DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,418,138

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 11)

Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 730)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 11)
                  Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)




11


Để tiếp tục cho Hồi Ức Tháng Ngày "lính lác", tôi xin đăng lại một bài viết (cũng là hồi ức) viết cách đây trên 20 năm. Với những kỷ niệm vui buồn một thời "đời lính quân trường".


KHÓA 2 THƯƠNG NHỚ



Thân tặng các bạn: Trần Thanh Ngọc, Nguyễn Thế Hiếu, Trần Thanh Kiều Diệp, Nguyễn Đình Hoành, Lê Quang Huỳnh, Nguyễn Nhự, Bùi Minh Triết, Trương Hội, Lữ Châu...những bạn cùng Khóa, cùng quê.


......

Cuối năm 68, khoảng tháng 10, trời miền Trung tháng đó mưa dầm dề, có bão và lụt nữa, tôi đang ở nhà cha mẹ tôi ở Tam kỳ thì Kim Yên từ Đà Nẵng về, đến nhà tôi báo tin, ''Anh đậu CTCT rồi, ra Đà Nẵng trình diện gấp''. Thế là tôi lo chuẩn bị khăn gói lên đường. Ngày hôm sau, tôi và Yên chạy trên chiếc Suzuki của tôi ra Đà Nẵng, trời mưa lụt dữ dội, xe chạy qua Hương An, Bà Rén, Cầu Đỏ, những nơi nước băng qua Quốc lộ 1, tôi phải xuống xe dắt bộ. Tội nghiệp Yên, trời rét cóng, thân học trò yếu ớt mà phải lội bộ qua những chỗ nước xoáy làm cô bé suýt ngã nhào. Xe tôi bị nước vô máy phải chùi bugi mấy lần, thật hú vía, thuở ban đầu vào lính đã thấy khổ rồi. Tôi ra đến Đà Nẵng, vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I Khối Chiến Tranh Chính Trị trình diện, may cũng còn kịp, người sĩ quan coi hồ sơ và nói ''Có một toán trình diện trước đi rồi, anh sang Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập ngũ với đợt sau'' Thế là tôi được chuyển qua Trung Tâm 1/TMNN.

Lần đầu tiên được phát bộ quần áo lính, thật sự tôi buồn bã quá, thế là tôi bắt đầu cuộc đời quân ngũ rồi, từ giã cha mẹ già, từ giã người tình yêu dấu, từ giã những đứa học trò thân thương ở trường quận lỵ, lòng tôi cũng bùi ngùi lắm. Câu hát ''Người ơi quan hà xin cạn chén ly bôi '' không quyến rũ tôi được nữa.

Vào TT1/TMNN, cùng đi CTCT với tôi có mấy tên như Bích khều, Trương Hội, Lữ Châu, Lê Quang Huỳnh, Trần Thanh Ngọc... Bích khều hay đánh lộn và hù dọa, nhưng tôi ''câm miệng hến, tránh voi chẳng xấu mặt nào”, tôi không thích đánh lộn, tôi đang nghĩ đến ''em của tôi'' và buồn bã. Ở đây một thời gian, đợt 2 được lên máy bay quân sự chuyển vào Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, trại tiếp chuyển Nguyễn Tri Phương. Đợt 1 đã được huấn luyện bên Liên Đoàn Khóa sinh, còn tụi tôi chưa có khoá nên nằm chờ, tháng ngày nằm chờ ở trại Nguyễn Tri Phương thật ''rầu hết biết''. Ở đây cứ đi ra đi vào suốt ngày, may thay sau đó tụi tôi được về phép thăm gia đình gần nửa tháng, hết phèp mới vào nhập khóa.

Đi lính là gian nan vất vả, mà là lính hiện dịch CTCT nữa, nên càng được chọn lọc kỹ càng hơn, có danh sách thi đậu rồi mà trước khi nhập khóa còn phải thi ''oral'' nữa chứ, các thầy trong Bộ Chỉ Huy Trường ĐH/CTCT kêu tên từng người lên để đo chiều cao, phải trên 1,6 m mới đủ tiêu chuẩn và phải nói về một đề tài cho sẳn (bốc thăm). Tôi may mắn qua trót lọt, có những bạn không đủ thước tấc hay ăn nói lắp bắp bị đánh rớt buồn xịu mặt, chỉ còn con đường qua Thủ Đức thôi.

