảng, ảnh hưởng đến chính trường miền Nam, thì chúng tôi, nếu được gia nhập vào đảng ấy, đứng ra làm Chính Trị Viên cho các đơn vị Đại Đội hay Tiểu Đoàn, thì chắc quân đội sẽ khá hơn, ít có cảnh quân phiệt, mua quan bán chức, tham nhũng, hối lộ như sau này. Sau này Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng có đảng Dân Chủ, nhưng đảng quá yếu, lại lấy giáo chức làm nền tảng, nên mọi chuyện cũng chẳng đi đến đâu. Theo tôi nghĩ và ước mơ, nếu để khoảng gần 1000 sĩ quan chúng tôi ra trường, cầm cương như chính trị viên đơn vị, có quyền ngang hàng (hay hơn) đơn vị trưởng, chắc các ngài tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tư lệnh sư đoàn, không giám khuynh loát quyền hành, làm sứ quân từng vùng, như sau này và đưa miền Nam chiến bại.

Dù sao, những ngày ở quân trường là những ngày vui của cuộc đời Sinh Viên Sĩ Quan chúng tôi.
 
Có một điều nữa là, rất tiếc, một đơn vị như Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, mà không có một tờ báo làm tiếng nói, không có một lý thuyết nào làm đầu đàn, để hướng dẫn phương thức đấu tranh chính trị. Nếu nói chủ nghĩa quốc gia thì chung chung quá. Đối đầu với một chế độ cộng sản độc tài, đảng trị, mà mình không độc tài, thì sẽ thua dài dài là cái chắc.
 
Khi tôi tìm hiểu về báo chí, thì thấy cả nhà trường, khối CTCT không có một tờ báo nào. Hồi mới lên trường, tôi có đọc được một Đặc san có tên là Đường Mới, tập san không có tên tuổi một nhà văn nổi tiếng nào cộng tác. Có một tác giả tên là Trần Lư Nguyên Khanh, có một bài, hình như, đó là một bút ký, ghi chép về những buồn vui quân trường. Sau ngày tìm hiểu ra, thì đây là bút hiệu của anh Trần Ngọc Dưỡng, Khóa 1. Tôi thích bút danh này vì nó lạ.

Nhưng sau này, Trần Lư Nguyên Khanh lại bỏ bút hiệu này, và khi qua Mỹ, anh lấy một bút hiệu khác có vẻ kiếm hiệp là Vương Trùng Dương. Nhiều khi tôi có suy nghĩ, anh có muốn mình như Vương Trùng Dương trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung không?

*

(Vương Trùng Dương là một nhân vật có thật trong lịch sử được Kim Dung tiểu thuyết hóa.

Ông là một đạo sĩ đời nhà Tống. Sinh năm 1113, mất năm 1170 là người sáng lập ra Toàn Chân Giáo, là Bắc Tông của Đạo giáo Trung Quốc.

Vương Trùng Dương tên thật là Vương Trung Phu (trong tiểu thuyết dựa Kim Dung Võ Lâm Ngũ Bá, tên hồi nhỏ của ông là Vương Tiêu Thu), tự là Duẫn Khanh, sinh ra tại Hàm Dương trong một gia đình giàu có. Thuở nhỏ ông chăm chỉ, tinh thông cả văn lẫn võ, lớn lên nhờ vậy mà nổi tiếng gần xa. Khi người Kim xâm lấn, ông tụ họp nhân dân nổi dậy chống lại nhưng không thành công.

Theo truyền thuyết năm 1159, ông được gặp Lã Động Tân và Hán Chung Ly, hai vị tiên trong nhóm tám vị tiên sống ở Bồng Lai tiên đảo của Trung Quốc, được truyền thụ khẩu quyết luyện đan là Toàn Chân. Ý nói bảo toàn tam bảo (toàn tinh, toàn khí, toàn thần) hội tụ trung cung, kim đan thành tựu.

Từ đó ông chuyên tâm nghiên cứu Đạo giáo, đổi tên là Triết, tự là Tri Minh, thành lập ra Toàn Chân giáo. Tôn chỉ của Toàn Chân giáo là cứu giúp chúng sinh nên nhân dân rất kính trọng. Học trò tìm đến ông rất đông, nhưng ông dạy dỗ nghiêm khắc, thường đánh đập để thử thách nên cuối cùng chỉ còn lại bảy người. Đó chính là Toàn Chân Thất Tử.)

