DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,492,741

Đặng Văn Sinh - Từ “Tiếng hát sông Hương” đến… công nghệ mại dâm

Wednesday, October 14, 20208:35 AM(View: 1237)
Đặng Văn Sinh - Từ “Tiếng hát sông Hương” đến… công nghệ mại dâm
                  Từ “Tiếng hát sông Hương”
                  đến… công nghệ mại dâm


 
Giới thiệu thơ Nguyễn Minh Huấn - Thiếu em


Cách đây hơn bốn mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy H. B. N. bình bài “Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa biết gì về nạn mại dâm.

Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx-Lenin, thầy khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa thơm quả ngọt. Cả lớp lặng đi. Một vài bạn gái len lén lấy ống tay áo quệt nước mắt. Ôi! Sức mạnh của nghệ thuật. Học trò cảm phục thầy một thì kính phục Tố Hữu mười, bởi ông đã đem đến cho lớp trai trẻ “chân đất mắt toét” chúng tôi một cảm quan mới, một lý tưởng sáng ngời, mà chỉ trong chế độ xã hội chủ nghĩa tốt đẹp gấp triệu lần lũ tư bản “đang giãy chết” mới có.

Quả thật, bằng vào cái huyễn tượng về một tương lai xán lạn ấy, sau năm 1954, Nhà nước ta đã tiến hành những cuộc tảo thanh trên quy mô lớn để bài trừ tận gốc những gì còn rơi rớt lại của nền văn hóa thực dân phong kiến trên nửa phần đất nước mà điểm nhấn của nó là nạn mại dâm. Những đối tượng hành nghề bị công an thu gom đưa vào các nhà tù trá hình được gán cho danh xưng mỹ miều là “Trại phục hồi nhân phẩm”. Tại đây, những chị em “cải tạo” tốt còn được “ưu tiên” chuyển sang lực lượng thanh niên xung phong hoặc nông trường quốc doanh trồng chè hay cao su ở vùng sơn cước. Và thế là, chỉ sau một kế hoạch ba năm, Bộ Văn hóa miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã hoàn thành kế hoạch triệt phá tệ nạn xã hội. “Từ ấy”… mảnh đất ngàn năm văn hiến được xem như tuyệt giống “gái bán hoa” (!?). Thật là một kỳ tích mà chỉ có những người thật sự yêu Chủ nghĩa cộng sản mới làm được.

Cũng vào thời gian này, trên các phương tiện truyền thông, trong đó có những tờ báo lớn, công bố số phụ nữ làm nghề mại dâm ở thành phố Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam cộng hòa là ba mươi vạn (!?). Tất nhiên chúng tôi tin sái cổ. Lại dám không tin báo chí của Đảng à? Có họa là tên phản động hoặc kẻ mắc chứng tâm thần phân liệt. Sau này, khi non sông đã về một mối, các nguồn thông tin không còn bị ách tắc như trước, tôi có dịp đọc một số bài trên tờ Le Monde và nghe Đài BBC mới hiểu con số ấy được người ta thổi phồng ít nhất là ba mươi lần. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Phách, tính vào thời điểm những năm sáu mươi, trừ cánh mày râu, cộng với các bà già trên sáu mươi cùng các cháu gái dưới mười sáu tuổi, thì tất cả phụ nữ Sài Gòn đều làm… điếm nếu ta tin vào con số kỷ lục nặng về màu sắc chính trị kia.

Thế nhưng…

Sau hơn ba mươi năm “giải phóng miền Nam”, tức là một phần ba thế kỷ, một nửa đời người, có vẻ như những kỳ tích chống tệ nạn xã hội đã đi vào dĩ vãng, đặt dấu chấm hết cho một thời vàng son. Chưa bao giờ và chưa lúc nào nạn mại dâm hoành hành dữ dội và đều khắp như lúc này. Không hiếm khách sạn có đường dây gái gọi. Không hiếm nhà hàng karaoke đèn mờ là động lắc thâu đem suốt sáng. Mỗi tiệm hớt tóc, gội đầu là một nhà thổ trá hình. Ngày trước “ra ngõ gặp anh hùng” thì ngày nay, mỗi khi bước chân đường toàn gặp lũ tham nhũng và cave. Các Tú Ông, Tú Bà nhan nhản khắp hang cùng ngõ hẻm, nhân danh thời mở cửa lại được các anh Hai, anh Ba, anh Tư, anh Năm… ngồi ngất ngưởng trên cao bảo kê, tha hồ bóc lột đám chị em chân yếu tay mềm. Đến lúc này, thi hào Tố Hữu, con chim đầu đàn của nền thơ cách mạng Việt Nam, nếu còn sống, chắc ông sẽ phải viết lại “Tiếng hát sông Hương” với cung bậc cảm xúc mới trên đường rong ruổi “nước non ngàn dặm”…