 Dân CTCT tụi tôi được vào chung một Đại Đội, Đại Đội 94, Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ do Trung uý Trần Thế Phong chỉ huy. Các Trung Đội Trưởng là Thiếu uý Thịnh, Chuẩn uý Cường cũng ''hách ra phết'' . Đời quân ngũ bắt đầu từ đây với bài hát ''Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ sống mạnh sống hùng'', bắt đầu biết hít đất, biết chà láng các giao thông hào bằng ga-men inox, biết thế bắn nằm thủ thế, biết bồng súng chào. Buổi sáng khi tiếng còi báo thức vang lên thì tụi tôi phải tức tốc nhãy xuống giường ngủ, vệ sinh qua quít rồi ôm ga-men ra chà láng mấy giao thông hào, tôi nghĩ, ''quân đội tập chi những điều lạ lùng'', nhưng sau nầy mới thấy có lý, là người lính cần phải học đủ những điều nhanh lẹ nhất. Tôi nhớ ở Quang Trung, mỗi lần đi bãi về, buổi trưa đại đội đang đi một hai ba bốn, tay bồng súng chào ngon lành, sắp về tới doanh trại nghỉ ngơi mà nhìn thấy Thiếu Tá Trần Văn Hiến, Tiểu Đoàn Trưởng, ra đứng nhìn với cặp kính đen ''ngầu không thể tả'' là tụi tôi ít nhất cũng phải đi vòng sân Tiểu Đoàn 5 lần, mệt ''bá thở'' thôi.

 Sau 9 tuần huấn luyện tân binh, đã thấm mùi lính là thế nào rồi, tụi tôi được Trung uý Nguyễn Tâm Miên dẫn độ về Đà Lạt. Những ngày ở Quang Trung đã để lại trong lòng tôi bao nhiêu là kỷ niệm như thứ bảy, chủ nhật, nếu được phép thì về Sài Gòn chơi, nếu không có phép thì được đón gia đình lên thăm ở Vườn Tao Ngộ. Tôi thì ở xa nhà nên thường hay đi theo Trần Thanh Ngọc về nhà người em vợ của Ngọc ở đường Nguyễn Cảnh Chân, ăn uống vui chơi rồi về lại trại, sau khi ghé thăm ''khu tiếp huyết'' chút xíu . Ở TTHL/QT có những hàng bã đậu lá rơi đầy đường đi, đầy giao thông hào, những buổi trưa nằm nghe tiếng trái bã đậu rơi rắc rắc lòng tôi buồn và nhớ nhà không sao kể xiết, nhớ cha mẹ và người em thơ dại, ''cô bé học trò áo trắng tóc đen, ngó vào hàng rào kẽm gai bằng đôi mắt nai ngơ ngác, từ khu rừng chim khuyên'' (thơ TYH).

 Chuyến máy bay quân sự chở chúng tôi từ phi trường Tân Sơn Nhất về Đà Lạt do Trung uý Miên hướng dẫn đã đưa tôi về một cuôc sống mới, cuộc sống của SVSQ / CTCT / Đà Lạt .

Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt, ''sac marin'' nặng trỉu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi.

Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá tôi phải ''giả chết'' nằm im, mặc kệ những tiếng hô ''man rợ'', nằm nghỉ cái đã. Tôi nằm thiếp đi, ba lô trên vai lật nghiêng, xắc ma-ranh văng ra xa, những tiếng hô ''chạy đi, đứng dậy chạy lên'', đâu đó văng vẳng bên tai, rồi những thùng nước lạnh được tạt vào mặt, vào người. Nước lạnh làm người tôi tỉnh lại, ''chạy lên, đứng dậy chạy lên'', tôi lê thê lếch chạy.

