DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,400,584

Đặng Tiến - Phạm Duy và Huế

Wednesday, October 7, 202012:48 PM(View: 269)
Đặng Tiến - Phạm Duy và Huế

                                                    Phạm Duy và Huế

blank
Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế: 1944 khi đi hát rong; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành. 
 
1948, từ chiến trường Bình Trị Thiên chống Pháp, Phạm Duy về hoạt động tại vùng địch hậu Đại Lược và nhiều đêm bí mật về gặp gỡ cán bộ, nghệ sĩ nội thành tại Vỹ Dạ, thời điểm sáng tác bài Về Miền Trung:


Ôi quê hương xứ dân gầy, ôi bông lúa,
Con sông xưa, thành phố cũ...

 
Ngần ấy chữ thôi là cô đọng tất cả hình ảnh chủ yếu về một vùng đất và một thành phố; không cần đến những “Huế đẹp và thơ”, “áo tím, áo trắng, nón nghiêng…” là những vẽ vời, lâu ngày sáo mòn trở nên phù phiếm. 

 
Con sông xưa, thành phố cũ, là đầy đủ, hàm súc và tình nghĩa.

 
Mùa Xuân 1944, Phạm Duy lưu diễn trong gánh Đức Huy Charlot Miều, từ Bắc vào Nam, ghé Huế, hát tại rạp Tân Tân, trên đường Paul Bert, nay  là Trần Hưng Đạo. Nhạc sĩ chưa sáng tác nhiều, nhưng 1944 là  bước ngoặt quan trọng vì anh khám phá ra dân nhạc Huế, trong nhiều đêm nằm đò lắng nghe những câu hò mái nhì, mái đẩy, những bài Nam Ai, Nam Bình mà trước kia anh chỉ nghe qua đĩa hát. Lần này Phạm Duy nghe trực tiếp, ghi lại nhạc lý, viết thành biên khảo ”Những điệu hát bình dân Việt Nam”. 

 
Anh nhắc lại : Âm giai ngũ cung lơ lớ của hò mái nhì khác hẳn với âm giai điều hòa (harmonie tempérée) của Âu Tây và âm giai ngũ cung đúng của dân nhạc miền Bắc. Các cung bực của hò Huế có những cao độ (intervalles) non hơn hay già hơn cung bực trong âm giai Âu Tây, hay âm giai Miền Bắc.

 
Hò mái nhì hay hò mái đẩy là tiếng nói điển hình của người dân tại một miền nên thơ nhất của đất nước Việt. Tiếng hát xây dựng trên một âm giai lơ lớ đã thể hiện được sự thần bí của cõi lòng, vì vậy dễ dàng đi sâu vào tâm hồn người nghe hơn là nhạc ngũ cung đúng của Miền Bắc” [1].

 
1944, Phạm Duy chỉ mới là ca sĩ phụ diễn trên sân khấu bình dân, ngoài hai mươi tuổi ; anh học hỏi thêm về nhạc dân tộc và trao đổi với các vị Vĩnh Phan, Bửu Lộc, Vĩnh Trân. 
 

Về tân nhạc, anh tiếp xúc với Ngô Ganh, Văn Giảng, Nguyễn văn Thương. Anh cũng nếm mùi ái tình tại Huế, như đã nhắc lại trong bài Tình Ca, sáng tác mười năm sau, 1953:

Tôi yêu những sông trường
Biết ái tình ở dòng sông Hương…
 
Cách mạng tháng Tám xảy ra khi Phạm Duy đã trở về Hà Nội, 1946. Anh tham dự đoàn quân Nam Tiến, vào Nam Bộ chiến đấu trong chiến khu Bà Rịa, bị thương nhẹ trên cánh tay. Mùa thu 1946, trên đường về Bắc, anh dừng chân mấy tháng tại Huế, cũng để trình diễn “âm nhạc cải cách” theo tên gọi thời đó, chủ yếu là tại phòng trà ca nhạc Quán Nghệ Sĩ, có khi hát cho Đài Phát Thanh. Anh có gặp gỡ các vị Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn chí Thanh. Nhưng chủ yếu là gặp lại bạn cũ, như Vĩnh Phan, Võ đức Duy và nhất là Lưu Trọng Lư, mà anh vừa phổ nhạc bài thơ Tiếng Thu nổi tiếng.