Ta hãy nghe lại tác giả thương hoa tiếc ngọc bằng một bài thơ kết hợp giữa lục bát truyền thống với thể loại dân ca Huế và gieo bằng vần “eo”, tạo ra một không gian nhẹ tênh, mang nét thanh thoát yêu kiều của sông Hương, đối lập hẳn với thân phận nhục nhã của cô gái làng chơi:

Em buông mái chèo

Trời trong veo

Nước trong veo

Em buông mái chèo

Trên dòng Hương Giang.

Rồi tấm lòng cộng sản vô bờ bến của ông thương cảm người con gái chót một lần lầm lỡ:

Thuyền em rách nát

Mà em chưa chồng

Em đi với chiếc thuyền không

Khi mô vô bến rời dòng dâm ô!.

Nhưng điều đáng chú ý nhất là, lúc ấy, tác giả đã thổi vào tâm hồn cô gái một một niềm xác tín, rằng nếu không bỏ nghề, dấn thân vào sự nghiệp cách mạng thì cũng nhẫn nại đợi thời cơ đến ngày được chiêu tuyết:

Ngày mai bao kiếp đời dơ

Sẽ tan như đám mây mờ hôm nay

Cô ơi tháng rộng ngày dài

Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng

Trên dòng Hương Giang…”.

Hương Giang thơ mộng trong một chiều tím biếc, con đò rách nát bồng bềnh trôi mang nỗi u uất cuả một thân phận còn rách nát hơn cả nó, phút chốc như đốn ngộ bởi thứ ánh sáng lung linh của chân lý. Nhà thơ thật khéo chuyển được cảm xúc, đem cái huyễn tưởng ngoài nghìn dặm đặt vào tâm thức cô đào xứ Thần Kinh trong gang tấc.

Ngược lại với Tố Hữu lúc ấy, tám mươi năm trước (nếu tính từ thời điểm những năm ba mươi của thế kỷ XX), Nguyễn Công Trứ, cũng sau những lần xuôi đò trên sông Hương, đã không giấu giếm sự đắc ý của mình cho dù ông là một nhà nho từng được đào luyện kỹ càng trong trường học Khổng Mạnh:

Lênh đênh một chiếc đò ngang

Một cô đào Huế, một quan đại thần

Ban ngày quan lớn như thần

Ban đêm quan lớn lần mần như ma

Ban ngày quan lớn như cha

Ban đêm quan lớn ngầy ngà như con….

Chúng ta kính phục Nguyễn Công Trứ dám nói ra cái chuyện mà ngày nay các quan giấu biến như mèo giấu… “của”, bằng giọng điệu mỉa mai, tự trào cái sự hành lạc với một cô gái làng chơi cho dù có lúc ông là Thượng thư rồi Tổng đốc. Hành vi của cụ Thượng có vẻ như phi quân tử nhưng thực chất lại vô cùng quân tử. Nó hoàn toàn tương phản với phần lớn các bậc “dân chi phụ mẫu”* ngày nay, đi nhà thổ như điên, bồ bịch tùm lum, ăn cắp công quỹ thành thần nhưng lại lên mặt đạo đức giả, lúc nào cũng muốn nêu tấm gương “cần kiệm liêm chính”.

