DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,492,745

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 9)

Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 1587)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 9)
                   Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)


9.
 
Khi hải quân đại tá Lâm Ngươn Tánh được "tông tông" Thiệu móc lon 1 sao, cả Bộ Chỉ Huy Trường như sáng cả lên. Trước tiên là có xe tướng và xe quân cảnh trực hằng ngày bên ngoài văn phòng Chỉ Huy Trưởng. Lúc này, không khí trường đã tương đối bình yên trở lại. Theo chỗ tôi biết, cấp số chức vụ Chỉ Huy Trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị chỉ là đại tá thôi. Nên đại tá Tánh, khi đã được thăng Phó đề đốc (chuẩn tướng) thì coi như chức vụ đã quá đụng trần. Ông chỉ đợi ngày một, ngày hai, sẽ được dời đi khỏi trường, để giữ một chức vụ cao hơn, mới có thể thăng quan tiến chức tiếp. Vì vậy, khi ông đổi đi để giữ một chức vụ khác bên hải quân (không biết chức vụ gì?) thì có ngay đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh về thay thế.

Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhõm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết và bị thương. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành.

Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, thân mật, hòa ái. Tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.

Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh về làm Chỉ Huy Trưởng, tự nhiên không khí sinh hoạt ở trường vui hẳn lên. Lúc này chúng tôi coi như đã đến gần cuối của năm thứ nhất, chúng tôi đã thấm mùi quân trường, và mọi sinh hoạt đã vào nền nếp.

Tất cả SVSQ của Khóa 2 được thành lập, là một Liên Đoàn SVSQ, gồm 2 tiểu đoàn. Chúng tôi có hệ thống tự chỉ huy, có các cấp trưởng đều do anh em SVSQ bầu ra chỉ huy nhau, nhiệm kỳ thường 3 tháng. Cả hai tiểu đoàn có sinh hoạt văn nghệ, thể thao, bóng tròn, bóng chuyền, bóng bàn...

Nhưng tôi vẫn thấy trong hệ thống tự chỉ huy, ví như đơn vị tiểu đoàn, có Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó và SVSQ/CTCT/Tiểu Đoàn. Thật sự, tất cả mọi công tác, đều do Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó điều hành, còn SVSQ/CTCT/Tiểu Đoàn chẳng có chuyện gì làm, gọi là tham mưu CTCT, không có công tác gì cụ thể. Điều đó nói lên rằng, cái Tổ Chức Đơn Vị nó đã như vậy, nên chuyện khi chúng tôi ra trường, không được xử dụng cũng đúng thôi.

Về văn nghệ, Liên Đoàn SVSQ gồm tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2. Cả hai cùng tranh nhau thành lập những chủ đề Văn Nghệ.
 
Tiểu Đoàn 1 có chủ đề Đường Vào Dân Tộc, Lời Nguyền Sát Thát, lấy nhạc phẩm Con Đường Cái Quan của Phạm Duy làm nền. Những SVSQ xuất sắc được nêu ra là, các anh Trần Ngọc Hoàn, Đào Quang Hùng, Đỗ Phú Nên...Và các SVSQ tham gia vào các bộ môn ca tập thể, cá nhân, nhạc cảnh, như các anh Nguyễn Đức Phương, Bùi Ngọc Thạnh giả gái, rất tuyệt, giống y hệt con gái bắc, con gái nam.

Tiểu Đoàn 2 cũng không thua kém, có các SVSQ như Nguyễn Ngọc Mạnh, Nguyễn Ngọc Thuyết, Hoàng Đăng, Lê Quang Huỳnh cũng rất xuất sắc trong các bản hợp ca, đơn ca...

Tuy nhiên, nhận xét khách quan mà nói, Văn Nghệ TĐ 1 nhờ có 3 anh Trần Ngọc Hoàn, Đào Quang Hùng, Đỗ Phú Nên đã từng học từ trường dòng xuất ra, nên các anh đã tổ chức dàn đồng ca, hợp ca, hát bè, rất bài bản.

Như vậy thì sinh hoạt ở đây chủ yếu là Văn Nghệ, Thể Thao. Nhiều lúc tôi tự nhiên có một ước muốn là nếu như còn thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, có đảng Cần Lao Nhân Vị, là chính đảng, ảnh hưởng đến chính trường miền Nam, thì chúng tôi, nếu được gia nhập vào đảng ấy, đứng ra làm Chính Trị Viên cho các đơn vị Đại Đội hay Tiểu Đoàn, thì chắc quân đội sẽ khá hơn, ít có cảnh quân phiệt, mua quan bán chức, tham nhũng, hối lộ như sau này. Sau này Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng có đảng Dân Chủ, nhưng đảng quá yếu, lại lấy giáo chức làm nền tảng, nên mọi chuyện cũng chẳng đi đến đâu. Theo tôi nghĩ và ước mơ, nếu để khoảng gần 1000 sĩ quan chúng tôi ra trường, cầm cương như chính trị viên đơn vị, có quyền ngang hàng (hay hơn) đơn vị trưởng, chắc các ngài tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tư lệnh sư đoàn, không giám khuynh loát quyền hành, làm sứ quân từng vùng, như sau này và đưa miền Nam chiến bại.