 
Huế, mùa thu 1946, thời nghỉ ngơi của người chiến sĩ.  Phạm Duy tranh thủ để sáng tác, hoàn chỉnh, biên tập nhiều ca khúc : Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu, nhạc kháng chiến phổ biến một thời. 
Và Khối Tình Trương Chi phảng phất ít nhiều âm hao Huế:

Êm êm dần lan
Cung Nam Thương mờ vang
Cung Nam Ai thở than
Ai  thương em lầu buồn mỗi lúc khuya tàn cung
 

Ngoài nhạc điệu ảo não, hình ảnh người khuê nữ trong bài hát gần với cô gái Huế tân thời, cuối triều Bảo Đại hơn là cô Mỵ Nương thời các vua Hùng. 

 
Sự thật là có một nàng Tôn nữ như thế, cấm cung trong một dinh thự phía Nam Giao. Anh Trương Chi là chàng ca sĩ trẻ tuổi đẹp trai, nhưng  ”xa cách nhau vì đời” do hoàn cảnh và tình huống đôi bên. Chút tình riêng thầm lặng này giải thích, nhạc và lời lãng mạn, tha thiết của bài Khối tình Trương Chi, mà chất trữ tình dào dạt không có trong những nhạc phẩm kể chuyện cổ tích khác, như Trầu Cau của Phan Huỳnh Điểu chẳng hạn.

 
Sau đó là toàn quốc kháng chiến. Từ Hà Nội, Phạm Duy tham gia kháng chiến chống Pháp, chủ yếu là ở khu Tư, có lúc công tác tại chiến trường Bình Trị Thiên non sáu tháng, 1948 Phạm Duy đã sáng tác Mười hai lời RuBà mẹ Gio LinhBao giờ anh lấy được đồn Tây, sau đổi thành Quê Nghèo. Và đặc biệt Về Miền Trung

 
Phạm Duy kể :”tôi đã làm công việc phát triển mạnh mẽ cái thanh âm lơ lớ (PD nhấn mạnh) của miền thùy dương này (…) Tuy nhiên đối với tôi, hình thức không quan trọng bằng nội dung. Bài Về Miền Trung là một bài ca Huế hùng dũng, không bi quan yếm thế như một bài Nam Ai, Nam bình chẳng hạn” [2].
 

Tại Sài gòn, đài Pháp Á đầu thập niên 1950 là cơ quan phổ biến tân nhạc mạnh nhất. Trong mục nhạc yêu cầu, trong hai năm 1951-1952, Về Miền Trung là ca khúc được thính giả yêu cầu nhiều nhất, không nhất thiết phải từ Huế.  Có thể vì nó là khúc ca tiêu biểu nhất cho người Huế đất Huế.
 

Tháng 5-1951, Phạm Duy rời kháng chiến về thành, cùng với gia đình nhà vợ. Năm 1953, anh có dịp trở lại Huế sống dài ngày hơn ba lần trước “có đủ thời giờ để biết Huế hơn xưa”. Cuộc sông êm đềm đưa đến dạ khúc Dạ Lai Hương, 1953, một sérénade theo kỹ thuật Âu Tây. Lời ca tràn đầy hạnh phúc “đời vui như ong bay, ngọt lên cây trái… Đẹp duyên người sống cho người…” Phạm Duy gọi là  “cảnh sắc đêm thơm xứ Huế”.
 

Thời điểm này Phạm Duy không sáng tác nhiều nhạc trữ tình, nhưng âm hưởng Huế lắng sâu vào tâm thức và sẽ tái hiện trong trường ca Con đường Cái Quan sáng tác rỉ rả từ 1954 đến 1960, nhất là đoạn II Qua Miền Trung với đoản khúc Nước non ngàn dặm ra đi. Ca khúc mới nhất của Phạm Duy về Huế là Huế đa tình, anh vừa mới phổ thơ Bích Khê, đang thu đĩa và sẽ phát hành cuối năm nay 2010.
 