(theo tụ hiền trang wiki)


*

Sau này anh Trần Ngọc Dưỡng qua Mỹ, theo diện HO, anh viết nhiều hơn, với những chủ đề về âm nhạc, văn học. Anh viết về tác giả các bài hát lính một thời, hay những nhà văn cùng thời, cùng đi lính, cùng viết văn làm thơ. Anh có in 2 tập Phiếm. Tập Phiếm đầu, có tên là "Ngẫm Chuyện Nhân Sinh". Vương Trùng Dương viết về những hệ lụy của cuộc sống, về thế thái nhân tình. Dù là Phiếm, nhưng văn phong anh nhẹ nhàng, hiền lành, nhỏ nhẹ.

Khóa 1 còn có anh Quách Dược Thanh, cũng là một lý thuyết gia "phê phán chủ nghĩa Maxit" rất hay, đầy lý luận. Sau 30-4-75, anh đi tù ở trại Vườn Đào, Tiền Giang, bị cán bộ quản giáo nhà tù ám hại phải chết. Cái chết anh cũng được nhiều người nhắc đến, như một anh hùng.

Có thêm anh Dương Viết Điền, cũng cũng là một cây viết, bút hiệu là Hạ Ái Khanh, anh viết những hồi ức khi đi tù CS, hay những trận đánh xảy ra trước 75 mà anh tham dự. Anh còn làm thơ nữa. Văn phong anh giản dị, hiền hòa.

*

(Nhà thơ Hạ Ái Khanh tên thật là Dương Viết Điền sinh tại làng Quảng Xá, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Năm 1954 theo cha mẹ di cư vào Nam. Cựu sinh viên Đại Học Luật Khoa Huế. Xuất thân khoá I Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt. Cựu Sĩ quan QLVNCH. Năm 1975, ông bị cộng sản bắt cầm tù trong trại cải tạo 10 năm. Năm 1990, ông sang Mỹ theo diện HO. Hiện định cư tại tiểu bang California, Hoa kỳ.

Từ năm 1990 đến nay, ông đăng thơ, văn liên tục ký tên thật hay dưới bút hiệu Hạ Ái Khanh trong các tạp chí ở hải ngoại như: Viễn Xứ, Saigon Times, Saigon Nhỏ, Chiến Sĩ Quốc Gia, Vietnam Press, Sức Sống, Văn Học Nghệ Thuật, Quán Gió, Đại Chúng, Thời Luận, Thằng Mõ...

Tác phẩm đã xuất bản :

- Trại Ái Tử Và Bình Điền (Hồi Ký Cải Tạo, 1993)
- Ngậm Ngùi (Thơ, 1996)
- Mấy Tình Khúc Cho Đời (Nhạc, 1997)
- Speechless (Thơ Anh Ngữ, 2000)
- Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân (2003)

(theo tvvn.org)


Cũng có những anh Khóa 1, viết văn, viết báo nữa, nhưng theo tôi không để lại tiếng tăm dài lâu, vì các anh không lý luận mà chỉ hay bươi móc chữi rủa những điều không hợp với mình. Những điều đó đã làm giảm giá trị bài báo và người viết.

*

Trong thời gian tôi thụ huấn SVSQ, có một chuyện tranh cải về bút hiệu văn học xảy ra. Đó là thời kỳ nhạc sĩ Anh Việt đứng ra thành lập tuần báo Khởi Hành, coi như là tiếng nói của anh em Văn Nghệ Sĩ quân đội. Tuần báo Khởi Hành được đưa đến tận từng giường ngủ SVSQ để quảng bá và kêu gọi SVSQ mua ủng hộ. 1 hay 2 số báo đầu phát không, nếu thích, thì SVSQ có thể ghi danh mua. Tôi cũng thích Khởi Hành và có viết bài cộng tác với tuần báo Khởi Hành trong thời gian sau này.

Tờ Khởi Hành do nhạc sĩ Anh Việt (tức đại tá Trần Văn Trọng) làm chủ nhiệm, nhà văn Viên Linh làm Tổng Thơ Ký.

Trong một số báo Khởi Hành khoảng thời gian giữa năm 1970, có đăng một bức thư của anh Phạm Tấn Tài, SVSQ Khóa 2, nói mình chính là tác giả Phạm Nhã Uyên, trong lúc đó, như nhiều người biết, Phạm Nhã Uyên chính là bút danh của anh Phạm Tuế. Sự việc gây ra tranh cải nhau vì một cái tên (bút hiệu) thôi. Sau 2, 3 số báo, Khởi Hành đều đăng bài xác quyết của 2 anh Phạm Tấn Tài và Phạm Tuế. Cuối cùng thì sự việc chẳng đi đến đâu. Sau đó Tuần báo Khởi Hành xin khép lại chuyện này. Nhưng trong anh em SVSQ vẫn còn râm rang bàn tán câu chuyện. Tôi đã đọc thơ của 2 anh Phạm Tấn Tài và Phạm Tuế, hai anh cùng  đều xưng mình là Phạm Nhã Uyên.