 ''Huấn nhục, huấn nhục'', đó là một kỷ niệm, một chặng đường mà suốt đời quân ngũ ta không bao giờ quên được. Từ những bữa cơm trong phạn xá với những trò, ngồi ăn thế vuông góc, đọc thư người tình, hít đất vào thế hàng trăm cái, hít trật thế bắt đầu đếm lại, phạt dã chiến, nửa đêm ba lô súng đạn đầy đủ cấp số trình diện Niên Trưởng để được ''quần suốt đêm''. Thôi đủ mọi trò thở không ra hơi và cái gì cũng gật, những ngày đó như một ''vết hằn năm tháng'' mà vết hằn thật hào hùng, để cho ta được trưởng thành, để cho ta ngẫn mặt, để không một cái gì ta không vượt qua được, ba tháng huấn nhục dài như hàng thế kỷ cuối cùng rồi cũng qua đi.
 
Khoá 2A, 2B - TIỂU ĐOÀN 2, TIỂU ĐOÀN 2

Khi còn đang bị huấn nhục tả tơi, nhìn ''đám lên trước'' đã gắn Alfa, quần áo thẳng nếp, phu-la xanh, bê-rê xanh đậm đội lệch, đi từng hàng rập ràng, tay ôm ''sơ-mi'' đều bước đến Đại Giảng Đường trong Mùa Văn Hoá, tôi cũng thấy phấn khởi lắm, tự nhủ rằng ''rồi mình cũng như vậy thôi''. Nhưng những lúc tụi nó đi ngang, chỉa miệng sang nói lén ''Chào huynh trưởng đi chứ, tụi bay là khóa đàn em mà, khoá 2B'' tôi nghe cũng nghe giận cành hông nhưng đang bị huấn nhục thôi đành chịu. Tôi nghĩ ''Khóa 2 là khoá 2, không A không B gì ráo trọi, mới hơn mấy tháng mà đã lên mặt, huynh trưởng gì, chỉ có dân trừ bị Thủ Đức mời gọi nhau là huynh trưởng, chứ dân Hiện Dịch chỉ có Niên Trưởng ''. Nhưng nghĩ lại cũng thương tụi nó, những lúc có dịp ''quan hệ bất hợp pháp'', tụi nó cũng chỉ vẻ những đường đi nước bước để khỏi bị ''dợt '' nhiều .

 Đến Đêm Gắn Alfa, thật là một đêm huyền nhiệm của đờI ta. Ai đã sống qua những giây phút thiêng liêng đó mới cảm hết những rung động của quả tim mình. Đêm Alfa làm ta lớn lên, làm ta chất ngất tình cảm với quê hương đất nước. Đêm Alfa huyền hoặc như đưa ta vào một thế giớI thần kỳ của những Thiên Anh Hùng ca, mà ta sẽ là những hiệp sĩ ra đi trừ gian diệt bạo, như âm vang khúc quân hành : ''Nào bao hùng binh tiến lên, bờ cỏi, vang lừng câu quyết chiến...''.
 
 Năm đầu tiên tôi ở trung đội 9, Đại Đội A do Trung úy Nguyễn Tâm Miên làm Đại Đội trưởng, trung đội tôi có những tên như Vỏ Văn Hiên (điên) Nguyễn Ngọc Hải (nhạc) Chiêm Sơn Hải, Lê Văn Ninh (gồ ghề) Trần Thanh Ngọc, Lê Đình Cường, Nguyễn Bửu... Bộ Chỉ Huy nhà trường đã chia ra làm 2 Tiểu đoàn 1 và 2, không khoá 2A, 2B gì cả. Bắt đầu từ đây, 2 tiểu đoàn SVSQ sống, luyện tập quân sự cũng như văn hoá và CTCT, thi đua đủ các bộ môn như văn nghệ, thể thao, vỏ thuật...