Dù sao, những ngày ở quân trường là những ngày vui của cuộc đời Sinh Viên Sĩ Quan chúng tôi.
 
Có một điều nữa là, rất tiếc, một đơn vị như Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, mà không có một tờ báo làm tiếng nói, không có một lý thuyết nào làm đầu đàn, để hướng dẫn phương thức đấu tranh chính trị. Nếu nói chủ nghĩa quốc gia thì chung chung quá. Đối đầu với một chế độ cộng sản độc tài, đảng trị, mà mình không độc tài, thì sẽ thua dài dài là cái chắc.
 
Khi tôi tìm hiểu về báo chí, thì thấy cả nhà trường, khối CTCT không có một tờ báo nào. Hồi mới lên trường, tôi có đọc được một Đặc san có tên là Đường Mới, tập san không có tên tuổi một nhà văn nổi tiếng nào cộng tác. Có một tác giả tên là Trần Lư Nguyên Khanh, có một bài, hình như, đó là một bút ký, ghi chép về những buồn vui quân trường. Sau ngày tìm hiểu ra, thì đây là bút hiệu của anh Trần Ngọc Dưỡng, Khóa 1. Tôi thích bút danh này vì nó lạ.

Nhưng sau này, Trần Lư Nguyên Khanh lại bỏ bút hiệu này, và khi qua Mỹ, anh lấy một bút hiệu khác có vẻ kiếm hiệp là Vương Trùng Dương. Nhiều khi tôi có suy nghĩ, anh có muốn mình như Vương Trùng Dương trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung không?

*

(Vương Trùng Dương là một nhân vật có thật trong lịch sử được Kim Dung tiểu thuyết hóa.

Ông là một đạo sĩ đời nhà Tống. Sinh năm 1113, mất năm 1170 là người sáng lập ra Toàn Chân Giáo, là Bắc Tông của Đạo giáo Trung Quốc.

Vương Trùng Dương tên thật là Vương Trung Phu (trong tiểu thuyết dựa Kim Dung Võ Lâm Ngũ Bá, tên hồi nhỏ của ông là Vương Tiêu Thu), tự là Duẫn Khanh, sinh ra tại Hàm Dương trong một gia đình giàu có. Thuở nhỏ ông chăm chỉ, tinh thông cả văn lẫn võ, lớn lên nhờ vậy mà nổi tiếng gần xa. Khi người Kim xâm lấn, ông tụ họp nhân dân nổi dậy chống lại nhưng không thành công.

Theo truyền thuyết năm 1159, ông được gặp Lã Động Tân và Hán Chung Ly, hai vị tiên trong nhóm tám vị tiên sống ở Bồng Lai tiên đảo của Trung Quốc, được truyền thụ khẩu quyết luyện đan là Toàn Chân. Ý nói bảo toàn tam bảo (toàn tinh, toàn khí, toàn thần) hội tụ trung cung, kim đan thành tựu.

Từ đó ông chuyên tâm nghiên cứu Đạo giáo, đổi tên là Triết, tự là Tri Minh, thành lập ra Toàn Chân giáo. Tôn chỉ của Toàn Chân giáo là cứu giúp chúng sinh nên nhân dân rất kính trọng. Học trò tìm đến ông rất đông, nhưng ông dạy dỗ nghiêm khắc, thường đánh đập để thử thách nên cuối cùng chỉ còn lại bảy người. Đó chính là Toàn Chân Thất Tử.)

(theo tụ hiền trang wiki)


*

Sau này anh Trần Ngọc Dưỡng qua Mỹ, theo diện HO, anh viết nhiều hơn, với những chủ đề về âm nhạc, văn học. Anh viết về tác giả các bài hát lính một thời, hay những nhà văn cùng thời, cùng đi lính, cùng viết văn làm thơ. Anh có in 2 tập Phiếm. Tập Phiếm đầu, có tên là "Ngẫm Chuyện Nhân Sinh". Vương Trùng Dương viết về những hệ lụy của cuộc sống, về thế thái nhân tình. Dù là Phiếm, nhưng văn phong anh nhẹ nhàng, hiền lành, nhỏ nhẹ.

Khóa 1 còn có anh Quách Dược Thanh, cũng là một lý thuyết gia "phê phán chủ nghĩa Maxit" rất hay, đầy lý luận. Sau 30-4-75, anh đi tù ở trại Vườn Đào, Tiền Giang, bị cán bộ quản giáo nhà tù ám hại phải chết. Cái chết anh cũng được nhiều người nhắc đến, như một anh hùng.