 
                                                                                                 *
 
Nhạc dân gian Huế, những cảnh sắc và tình người cố đô đã để lại âm hưởng đậm đà trong tác phẩm Phạm Duy, mà đã có nhiều người Huế nhận ra, từ đó gìn giữ nhiều cảm tình với anh. Thời Việt Nam khép kín, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết dũng cảm, có mơ ước một cuộc đoàn viên giữa giới văn nghệ trong và ngoài nước, trong một bữa tiệc tại cồn Giã Viên. Năm 2005, Phạm Duy được về nước lâu dài, các bạn Huế, trước mọi nơi, đã nồng nhiệt đón tiếp, đưa về Gio Linh thăm người Mẹ năm xưa. Họa sĩ Bửu Chỉ cao hứng vẽ một chân dung và tự hào rằng đã phác họa được tất cả chủ đề chính trong nhạc phẩm Phạm Duy. Trong một festival Huế, ban tổ chức đã dự trù trình diễn Con Đường cái Quan, tiếc là dự án bị đình chỉ.

 
Sắp tới, ngày 5-10 là sinh nhật Phạm Duy, sinh 1921. Tính tuổi ta là anh lên 90, mà sức sáng tác còn sung mãn. 
 
Ấy là cũng do tinh thần yêu nghệ thuật, yêu con người, yêu quê hương qua bao nhiêu cuộc khóc cười qua mệnh nước nổi trôi.
 
Mừng thượng thọ Phạm Duy.

 
 
                                                                              Đặng Tiến
                                                                              Orléans, 10-9-2010
                                                                                                             (từ: DĐTK)
 

[1] Phạm Duy, Hồi Ký I, tr.309, nxb Phạm Duy Cường, 1990, California. Bài này đã in trong Dân Ca, nxb Văn Nghệ, 1948, Việt Bắc. Và in lại trong Lược khảo về dân nhạc Việt Nam, nxb Hiện Đại, 1970, Sài Gòn.
2 Phạp Duy, Hồi Ký II, tr. 257, nxb Phạm Duy Cường, 1989, California.