 Thật là ''trời cao có mắt'', ở đâu cũng có anh hùng, nên ở Tiểu Đoàn 1 có một Trần Ngọc Hoàn ''sư tử già'' lẫm liệt oai phong trong những bài viết chủ đề, một Đào Quang Hùng, tay nhạc trưởng xuất thân từ trường dòng, chỉ huy Ban Hợp Xướng rất xuất sắc, một Nguyễn Quang Huy giả cô gái Bắc kỳ chít khăn mỏ quạ, bận áo tứ thân, trong những đêm nhạc chủ đề như ''Lời Nguyền Sát Thát, Con Đường Cái Quan'' thì Tiểu Đoàn 2 cũng có Ban Tam ca Lê Quang Huỳnh, Nguyễn Ngọc Thuyết, Hoàng Đăng, có Nguyễn Đức Phương giả gái giống y hệt, có Bùi Ngọc Thạnh cũng giả cô gái Bắc Kỳ nho nhỏ ngày xưa, đâu có thua ai, có tay đạo diễn Nguyễn Ngọc Mạnh cũng có nét ra phết, cho nên một bên 8 lạng bên thì nửa cân.

 Về bóng chuyền, Tiểu Đoàn 1 có Nguyễn Xuân Sử, Ngô Bá Lai ( bá láp ) là tay đập bóng thần sầu, thì Tiểu Đoàn 2 có Đào Cát, cũng là tay đập bóng kinh thiên động địa, có một Chung Gia Phong nâng bóng tuyệt cú mèo, chính xác 100% để Đào Cát làm mưa làm gió. Về bóng bàn thì có Trần Văn Mười, Ngô Minh Thảo cũng là những tay cự phách, cho nên cuối cùng cuộc tranh tài trong hai năm là không ai thắng ai và đến năm thứ hai, để cân bằng tỉ số (quân số chứ), Bộ Chỉ Huy cho ''xào bài'', trộn đều quân số hai Tiểu Đoàn, cho những đứa nào còn có tư tưởng chia rẽ khoá 2 A, B ''hãy quên đi điều đó''.

 Năm thứ hai, tôi được đổi về trung đội 1, thuộc Tiểu Đoàn 1 do Trung Uý Trần Đình Thản (Tony Thản) làm Đại Đội trưởng. Trung đội tôi có những tên như Trịnh Tùng (sữa), Trần văn Hoàng, Nguyễn Hữu Hiền, Nguyễn Thái Hiệp, Trần Phát Đức... Trịnh Tùng thuở đó ''sữa lắm'' chứ không ''bề thế'' như bây giờ.

 Tôi thì chỉ có viết văn, làm thơ nên không có bộ môn nào xuất sắc, vì ''tình hình chiến cuộc'' nên tôi cũng ''bon chen''vào Ban Văn nghệ trong ''Ban Hợp Xướng'' để lên sân khấu ''nhắp môi'' và được chụp hình để gởi về khoe với em và để cuối tuần được thưởng phép ra Đà Lạt vi vút. Còn về thể thao, tôi chơi được bóng chuyền, nhưng là tay nâng bóng, tôi không ''ki'' bóng được nên không được xử dụng mấy, nhưng tôi cũng ''bỏ nhỏ'' với Đào Cát ghi danh sách có tên tôi trong đội bóng để những hôm có tập dượt được nghỉ tạp dịch, hoặc để được ra phố Đà Lạt. (nhưng tôi chơi banh ''độ'' thì khá lắm, đánh banh ''độ'' không cần quy luật, chỉ cần ''chụp giật, bốc hốt''- theo nghĩa đen - là được thôi, cho nên tôi đã thắng nhiều độ rất hào hùng).

Tôi cũng xin kể thêm về bòng tròn có Nguyễn Công Ngởi, Trần Văn Quá, Nguyễn Xuân Sữ, Huỳnh Long, Nguyễn Hữu Son... cũng là những tay kiệt xuất khiến đội bóng Đà Lạt - Lâm Đồng hay đội bóng của trường Võ Bị Quốc Gia cũng bái phục. Đứng trên bình diện trung dung mà nhận xét thì Trường ĐH/CTCT nổi tiếng được là nhờ những đêm Văn nghệ chủ đề quá hay và những lần tranh giải thể thao lúc nào cũng về hạng nhất, nhì (khoá 2) cho nên rất được nể phục. Các em nữ sinh, sinh viên Đà Lạt mặt hoa da phấn, tình cảm cũng nghiêng về các chàng SVSQ/CTCT càng ngày càng nhiều hơn.

 Nhưng rồi ngày vui qua mau và ngày buồn cũng qua mau như vậy, hai năm ở trường ĐH/CTCT với một thời SVSQ, vơi biết bao nhiêu vui buồn, những đau thương mất mát bạn bè, chiến hữu, như lần Việt Cộng tấn công vào trường đã làm cho một số bạn bè ''ra đi sớm'' trong cùng một ngày tang thương của ''Khoá CTCT tuyên uý'', nhiều Cha, Sư, Mục Sư, đã chết, cùng các SVSQ khoá 2, những đau thương chồng chất làm ta nung nấu thêm hận thù.

 ''Khóa 2, Khoá 2, ơi thương nhớ qúa!'', ngày 19-2-1971 ra trường, 387 tân thiếu úy toả ra khắp bốn phương trời, bốn vùng chiến thuật và các quân binh chủng lẫy lừng, hào hùng nhất như Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân. Tôi về Sư Đoàn 2 Bộ Binh, tận tuốt ngoài Quân Đoàn I, vì đây là quê hương tôi, với bao nhiêu thử thách cam go, với những lần hành quân dẫm nát những mật khu địch ở vùng Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quảng Nam, những địa danh như Ba Gia Đồng Ké, Núi Tròn, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Trà Bồng, Thường Đức, Hiệp Đức, Quế Sơn... tôi đều đã đi qua, ''đôi giày đinh bết bùn đất hành quân''. Rồi lại nghe những bạn bè gục ngã trên chiến trường quá sớm như Thành Ngọc Bút, Nguyễn Đình Anh (Thiết Giáp) Mai Viết Phát (Dù) Rồi Trần Hoàng Dân, Vũ Đỗ Triệu ( Sư Đoàn 2 ) Rồi Hà Văn Thành, Trần Văn Tài, Mai Thành Bản, Vĩnh Tường, Lê Đại Tấn, Lê Văn Chua, Đào Cát, Huỳnh Hà... Và còn biết bao bạn cùng khoá đã ngã xuống, tất cả, bây giờ tôi chỉ biết thắp một nén hương tưởng niệm.

Khoá 2 thương nhớ ơi!

Bây giờ chúng ta được sống trên mảnh đất tạm dung nầy, ngồi nghĩ lại từng người, từng đứa, nhớ nhau vô cùng. Lứa tuổi tụi mình quá bi đát và nhiều nghịch cảnh, thế hệ tuổi trẻ của chúng ta đã bị lớp đàn anh đi trước dẫn vào mê lộ, chúng ta quay quắt muốn thoát ra nhưng không được, chúng ta có lý tưởng, có niềm tin...

                                                                                   *

Bây giờ nhìn lại, những bạn Khóa 2 đã "ra đi" vì bị tử thương nơi chiến trường, hay bị  chết vì bịnh hoạn, vì tuổi già sức yếu, tôi thấy thương lắm. Vì biết mình chỉ là hạt cát thôi, nên chỉ có những dòng này gởi về các bạn.

Tưởng nhớ đến Trịnh Tùng, Chung Gia Phong, Nguyễn Ngọc Bích, Lê Văn Hoan, Huỳnh Long, Trần Gia Cát,  Ngô Đình Chỉnh, Lê Phước Hải, Đào Cát, Huỳnh Hà, Hà Văn Thành, Hoàng Đăng, Văn Phú Phúc, Hà Thúc Long, Nguyễn Văn Chúc, Thành Ngọc Bút, Nguyễn Văn Ái, Lê Đại Tấn, Lê Văn Chua (Lê Vĩnh Nghiêm)...và hơn 100 anh em, một thời đã là bạn bè thân thiết...Nay đã đi xa rồi.

 Tôi cũng xin có lời thưa, là tôi không bao giờ quên được tình anh em cùng trường, cùng Khóa. Chỉ có một số con sâu (Thái Thượng Hoàng, Khóa 1) làm rầu nồi canh. Cứ nghĩ mình là Khóa đàn anh, khuynh loát Tổng Hội, gian lận bầu cử, để sắp đặt những người ra làm các chức vụ Tổng Hội trưởng theo ý mình. Còn tất cá các anh em các khóa đều có tình với nhau, tình đàn anh, đàn em, tình đồng khóa rất thân thương.

Cũng như tôi không bao giờ nghĩ xấu về quân đội, tôi chỉ đề cập đến cơ chế quân đội đã có từ lâu, mà các nhà lãnh đạo muốn đào tạo chúng tôi ra, sau coi như là "đem con bỏ chợ", khiến những người bạn đồng khóa, đã chết tức tưởi, khi chết không có một người lính trong tay để chỉ huy. Thật là đáng buồn thay.

Chỉ có những người lính tác chiến ở các đại đội lẻ bộ binh, địa phương quân (hay dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân), những sĩ quan chỉ huy tác chiến cấp tiểu đội, trung đội, đại đội, mới biết được những binh sĩ (binh nhì) dưới quyền mình. Họ hàng ngày đối diện với cái chết, đã hưởng được gì, hay chỉ ăn với cơm gạo sấy, thịt hộp, nhiều khi phải nấu canh với lá rừng...Sự thiếu thốn đó vì đâu? Vì các cấp trên như Tiểu Đoàn, Trung Đoàn...Ban 4 (Tiếp tế, Tiếp liệu) đã khai man, đã bán đi những khẩu phần của người lính binh nhì tác chiến đó. Số tiền thu vào, được dâng lên cho các Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng, Tư lệnh sư đoàn...để họ có những đêm ăn chơi thác loạn, trác táng ở các câu lạc bộ như Phượng Hoàng (Sư Đoàn 2) dưới quyền của Quế Tướng công. Những người lính vô danh dã chết một cách tội tình.
Tôi đã từng làm đại đội phó CTCT gần 2 năm cho một đại đội bộ binh tác chiến. Tôi đã thấy nỗi bi thảm, khổ cực, thiếu thốn của một người lính tác chiến bộ binh. Cái bi thảm nhất là luôn đối diện với cái chết. Cái thứ nhì là đời sống sinh hoạt quá kham khổ ăn uống thiếu thốn của họ. Có đi sát với họ mới biết họ muốn gì, cần gì...Thế mà họ có được gì đâu.

Tôi viết lại để cho thế hệ sau, nhìn thấy sự thật thôi. Lúc nào sự thật vẫn là chân lý

Mời xem lại bài thơ Lời Mẹ Dặn của Phùng Quán:

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật   
chân thật trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

(1957)


                                                                        Trần-Yên Hoà
                                                                                 (còn tiếp)

                                                                        
                                 *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, October 18, 20204:22 PM(View: 392)
Tôi chỉ là một công dân hạng hai cầm bút chứ không phải là nhà văn. Lại càng không phải là nhà văn có thương hiệu cho dù là cấp xã hay cấp nhà nước. Tôi viết trước hết cho các con tôi vì chúng rất mù mờ không hiểu cha ông chúng đã sống và đã chết như thế nào trong suốt hơn nửa thế kỷ dông bão vừa qua. Tôi có người bạn bảo bây giờ viết như Kinh Kha buồn. Nghĩa là biết chẳng tới đâu mà vẫn phải cầm lấy bút như cây chủy thủ. Tôi nghĩ còn hơn Kinh Kha buồn vì sông Dịch bây giờ chẳng những lạnh mà hoang vắng đến rợn người. Chẳng có một tân khách nào dám tiễn đưa. Cái đất Tần ấy lúc này đang ngút trời gươm đao bất trắc. Từ lúc nạn đói năm Ất Dậu đến nay có bao nhiêu triệu công dân hạng hai Việt Nam đã chết? Hai triệu? Năm triệu? Hay mười triệu? Chết vì đói, vì thủ tiêu, vì đấu tố, vì tố cộng, vì Mậu Thân, vì cải tạo, vì vượt biên… Cho dù ở bên nào họ cũng chỉ là những nông dân nghèo, cả đời khát khao mảnh vườn thửa ruộng. Chính vì vậy mà họ bị lừa phỉnh, bị lợi dụng, bị sai khiến.
Wednesday, October 14, 20208:35 AM(View: 390)
Cách đây hơn bốn mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy H. B. N. bình bài “Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa biết gì về nạn mại dâm. Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx-Lenin, thầy khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa
Sunday, October 11, 20203:27 PM(View: 387)
Vậy mà Lê mất đã một năm... Giờ này năm trước, tôi đang ở Việt Nam có chút việc, và cứ tưởng mình sẽ không đến dự kịp lễ tang của anh tại nhà quàn Peak Family. Nhưng may thay, cuối cùng công việc lại êm xuôi và tôi trở về Bolsa kịp đúng vào buổi sáng ngày di quan linh cữu của anh - nhà thơ của hằng ngàn bài thơ tình trong số đó có nhiều bài thuộc loại nằm lòng của rất nhiều bạn đọc Việt Nam, nhất là phái nữ. Dù phải trải qua chuyến bay dài, tôi cũng dễ dàng bỏ qua sự mệt mỏi để đến dự tang lễ và nhất là đến để đưa tận tay chị Hạnh Tuyền, vợ anh, chiếc cọ vẽ cũ của tôi. Trong một buổi sáng cà phê nào đó ở Little SG, anh đã từng ngỏ ý muốn tôi tặng một cây cọ đã dùng của mình cho bộ sưu tập những cây cọ vẽ cũ của các hoạ sĩ Việt Nam nổi tiếng mà chị cất công sưu tập bấy lâu. Và đó là lúc mà tôi thực hiện lời hứa với bạn mình, chỉ là không ngờ phải thực hiện ngay trước linh cữu bạn. Tầm 11 am, sau khi tìm được chỗ đậu xe, tôi đến nơi đang có rất nhiều người trong trang
Wednesday, October 7, 202012:48 PM(View: 498)
Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế: 1944 khi đi hát rong; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành. 1948, từ chiến trường Bình Trị Thiên chống Pháp, Phạm Duy về hoạt động tại vùng địch hậu Đại Lược và nhiều đêm bí mật về gặp gỡ cán bộ, nghệ sĩ nội thành tại Vỹ Dạ, thời điểm sáng tác bài Về Miền Trung: Ôi quê hương xứ dân gầy, ôi bông lúa, Con sông xưa, thành phố cũ... Ngần ấy chữ thôi là cô đọng tất cả hình ảnh chủ yếu về một vùng đất và một thành phố; không cần đến những “Huế đẹp và thơ”, “áo tím, áo trắng, nón nghiêng…” là những vẽ vời, lâu ngày sáo mòn trở nên phù phiếm. Con sông xưa, thành phố cũ, là đầy đủ, hàm súc và tình nghĩa. Mùa Xuân 1944, Phạm Duy lưu diễn trong gánh Đức Huy Charlot Miều, từ Bắc vào Nam, ghé Huế, hát tại
Saturday, October 3, 20209:27 AM(View: 456)
Nhà văn Nhật Tiến tên thật là Bùi Nhật Tiến, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1936 tại Hà Nội, mất ngày 14 tháng 9, 2020 tại Santa Ana, California Hoa Kỳ. Hưởng thọ 84 tuổi. Với gần 70 năm cầm bút, 15 tuổi có bài đăng báo, 23 tuổi có sách xuất bản, 24 tuổi lãnh giải văn chương toàn quốc năm 1960-1961, ông để lại một gia tài văn chương đồ sộ với gần 100 tác phẩm đủ loại truyện dài, truyện ngắn, kịch bản, biên khảo, bút ký. Sách của ông đã được dịch ra trên 10 thứ tiếng và phát hành tại nhiều quốc gia. Thường thì một người giỏi về văn chương thì không giỏi về khoa học nhưng điều hiếm có ở nhà văn Nhật Tiến là, ông không chỉ sáng tác văn chương mà còn sống bằng nghệ dạy môn khoa học lý hóa rất thành công. Là nhà văn, ông được độc giả yêu thương, mến mộ. Là nhà giáo, ông được học trò và đồng nghiệp nể nang, kính.trọng. Nhà văn thần tượng của tuổi thanh thiếu niên. Lứa tuổi 60, 70 hiện nay của người Nam Việt Nam, trong đó có tôi hầu hết đã lớn lên và hình thành nhân cách của mình cùng với