Hai anh đều có những bài thơ hay.


Khi sắp mản khóa, anh Phạm Tấn Tài đã đóng góp cùng chúng tôi, 12 anh em cùng khóa, in tập thơ Lời Ru Tình. Tập thơ ra đời rất vất vã, vì tôi chưa biết chuyện in ấn, di chuyển thế nào. Chỉ là tôi có quen biết với một nhà in ở Đà Nẵng, nên tôi liên lạc và kêu gọi 12 anh em "nhà thơ" Khóa 2, cùng đóng mỗi người khoảng 1000$, để cùng in thơ (hứng chí của tuổi trẻ ấy mà). Anh em ai cũng đồng ý, cho nên nhân dịp những ngày cuối năm 1970, tôi về phép Đà Nẵng, đã nhờ nhà in ấn hành.

Thật là một hoàn cảnh vô cùng bi đát cho tôi, vì trong dịp đó, tôi bị một cái tang đau đớn là mất cha. Cha tôi đã mất. Trong mấy tuần đầu ông rất khỏe mạnh, không ngờ mấy tuần sau, cha tôi đổ bịnh và mất. Vì bị tang cha, lại sợ trễ phép lên trường bị phạt, lại tết gần đến, mà phải nhận khoảng 500 cuốn thơ Lời Ru Tình đem lên cho anh em. Tôi tự khuân, vát, xách, đem lên máy bay quân sự. Ơi! thật khổ tứ bề.

Nhưng mọi chuyện cũng qua, coi như một kỷ niệm êm đềm vui vẻ với anh em.

Các bạn cùng tôi góp mặt trong tập thơ này, tôi còn nhớ như Đào Trung Chính, có bài thơ "Sáng thức dậy thọc tay vào túi, chợt thấy mình có sáu ngón tay", ai đọc cũng cười vui.

Các anh nay đã mất: Phạm Tấn Tài, Lam Điền Nguyên Thử (Nguyễn Hữu Thử), Lê Đại Tấn, Lê Văn Chua (Lê Vĩnh Nghiêm).

Còn lại Đinh Trường, Trần Thế Nghiệp (Trần Thanh Ngọc), Lê Trọng Dũng, Đào Trung Chính và tôi.
Và một số anh khác tôi không còn nhớ tên.

Khi ra trường, tụi mỗi người một nơi. Đông nhất là về các đơn vị bộ binh hay địa phương quân, giữ chức vụ đại đội phó CTCT. Tôi đã "lội" khắp các địa danh Quảng Ngãi, Quảng Tín như Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, Việt An, Thường Đức, Hiệp Đức. Nên khi hay tin các bạn mình mất, thời gian qua đã quá lâu rồi.

Đến bây giờ, hỏi lại, chẳng ai còn giữ tập thơ Lời Ru Tình. Các anh có đề nghị tôi in lại, nhưng không ai còn giữ bản chính, thì biết lấy gì mà in đây. Coi như thất lạc hết.

Đúng là thất tán.
 
 
 
                                                                       Trần Yên Hòa
                                                                               (còn tiếp)