                                  *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, October 3, 20209:27 AM(View: 238)
Nhà văn Nhật Tiến tên thật là Bùi Nhật Tiến, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1936 tại Hà Nội, mất ngày 14 tháng 9, 2020 tại Santa Ana, California Hoa Kỳ. Hưởng thọ 84 tuổi. Với gần 70 năm cầm bút, 15 tuổi có bài đăng báo, 23 tuổi có sách xuất bản, 24 tuổi lãnh giải văn chương toàn quốc năm 1960-1961, ông để lại một gia tài văn chương đồ sộ với gần 100 tác phẩm đủ loại truyện dài, truyện ngắn, kịch bản, biên khảo, bút ký. Sách của ông đã được dịch ra trên 10 thứ tiếng và phát hành tại nhiều quốc gia. Thường thì một người giỏi về văn chương thì không giỏi về khoa học nhưng điều hiếm có ở nhà văn Nhật Tiến là, ông không chỉ sáng tác văn chương mà còn sống bằng nghệ dạy môn khoa học lý hóa rất thành công. Là nhà văn, ông được độc giả yêu thương, mến mộ. Là nhà giáo, ông được học trò và đồng nghiệp nể nang, kính.trọng. Nhà văn thần tượng của tuổi thanh thiếu niên. Lứa tuổi 60, 70 hiện nay của người Nam Việt Nam, trong đó có tôi hầu hết đã lớn lên và hình thành nhân cách của mình cùng với
Tuesday, September 29, 20207:59 AM(View: 450)
Đến năm thứ hai thì (hình như) Bộ Chỉ Huy nhà trường, thấy cần thay đổi chỗ ở cho anh em, nên đã "xào bài". Một số anh em từ TĐ 2 được đổi xuống TĐ 1. Và ngược lại. Tôi được đổi xuống TĐ 1 ở trung đội 1, Đại Đội A, Tiểu Đoàn 1. Tôi đành chia tay với người bạn thân là Trần Thanh Ng. mà tôi đã kết từ ngày vào Trung Tâm 1/ Tuyển Mộ Nhập Ngũ, cho đến bây giờ. Tuy ở 2 TĐ, nhưng khi đi phép chúng tôi vẫn cặp kè nhau đi chung. Và trong mọi sinh hoạt chúng tôi đều có nhau. Nói thì nói vậy, nhưng xa mặt thì cách lòng, ở 2 tiểu đoàn riêng lẻ nên mỗi người đều có sinh hoạt riêng, và có những người bạn mới riêng. Xuống TĐ 1, tôi có những người bạn mới như Lê Văn N, Trần Phát Đ. Lại cặp kè đi phép chung, đi ăn chung và có những "phi vụ" tán gái. Như khi đi chới với Trần Phát Đ. (Đ. người nam, đô con, đẹp trai) nên ra đường mấy em nữ sinh Đà Lạt "rất mê". Tôi đi theo Trần Phát Đ. nên cũng làm quen được với một em tên Niệm, học sinh Couvent Des Oiseaux. Thật ra hai em còn rất nhỏ, nên chúng tôi
Saturday, September 26, 202012:41 PM(View: 526)
Chỉ cần nói “West Point”, ai cũng biết đó là chi rồi. West Point là cái tên…dân gian, nói ra ai cũng hiểu. Tên chính thức của ngôi trường này là United States Military Academy (Học Viện Quân Sự Hoa Kỳ). Nhưng nếu lười biếng, chỉ cần nói The Academy hay The Point thì cũng biết liền chính là hắn! Được Tổng Thống Thomas Jefferson thành lập vào năm 1802, đây là học viện quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ. Ngày nay mỗi năm trường thâu nhận khoảng 1300 sinh viên nhập học. Thời gian huấn luyện là 4 năm. Như vậy trong trường luôn luôn có 4 khóa tổng cộng khoảng trên 4 ngàn sinh viên. Chính ra con số này phải hơn nhưng vì mỗi khóa có khoảng 2% sinh viên bị loại mỗi năm, nên vào thì nhiều, ra thì ít, khoảng trên dưới một ngàn tân khoa mỗi khóa. Đây là một quân trường nhưng muốn vào học còn khó hơn vào những đại học danh tiếng. Tỷ lệ được chọn chỉ khoảng 9%, có nghĩa là trong 100 lá đơn xin học, chỉ có 9 thí sinh được nhận. Sở dĩ khó như vậy vì West Point chọn lựa sinh viên không chỉ dựa vào thành
Thursday, September 24, 20207:11 AM(View: 266)
Tôi qua Mỹ năm 11 tuổi tức là thuộc thế hệ Việt – Mỹ, sinh ở Việt Nam nhưng trưởng thành ở Mỹ. Trước năm 75 tôi sống ở trong khu nhà dành cho sĩ quan trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau 75, nhà của tôi bị tịch thâu, bố tôi đi tù cải tạo, mẹ tôi dẫn ba đứa con còn thơ dại lên trên Sài Gòn ở nhờ nhà người anh ruột. Đứa lớn nhất là tôi lúc đó được năm tuổi và cô em út của tôi lúc đó mới được một tuổi. Năm tôi lên bảy tuổi đã biết đọc thành thạo và đọc ké sách mà các anh chị họ con của bác tôi họ mượn của bạn bè. Tôi luôn luôn là đứa được đọc sau cùng mà phải đọc cho lẹ để mấy anh chị mang đi trả. Thủa ấy mấy anh chị của tôi cũng còn đang học dưới trung học nên toàn thích coi truyện kiếm hiệp và sách Tuổi Hoa. Phần tôi, vớ được cuốn truyện nào là tôi đọc và mê hết không kể thể loại. Từ năm tám tuổi tôi đã được đọc “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, “Liêu Trai Chí Dị” luôn cả truyện tình cảm của Dung Sài Gòn và Võ Hà Anh. Nghĩ lại tôi thấy buồn cười vì mẹ tôi không cấm mà chỉ cười khi tôi
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 541)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá