DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,418,584

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 10)

Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 1699)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 10)
                 Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)



10.

 
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay sau các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường, chúng tôi được tập họp, sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách).

Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em "huấn nhục viên" cùng nghe. Có khi đi đến những điều riêng tư quá đà, khiến người nhận thư phải cắn răng trả lời, cố "cười ra nước mắt".

Nhưng huấn nhục là vậy. Khi nào được tha mới thôi. Rồi những trò ăn uống, bắt các "huấn nhục viên" phải cầm đũa vuông góc, ăn nhanh, ăn mấy giây phải hết chén cơm...Thôi thì đủ trò. Dù những ngày huấn nhục đã qua, nhưng dư hương vẫn còn đó. Bây giờ chúng tôi vào phòng ăn không còn bị phạt nữa, nhưng trước khi ăn phải nghe đọc thực đơn. Thực đơn chả có gì ngoài cơm gạo đỏ, cá hay thịt và canh. Cuối thực đơn có chuối bala và nước trà. Nhưng khi người SVSQ trực phạn xá hô: Mời các SVSQ ăn ngon. Chúng tôi hô lại: Ăn ngon. Thì mới được phép ngồi xuống để ăn.

Khoảng đầu tháng 5/1969, Khóa 1 tổ chức lễ ra trường. Lễ Ra Trường được tổ chức ở trước sân cờ Bộ Chỉ Huy. Anh em SVSQ Khóa 1 bận bộ đại lễ quỳ xuống trước các sĩ quan cán bộ, nhận lon thiếu úy, sau khi tiếng hô của một sĩ quan quân lễ ra lệnh:

- Quỳ xuống các sinh viên sĩ quan.

Các SVSQ Khóa 1 đồng loạt quỳ xuống.

Các sĩ quan cán bộ trong đó có một số sĩ quan ở các phòng, ban trên Bộ Chỉ Huy, nếu không đủ, thì một sĩ quan cán bộ gắn lon cho nhiều người. Sau khi gắn lon xong, vị sĩ quan quân lễ hô to:

- Đứng dậy các tân sĩ quan.

Tất cả đồng loạt đứng dậy. Thế là các anh đã trở thành một tân thiếu úy, thực thụ, hiện dịch.

Tôi không còn nhớ Lễ Ra Trường Khóa 1 có Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tham dự, chủ tọa hay không? Nhưng (hình như) có trung tướng Trần Văn Trung Tổng Cục Trưởng Tổng Cục CTCT. Và (cũng hình như) có đại tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng chủ tọa nữa.

Buổi sáng Lễ Ra Trường Khóa 1 diễn ra khá long trọng. Sau đó là đêm liên hoan văn nghệ tại Đại Giảng Đường, có mời thân nhân các anh Khóa 1 đến tham dự. Tôi không còn nhớ rõ là anh em SVSQ Khóa 2 có được dự "ké" không? Nay tôi không còn chút trí nhớ nào về ngày ra trường của anh em SVSQ Khóa 1. Chỉ nhớ mơ hồ vậy thôi.

Tổng số tân sĩ quan tốt nghiệp Khóa 1 là 168.

Theo tin đồn râm rang trong anh em, thủ khoa  Khóa 1 là anh Huỳnh Bé Em. Anh Em đã chọn đơn vị cho mình đơn vị là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị. Như đã biết, Tiểu Đoàn 50 CTCT là đơn vị CTCT, hoạt động yểm trợ công tác CTCT cho các đơn vị thuộc Biệt khu Thủ Đô Sài Gòn và Quân Khu 3. Bộ Chỉ Huy TĐ 50 CTCT đóng ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần Sở Thú, Sài Gòn. Cho nên Niên trưởng Huỳnh Bé Em đã nhìn xa trông rộng, là chọn đơn vị đúng ngành Chiến Tranh Chính Trị, rất an toàn và không bị ai chê cười cả.
Dĩ nhiên cũng có những cái nhìn khác, là Thủ Khoa một trường mang danh là Đại Học CTCT mà khi ra trường chọn một nơi an lành để yên thân, làm "mất mặt bầu cua" danh tiếng của trường. Đây chỉ là những tiếng nói, hay ý nghĩ thầm lặng thôi.

(Trong lúc đó, các thủ khoa của Trường Võ Bị Đà Lạt ra trường thường chọn các đơn vị sừng sỏ như Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân là những đơn vị tác chiến. Nhưng các vị thủ khoa này về đơn vị thường bị tử thương trong những ngày đầu. Nên ai cũng ngán).