Sau những năm ép xác, nhịn thèm nhịn nhạt phục vụ chủ thuyết “Thế giới đại đồng”, nay, xã hội Việt Nam đang ở vào thời kỳ “ăn trả bữa”. Cái “thằng” quy luật tâm lý ấy lại lừng lững xuất hiện, chẳng khác gì ma dẫn lối, quỷ đưa đường, dẫn dụ các nạn nhân của nó vào “kiếp đoạn trường” trong một mê lộ quanh co đầy cạm bẫy. Chưa có bao giờ trên đất Việt thân yêu của chúng ta lại nở rộ tệ nạn mại dâm như bây giờ. Nó hiện diện theo quy luật của dòng nước lũ, từ lâu bị chặn lại, đương nhiên là tích tụ năng lượng, đến một lúc nào đó tìm ra lối thoát, thế là “tức nước vỡ bờ” thành một cơn hồng thủy. Hiện tượng này đã được nhà thơ Trần Nhuận Minh khái quát bằng mấy câu trong bài “Thoáng” như sau:

Sách cấm xưa lòe loẹt cổng Đền Thờ

Ngõ tối bật tiếng coóc xê tanh tách

Gã trốn tù tội đánh người và khoét ngạch

Vào quán ghểnh chân làm choác bia hơi.

Còn thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo ở bài “Giữa quán Lý Thông” thì lại tiếp cận các cô gái “bán hoa” ở khía cạnh văn hóa:

Tôi hỏi công chúa: Thạch Sanh đi đâu?

Công chúa lầu bầu trả lời: Không biết!

Tôi hỏi Nguyệt Nga: Vân Tiên đi đâu?

Nguyệt Nga âu sầu: Hình như đã chết!

Tôi hỏi cave. Cave cười ngất…

Chợt nhận ra mình giữa quán Lý Thông.

Hiển nhiên, mại dâm không chỉ dừng lại ở thành phố, thị xã, thị trấn mà từ lâu nó đã lan đến cả những vùng quê hẻo lánh. Các đức ông chồng mất nết, từ những lão già sáu bảy mươi đến lũ ranh con miệng còn hơi sữa, rủ nhau thập thò trước quán cà phê hay hớt tóc trá hình vào lúc trời còn nhập nhoạng. Không có tiền thì xúc trộm thóc của vợ bán dấm dúi, thậm chí có anh chàng còn “ký sổ nợ” hẹn đến mùa thanh toán…

Cũng như nạn tham nhũng, mại dâm bây giờ đã trở thành một thứ văn hóa. Loại văn hóa này hình như đang được phát triển và nâng cao đến mức “đậm đà bản sắc” tùy thuộc vào đẳng cấp xã hội của các đấng mày râu.

Các quan chức là những kẻ vừa có quyền vừa có tiền luôn là “thượng đế” của những nhà chứa cao cấp. Có những ông lớn nuôi hẳn ba, bốn bồ nhí ở mấy nơi khác nhau (tất nhiên là bằng tiền chùa), để thứ bảy, chủ nhật đánh xe về thư giãn. Không hiếm các ông “đầy tớ của dân”, ban ngày thì lên diễn đàn rao giảng thiên kinh địa nghĩa về tư tưởng này, đạo đức kia nhưng ban đêm lại mò vào các động mại dâm lăn lóc với “mấy ả mày ngài”, sáng ra mệt phờ râu trê, đến nỗi bỏ quên cả sổ tay ghi nghị quyết.

Từ môi trường xã hội cởi mở để con người thả lỏng bản tính của mình như vậy, tự nhiên hình thành một loại gái điếm cao cấp mà cách hành xử của type người này có những lúc khá ngược đời như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết trong bài thơ “Việt Nam, nhìn từ xa tổ quốc”:


Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng

Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Vật giá tăng vì hạ gia linh hồn….

Loại “cave” này, tất nhiên không chỉ bán phấn buôn son mà thực chất là bán buôn chính trị bằng cái “vốn tự có” của mình. Chị em biết lợi dụng thời cơ, nắm chắc tâm lý các sếp sòng, triệt để vận dụng lời dạy “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” của tổ sư Tú Bà, để len vào bộ máy công quyền. Chiêu “mỹ nhân kế”, do chính các “ả mày ngài” giăng bẫy, đã có không ít trường hợp thành công, thậm chí còn được bổ nhiệm vào những chức vụ béo bở như ngân hàng, tài chính, cho dù loại hình hoạt động duy nhất của chị em chỉ là… trên giường.