                                *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, October 18, 20204:22 PM(View: 392)
Tôi chỉ là một công dân hạng hai cầm bút chứ không phải là nhà văn. Lại càng không phải là nhà văn có thương hiệu cho dù là cấp xã hay cấp nhà nước. Tôi viết trước hết cho các con tôi vì chúng rất mù mờ không hiểu cha ông chúng đã sống và đã chết như thế nào trong suốt hơn nửa thế kỷ dông bão vừa qua. Tôi có người bạn bảo bây giờ viết như Kinh Kha buồn. Nghĩa là biết chẳng tới đâu mà vẫn phải cầm lấy bút như cây chủy thủ. Tôi nghĩ còn hơn Kinh Kha buồn vì sông Dịch bây giờ chẳng những lạnh mà hoang vắng đến rợn người. Chẳng có một tân khách nào dám tiễn đưa. Cái đất Tần ấy lúc này đang ngút trời gươm đao bất trắc. Từ lúc nạn đói năm Ất Dậu đến nay có bao nhiêu triệu công dân hạng hai Việt Nam đã chết? Hai triệu? Năm triệu? Hay mười triệu? Chết vì đói, vì thủ tiêu, vì đấu tố, vì tố cộng, vì Mậu Thân, vì cải tạo, vì vượt biên… Cho dù ở bên nào họ cũng chỉ là những nông dân nghèo, cả đời khát khao mảnh vườn thửa ruộng. Chính vì vậy mà họ bị lừa phỉnh, bị lợi dụng, bị sai khiến.
Wednesday, October 14, 20208:35 AM(View: 390)
Cách đây hơn bốn mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy H. B. N. bình bài “Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa biết gì về nạn mại dâm. Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx-Lenin, thầy khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa
Sunday, October 11, 20203:27 PM(View: 387)
Vậy mà Lê mất đã một năm... Giờ này năm trước, tôi đang ở Việt Nam có chút việc, và cứ tưởng mình sẽ không đến dự kịp lễ tang của anh tại nhà quàn Peak Family. Nhưng may thay, cuối cùng công việc lại êm xuôi và tôi trở về Bolsa kịp đúng vào buổi sáng ngày di quan linh cữu của anh - nhà thơ của hằng ngàn bài thơ tình trong số đó có nhiều bài thuộc loại nằm lòng của rất nhiều bạn đọc Việt Nam, nhất là phái nữ. Dù phải trải qua chuyến bay dài, tôi cũng dễ dàng bỏ qua sự mệt mỏi để đến dự tang lễ và nhất là đến để đưa tận tay chị Hạnh Tuyền, vợ anh, chiếc cọ vẽ cũ của tôi. Trong một buổi sáng cà phê nào đó ở Little SG, anh đã từng ngỏ ý muốn tôi tặng một cây cọ đã dùng của mình cho bộ sưu tập những cây cọ vẽ cũ của các hoạ sĩ Việt Nam nổi tiếng mà chị cất công sưu tập bấy lâu. Và đó là lúc mà tôi thực hiện lời hứa với bạn mình, chỉ là không ngờ phải thực hiện ngay trước linh cữu bạn. Tầm 11 am, sau khi tìm được chỗ đậu xe, tôi đến nơi đang có rất nhiều người trong trang
Wednesday, October 7, 202012:48 PM(View: 498)
Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế: 1944 khi đi hát rong; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành. 1948, từ chiến trường Bình Trị Thiên chống Pháp, Phạm Duy về hoạt động tại vùng địch hậu Đại Lược và nhiều đêm bí mật về gặp gỡ cán bộ, nghệ sĩ nội thành tại Vỹ Dạ, thời điểm sáng tác bài Về Miền Trung: Ôi quê hương xứ dân gầy, ôi bông lúa, Con sông xưa, thành phố cũ... Ngần ấy chữ thôi là cô đọng tất cả hình ảnh chủ yếu về một vùng đất và một thành phố; không cần đến những “Huế đẹp và thơ”, “áo tím, áo trắng, nón nghiêng…” là những vẽ vời, lâu ngày sáo mòn trở nên phù phiếm. Con sông xưa, thành phố cũ, là đầy đủ, hàm súc và tình nghĩa. Mùa Xuân 1944, Phạm Duy lưu diễn trong gánh Đức Huy Charlot Miều, từ Bắc vào Nam, ghé Huế, hát tại
Saturday, October 3, 20209:27 AM(View: 456)
Nhà văn Nhật Tiến tên thật là Bùi Nhật Tiến, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1936 tại Hà Nội, mất ngày 14 tháng 9, 2020 tại Santa Ana, California Hoa Kỳ. Hưởng thọ 84 tuổi. Với gần 70 năm cầm bút, 15 tuổi có bài đăng báo, 23 tuổi có sách xuất bản, 24 tuổi lãnh giải văn chương toàn quốc năm 1960-1961, ông để lại một gia tài văn chương đồ sộ với gần 100 tác phẩm đủ loại truyện dài, truyện ngắn, kịch bản, biên khảo, bút ký. Sách của ông đã được dịch ra trên 10 thứ tiếng và phát hành tại nhiều quốc gia. Thường thì một người giỏi về văn chương thì không giỏi về khoa học nhưng điều hiếm có ở nhà văn Nhật Tiến là, ông không chỉ sáng tác văn chương mà còn sống bằng nghệ dạy môn khoa học lý hóa rất thành công. Là nhà văn, ông được độc giả yêu thương, mến mộ. Là nhà giáo, ông được học trò và đồng nghiệp nể nang, kính.trọng. Nhà văn thần tượng của tuổi thanh thiếu niên. Lứa tuổi 60, 70 hiện nay của người Nam Việt Nam, trong đó có tôi hầu hết đã lớn lên và hình thành nhân cách của mình cùng với