Với 168 SVSQ/Khóa 1, với một số nhỏ không biết bao nhiêu, các tân sĩ quan được về các đơn vị Chiến Tranh Chính Trị, còn thì bị tung ra tác chiến, làm đại đội phó CTCT. Lúc này, được "trên" truyền xuống, đây là "những hòn đá lót đường" cho các đàn em sau này, và cho ngành CTCT nữa. Thật ra, như tôi đã nói là "cơ chế". Nó đã ăn sâu trong việc tổ chức một đơn vị, chỉ có cấp trưởng mới là người chỉ huy duy nhất trong đơn vị, thì dù là đại đội phó CTCT, cũng chỉ "mang ba lô đi theo đại đội trưởng để có dịp đạp mìn thay cho đại đội trưởng mà thôi".

Những ngày đầu Khóa 1 ra trường, chúng tôi có cảm giác buồn buồn, vì sự sinh hoạt vắng đi một số người. Nhưng dần dà, thời gian qua, cũng quen đi, và chúng tôi tự nhiên thấy thoải mái, vì sinh hoạt được tự do hơn, khỏi đi ra một bước, gặp niên trưởng là chào tay mệt nghỉ. Bây giờ thì bình đẳng, vì cùng một Khóa, nên cứ mày, tau, mi, tớ...lia chia.

Mỗi trưa, mỗi chiều chúng tôi vẫn sắp hàng đến Phạn Xá ăn cơm.

Khoảng 1 hay (2) tháng sau, một buổi chiều, chúng tôi nghe tin niên trưởng Lê Minh Châu Khóa 1, mới ra trường đã bị tử thương trong chiến trận. Trong bữa ăn hôm đó, ai cũng buồn khi vị sĩ quan cán bộ, thay mặt Bộ Chỉ Huy nhà trường thông báo Tin Buồn trên. Chúng tôi đứng lặng người trong 3 phút để truy điệu.

Niên trưởng Khóa 1 Lê Minh Châu đã từng làm tiểu đoàn trưởng huấn nhục chúng tôi. Anh người tầm thước, bận cặp đồ kaki vàng, phu la xanh, bê rê xanh đậm, giày map bóng loáng, thường đứng trên sân tiểu đoàn quan sát chúng tôi tập họp, so hàng, điểm danh, báo cáo. Anh ăn nói chững chạc, nghiêm túc. Phê bình chúng tôi những điểm chúng tôi còn lề mề, đi đứng chưa thẳng hàng. Anh chưa bao giờ phạt chúng tôi quá đáng và có những lời nói quá lố. Tôi rất mến phục niên trưởng Châu và rất thích anh. Sau huấn nhục, anh vẫn đi sát chúng tôi để chỉ bảo những điều chúng tôi chưa hoàn chỉnh. Không ngờ anh đã là người đầu tiên "nằm xuống" ở chiến trường. Tôi thấy thương anh và lo cho thân phận mình.

Rồi cứ tiếp tục, một hai tuần sau, cứ mỗi buổi chiều tập họp sắp hàng đi ăn cơm ở Phạn Xá, là chúng tôi (lại) nghe tin một niên trưởng tử trận. Chúng tôi lại có ba phút tưởng niệm trước bữa ăn. Chúng tôi biết thêm theo lời nói của sĩ quan cán bộ, là Khóa 1 coi như là khóa đàn anh lót đường cho các khóa đàn em sau này vững bước tiến lên. Nên sự "nằm xuống" của các anh là những viên đá lót đường chăng? Chúng tôi đâu có mong sự lót đường như vậy!

Nhưng nói gì thì nói, sự hy sinh đó là những hy sinh quá lớn. Thà như các SVSQ xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia ra trường (hay ít ra như trường Thủ Đức, Đồng Đế), khi ra đơn vị bộ binh, thì được đề bạt ngay làm cấp trưởng, như trung đội trưởng, đại đội trưởng. Còn số phận chúng tôi, ra trường chỉ được làm cấp phó, không cầm quân chỉ huy được, thì chuyện bị tử thương như NT1 Lê Minh Châu hay các niên trưởng tiếp theo sau đó, là một điều bất công và buồn đau. Điều chúng tôi  đau buồn là không cầm quân chỉ huy được, nếu muốn làm cấp trưởng, phải làm đơn xin xuất ngành, sau khi được Bộ Tổng Tham Mưu quyết định chấp thuận thì chúng tôi mới được cầm quân (chỉ huy).