Có thêm anh Dương Viết Điền, cũng cũng là một cây viết, bút hiệu là Hạ Ái Khanh, anh viết những hồi ức khi đi tù CS, hay những trận đánh xảy ra trước 75 mà anh tham dự. Anh còn làm thơ nữa. Văn phong anh giản dị, hiền hòa.

*

(Nhà thơ Hạ Ái Khanh tên thật là Dương Viết Điền sinh tại làng Quảng Xá, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Năm 1954 theo cha mẹ di cư vào Nam. Cựu sinh viên Đại Học Luật Khoa Huế. Xuất thân khoá I Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt. Cựu Sĩ quan QLVNCH. Năm 1975, ông bị cộng sản bắt cầm tù trong trại cải tạo 10 năm. Năm 1990, ông sang Mỹ theo diện HO. Hiện định cư tại tiểu bang California, Hoa kỳ.

Từ năm 1990 đến nay, ông đăng thơ, văn liên tục ký tên thật hay dưới bút hiệu Hạ Ái Khanh trong các tạp chí ở hải ngoại như: Viễn Xứ, Saigon Times, Saigon Nhỏ, Chiến Sĩ Quốc Gia, Vietnam Press, Sức Sống, Văn Học Nghệ Thuật, Quán Gió, Đại Chúng, Thời Luận, Thằng Mõ...

Tác phẩm đã xuất bản :

- Trại Ái Tử Và Bình Điền (Hồi Ký Cải Tạo, 1993)
- Ngậm Ngùi (Thơ, 1996)
- Mấy Tình Khúc Cho Đời (Nhạc, 1997)
- Speechless (Thơ Anh Ngữ, 2000)
- Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân (2003)

(theo tvvn.org)


Cũng có những anh Khóa 1, viết văn, viết báo nữa, nhưng theo tôi không để lại tiếng tăm dài lâu, vì các anh không lý luận mà chỉ hay bươi móc chữi rủa những điều không hợp với mình. Những điều đó đã làm giảm giá trị bài báo và người viết.

*

Trong thời gian tôi thụ huấn SVSQ, có một chuyện tranh cải về bút hiệu văn học xảy ra. Đó là thời kỳ nhạc sĩ Anh Việt đứng ra thành lập tuần báo Khởi Hành, coi như là tiếng nói của anh em Văn Nghệ Sĩ quân đội. Tuần báo Khởi Hành được đưa đến tận từng giường ngủ SVSQ để quảng bá và kêu gọi SVSQ mua ủng hộ. 1 hay 2 số báo đầu phát không, nếu thích, thì SVSQ có thể ghi danh mua. Tôi cũng thích Khởi Hành và có viết bài cộng tác với tuần báo Khởi Hành trong thời gian sau này.

Tờ Khởi Hành do nhạc sĩ Anh Việt (tức đại tá Trần Văn Trọng) làm chủ nhiệm, nhà văn Viên Linh làm Tổng Thơ Ký.

Trong một số báo Khởi Hành khoảng thời gian giữa năm 1970, có đăng một bức thư của anh Phạm Tấn Tài, SVSQ Khóa 2, nói mình chính là tác giả Phạm Nhã Uyên, trong lúc đó, như nhiều người biết, Phạm Nhã Uyên chính là bút danh của anh Phạm Tuế. Sự việc gây ra tranh cải nhau vì một cái tên (bút hiệu) thôi. Sau 2, 3 số báo, Khởi Hành đều đăng bài xác quyết của 2 anh Phạm Tấn Tài và Phạm Tuế. Cuối cùng thì sự việc chẳng đi đến đâu. Sau đó Tuần báo Khởi Hành xin khép lại chuyện này. Nhưng trong anh em SVSQ vẫn còn râm rang bàn tán câu chuyện. Tôi đã đọc thơ của 2 anh Phạm Tấn Tài và Phạm Tuế, hai anh cùng  đều xưng mình là Phạm Nhã Uyên.

Hai anh đều có những bài thơ hay.


Khi sắp mản khóa, anh Phạm Tấn Tài đã đóng góp cùng chúng tôi, 12 anh em cùng khóa, in tập thơ Lời Ru Tình. Tập thơ ra đời rất vất vã, vì tôi chưa biết chuyện in ấn, di chuyển thế nào. Chỉ là tôi có quen biết với một nhà in ở Đà Nẵng, nên tôi liên lạc và kêu gọi 12 anh em "nhà thơ" Khóa 2, cùng đóng mỗi người khoảng 1000$, để cùng in thơ (hứng chí của tuổi trẻ ấy mà). Anh em ai cũng đồng ý, cho nên nhân dịp những ngày cuối năm 1970, tôi về phép Đà Nẵng, đã nhờ nhà in ấn hành.