Tôi biết Khóa 1 ra trường, có một số anh em rất ít về đơn vị CTCT. Còn thì tất cả về các sư đòan bộ binh. Mỗi sư đoàn 13 người. Như sư đoàn 2 bộ binh, 13 anh em về làm Đại đội Phó/CTCT tại các đại đội lẻ tác chiến thử nghiệm. Thời gian đầu, anh em Khóa 1 chỉ về trung đoàn 4 Bộ Binh. Nên anh Lý Công Văn sau hơn 2 năm "lội" rạc rài ở đơn vị tác chiến, đã tuyên bố một câu để đời:

- Đại đội Phó CTCT là người chỉ mang ba lô đi theo đại đội trưởng và chờ đạp mìn thế cho Đại Đội trưởng.

Cho nên chính tôi, trong những buổi chiều, đi học hay đi về từ các bãi tập, sắp hàng đi ăn ở Phạn xá, tôi vẫn cảm thấy lạnh lạnh người, khi nghĩ không biết hôm nay có niên trưởng nào được lên dàn giáo "3 phút tưởng niệm" không? Nếu không có, thật là có nhiều tiếng thở phào nhẹ nhõm từ anh em Khóa 2 chúng tôi.

Chúng tôi thương cho thân phận những niên trưởng Khóa 1 hay thương cho chính thân phận chính mình!

Các niên trưởng Khóa 1 đổi về trung đoàn 4 bộ binh, có niên trưởng Huỳnh Bửu Hoa cũng rất xuất sắc trong chỉ huy. Anh Huỳnh Bửu Hoa không biết có xin xuất ngành CTCT hay không, nhưng anh đã tình nguyện nhận lãnh chức vụ đại đội trưởng đại đội lẻ, chỉ huy xuất sắc đại đội ở trung đoàn 4 bộ binh. Và đến những ngày trước 30-4-75, anh Huỳnh Bửu Hoa đã lên làm tiểu đoàn phó tác chiến một tiểu đoàn, tại đơn vi này.

Còn những niên trưởng Khóa 1 khác, ra tác chiến ở những đơn vị khác, có lên làm cấp trưởng chỉ huy đơn vị hay không, tôi không biết thêm có ai.

 Đọc trên trang Web: 

https://linhvnch.wordpress.com/truong-dhctct/

Khóa 1 sau gần 6 năm ra trường, tính đến ngày 30-4-1975, đã có 40 sĩ quan tử trận. Đó cũng là một đau buồn chung cho toàn quân đội. 40 sĩ quan trên tổng số sĩ quan tốt nghiệp là 168 người, gần 1/4 sĩ số. Cũng là một sự hy sinh quá lớn.

 
 
blank                                                  Hình kỷ niêm khi mới vào trại nguyễn tri phương, cùng anh em Khóa 2 CTCT Vùng 1 (từ: Fb trần ngọc)

blank                            Hình 4 anh em K2 làm bích báo tiểu đoàn 2 SVSQ. (nguyễn ngọc mạnh, trần thanh ngọc, thái phát tài, trần yên hòa) (từ: Fb trần ngọc)

 
                                                                        Trần Yên Hòa
                                                                                (còn tiếp)