Thật là một hoàn cảnh vô cùng bi đát cho tôi, vì trong dịp đó, tôi bị một cái tang đau đớn là mất cha. Cha tôi đã mất. Trong mấy tuần đầu ông rất khỏe mạnh, không ngờ mấy tuần sau, cha tôi đổ bịnh và mất. Vì bị tang cha, lại sợ trễ phép lên trường bị phạt, lại tết gần đến, mà phải nhận khoảng 500 cuốn thơ Lời Ru Tình đem lên cho anh em. Tôi tự khuân, vát, xách, đem lên máy bay quân sự. Ơi! thật khổ tứ bề.

Nhưng mọi chuyện cũng qua, coi như một kỷ niệm êm đềm vui vẻ với anh em.

Các bạn cùng tôi góp mặt trong tập thơ này, tôi còn nhớ như Đào Trung Chính, có bài thơ "Sáng thức dậy thọc tay vào túi, chợt thấy mình có sáu ngón tay", ai đọc cũng cười vui.

Các anh nay đã mất: Phạm Tấn Tài, Lam Điền Nguyên Thử (Nguyễn Hữu Thử), Lê Đại Tấn, Lê Văn Chua (Lê Vĩnh Nghiêm).

Còn lại Đinh Trường, Trần Thế Nghiệp (Trần Thanh Ngọc), Lê Trọng Dũng, Đào Trung Chính và tôi.
Và một số anh khác tôi không còn nhớ tên.

Khi ra trường, tụi mỗi người một nơi. Đông nhất là về các đơn vị bộ binh hay địa phương quân, giữ chức vụ đại đội phó CTCT. Tôi đã "lội" khắp các địa danh Quảng Ngãi, Quảng Tín như Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, Việt An, Thường Đức, Hiệp Đức. Nên khi hay tin các bạn mình mất, thời gian qua đã quá lâu rồi.

Đến bây giờ, hỏi lại, chẳng ai còn giữ tập thơ Lời Ru Tình. Các anh có đề nghị tôi in lại, nhưng không ai còn giữ bản chính, thì biết lấy gì mà in đây. Coi như thất lạc hết.

Đúng là thất tán.
 
 
 
                                                                       Trần Yên Hòa
                                                                               (còn tiếp)


                                *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, May 9, 20217:22 AM(View: 21)
Từ nghìn xưa cho đến nay – trên quê hương chúng ta – hình ảnh người mẹ là hình bóng thiêng liêng, cao quý nhất… không hết lời ngưỡng mộ trong dòng văn học nghệ thuật. Mẹ từ khi “mang nặng đẻ đau”, cưu mang, nuôi nấng, dạy dỗ khi con chào đời cho đến khi trưởng thành, xa cách và khi về già. Nói đến mẹ là nói đến trái tim nhân bản, hy sinh và thương yêu vô bờ bến cả cuộc đời cho con đến khi nhắm mắt. Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại. Trước năm 1975, ở miền Nam VN không có Ngày Hiền Mẫu, Ngày Của Mẹ… để nhắc đến, để vinh danh, để nhớ vì với người con, hình bóng đó gắn liền với ngày tháng cuộc đời. Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ. Gởi đến mọi người những ca khúc tiêu biểu. Và, thân tặng với những ai không còn mẹ
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 73)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 185)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con
Sunday, April 25, 20218:02 AM(View: 290)
Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước
Tuesday, April 20, 202112:01 PM(View: 292)
Không một quan hệ thân xác nào chỉ hoàn toàn là thân xác. Trong khi bạn giao tiếp tình dục với người khác, sờ mó, hôn, làm tình, không chỉ hai cơ thể có dịp cọ xát với nhau mà còn có những tiếp xúc đụng chạm khác nữa: xúc cảm, sự đau đớn, sự hòa tan, hạnh phúc, sự tưởng tượng, những mối quan hệ trở nên bền chặt hơn hoặc trở nên rạn vỡ hơn. Truyền thống của người Việt Nam, cũng như của nhiều tôn giáo, đối lập đời sống nhục cảm và đời sống tinh thần, một bên thấp hèn, một bên cao quý. Trẻ em từ khi sinh ra đến trước tuổi trưởng thành rất dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với tình dục, chẳng thế mà Nguyễn Viện đã ghi rõ dưới nhan đề bài thơ của anh “không dành cho trẻ em dưới 18 tuổi”. Các nhà nghiên cứu nhân chủng học không ngớt ngạc nhiên phát hiện rằng đời sống của nhân loại đầy rẫy các yếu tố dục tính, tổ tiên chúng ta không hề ngượng ngùng khi đề cập đến sex trong văn hóa và nghệ thuật. Rõ ràng có một mối liên hệ mật thiết giữa tình dục và các huyền thoại và tôn giáo và những phẩm chất