                                 *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, October 18, 20204:22 PM(View: 394)
Tôi chỉ là một công dân hạng hai cầm bút chứ không phải là nhà văn. Lại càng không phải là nhà văn có thương hiệu cho dù là cấp xã hay cấp nhà nước. Tôi viết trước hết cho các con tôi vì chúng rất mù mờ không hiểu cha ông chúng đã sống và đã chết như thế nào trong suốt hơn nửa thế kỷ dông bão vừa qua. Tôi có người bạn bảo bây giờ viết như Kinh Kha buồn. Nghĩa là biết chẳng tới đâu mà vẫn phải cầm lấy bút như cây chủy thủ. Tôi nghĩ còn hơn Kinh Kha buồn vì sông Dịch bây giờ chẳng những lạnh mà hoang vắng đến rợn người. Chẳng có một tân khách nào dám tiễn đưa. Cái đất Tần ấy lúc này đang ngút trời gươm đao bất trắc. Từ lúc nạn đói năm Ất Dậu đến nay có bao nhiêu triệu công dân hạng hai Việt Nam đã chết? Hai triệu? Năm triệu? Hay mười triệu? Chết vì đói, vì thủ tiêu, vì đấu tố, vì tố cộng, vì Mậu Thân, vì cải tạo, vì vượt biên… Cho dù ở bên nào họ cũng chỉ là những nông dân nghèo, cả đời khát khao mảnh vườn thửa ruộng. Chính vì vậy mà họ bị lừa phỉnh, bị lợi dụng, bị sai khiến.
Wednesday, October 14, 20208:35 AM(View: 392)
Cách đây hơn bốn mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy H. B. N. bình bài “Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa biết gì về nạn mại dâm. Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx-Lenin, thầy khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa
Sunday, October 11, 20203:27 PM(View: 389)
Vậy mà Lê mất đã một năm... Giờ này năm trước, tôi đang ở Việt Nam có chút việc, và cứ tưởng mình sẽ không đến dự kịp lễ tang của anh tại nhà quàn Peak Family. Nhưng may thay, cuối cùng công việc lại êm xuôi và tôi trở về Bolsa kịp đúng vào buổi sáng ngày di quan linh cữu của anh - nhà thơ của hằng ngàn bài thơ tình trong số đó có nhiều bài thuộc loại nằm lòng của rất nhiều bạn đọc Việt Nam, nhất là phái nữ. Dù phải trải qua chuyến bay dài, tôi cũng dễ dàng bỏ qua sự mệt mỏi để đến dự tang lễ và nhất là đến để đưa tận tay chị Hạnh Tuyền, vợ anh, chiếc cọ vẽ cũ của tôi. Trong một buổi sáng cà phê nào đó ở Little SG, anh đã từng ngỏ ý muốn tôi tặng một cây cọ đã dùng của mình cho bộ sưu tập những cây cọ vẽ cũ của các hoạ sĩ Việt Nam nổi tiếng mà chị cất công sưu tập bấy lâu. Và đó là lúc mà tôi thực hiện lời hứa với bạn mình, chỉ là không ngờ phải thực hiện ngay trước linh cữu bạn. Tầm 11 am, sau khi tìm được chỗ đậu xe, tôi đến nơi đang có rất nhiều người trong trang
Wednesday, October 7, 202012:48 PM(View: 511)
Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế: 1944 khi đi hát rong; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành. 1948, từ chiến trường Bình Trị Thiên chống Pháp, Phạm Duy về hoạt động tại vùng địch hậu Đại Lược và nhiều đêm bí mật về gặp gỡ cán bộ, nghệ sĩ nội thành tại Vỹ Dạ, thời điểm sáng tác bài Về Miền Trung: Ôi quê hương xứ dân gầy, ôi bông lúa, Con sông xưa, thành phố cũ... Ngần ấy chữ thôi là cô đọng tất cả hình ảnh chủ yếu về một vùng đất và một thành phố; không cần đến những “Huế đẹp và thơ”, “áo tím, áo trắng, nón nghiêng…” là những vẽ vời, lâu ngày sáo mòn trở nên phù phiếm. Con sông xưa, thành phố cũ, là đầy đủ, hàm súc và tình nghĩa. Mùa Xuân 1944, Phạm Duy lưu diễn trong gánh Đức Huy Charlot Miều, từ Bắc vào Nam, ghé Huế, hát tại
Saturday, October 3, 20209:27 AM(View: 461)
Nhà văn Nhật Tiến tên thật là Bùi Nhật Tiến, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1936 tại Hà Nội, mất ngày 14 tháng 9, 2020 tại Santa Ana, California Hoa Kỳ. Hưởng thọ 84 tuổi. Với gần 70 năm cầm bút, 15 tuổi có bài đăng báo, 23 tuổi có sách xuất bản, 24 tuổi lãnh giải văn chương toàn quốc năm 1960-1961, ông để lại một gia tài văn chương đồ sộ với gần 100 tác phẩm đủ loại truyện dài, truyện ngắn, kịch bản, biên khảo, bút ký. Sách của ông đã được dịch ra trên 10 thứ tiếng và phát hành tại nhiều quốc gia. Thường thì một người giỏi về văn chương thì không giỏi về khoa học nhưng điều hiếm có ở nhà văn Nhật Tiến là, ông không chỉ sáng tác văn chương mà còn sống bằng nghệ dạy môn khoa học lý hóa rất thành công. Là nhà văn, ông được độc giả yêu thương, mến mộ. Là nhà giáo, ông được học trò và đồng nghiệp nể nang, kính.trọng. Nhà văn thần tượng của tuổi thanh thiếu niên. Lứa tuổi 60, 70 hiện nay của người Nam Việt Nam, trong đó có tôi hầu hết đã lớn lên và hình thành nhân cách của mình cùng với