Nhà nước Việt Nam chẳng bao giờ công bố con số phụ nữ làm nghề mại dâm, nhưng đến giờ này, theo những nguồn tin của một vài tổ chức phi chính phủ thì có thể đã đến cả chục vạn. Phần lớn trong số này là những cô gái còn rất trẻ đều có gốc gác nông thôn, thất học, không nghề nghiệp, bỏ nhà lên thành phố làm gái bán hoa, sau một vài năm kiếm được chút vốn thì hoàn lương, về quê lấy chồng. Đây là đối tượng dễ bị các Tú Ông, Tú Bà hành hạ, bóc lột nhất. Các cô thường xuyên bị chủ ăn quỵt sau mỗi lần đi khách, nếu có biểu hiện phản ứng lập tức bị bọn ma cô, đầu gấu “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”, đành nhắm mắt buông xuôi mặc dòng đời đưa đẩy cho đến lúc thân tàn ma dại. Cũng phải kể đến đội ngũ “Osin” trong chương trình xuất khẩu lao động sang Đài Loan.

Một lượng không nhỏ người hầu gái này chấp nhận hành nghề mại dâm nhằm mục đích thu ngoại tệ qua các công ty môi giới. Có trường hợp, một “Osin” buộc phải đáp ứng nhu cầu tình dục cho cả gia đình, thậm chí, để giảm bớt chi phí, gã chủ nhà còn rủ thêm một vài anh hàng xóm “đánh ké”. Tất nhiên họ không được ăn cả mà thường là phải chia năm sẻ bảy dưới danh nghĩa “lệ phí” hoặc thuế cho các công ty lừa đảo núp dưới những cái tên rất ấn tượng, mặc dù các khoản thu ấy chẳng bao giờ được chuyển vào ngân sách nhà nước.

Loại mạt hạng nhất là là dịch vụ lấy chồng Tàu Đại lục qua các tổ chức buôn bán phụ nữ đang hoành hành gần như công khai từ hai chục năm qua. Không hiếm những nàng quá lứa nhỡ thì được bọn cò mồi tân trang, qua biên giới bỗng nhiên thành đắt giá. Có điều rất ít trường hợp kiếm được tấm chồng tử tế. Đa số các cô bị đưa đến những nơi xa xôi hẻo lánh vùng dân tộc thiểu số, cuộc sống còn lạc hậu, mông muội. Ngôn ngữ bất đồng, thân gái dặm trường, thậm chí còn bị bán chuyền tay qua vài ba ông chủ để rồi cuối cùng lọt vào một nhà chứa nào đó nơi đất khách, liệu còn có dám nghĩ đến ngày về cố hương?

Như trên đã nói, cũng như tệ tham nhũng, mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một thứ văn hóa, nếu nói theo các nhà xã hội học, hay một thứ công nghệ, nếu nói theo thuật ngữ của các nhà kinh tế học. Cái đáng bàn ở đây là Đảng và Nhà nước dứt khoát không thừa nhận. Kể cũng đúng thôi. Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm kim chỉ nam. Thừa nhận loại hoạt động “đồi trụy” này thì còn gì là thể diện? Vì lẽ đó, tuy là một thực thể tồn tại khách quan, là thị trường hoạt động rất sôi nổi và đầy màu sắc, nhưng mại dâm bị vứt ra ngoài lề đường, sống vất vưởng như những cô hồn phiêu bạt, không bị chi phối bởi bất cứ chế tài nào.

Lịch sử cho biết, mại dâm, với tư cách là một loại hình hoạt động tham gia vào cơ cấu xã hội đã có từ rất lâu, chí ít ra là từ nền văn minh Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, Xuân thu Chiến quốc… Như vậy, mại dâm là hiện tượng xã hội, chính quyền khôn ngoan là chính quyền biết cách kiểm soát thông qua chế tài chứ không thể triệt tiêu nó. Còn vì hệ ý thức mà sĩ diện, bỏ rơi nó là thiếu sáng suốt, sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Trước năm 1954, chắc chắn số lượng đĩ điếm trên lãnh thổ Việt Nam không đáng là bao nhưng người Pháp đã có đạo luật rõ ràng cho những đối tượng hành nghề này.

Các chính quyền địa phương quản lý chị em bằng môn bài đồng thời buộc các chủ chứa đóng thuế. Mặt khác, nhằm bảo vệ sức khỏe cho gái mại dâm, tránh tình trạng gieo rắc bệnh hoa liễu, nhà nước bảo hộ còn xây nhà thương chuyên chữa bệnh phụ khoa. Ai không tin điều này xin đọc phóng sự “Lục xì” của văn hào Vũ Trọng Phụng thì sẽ rõ. Về một mặt nào đó, có thể nói, người Pháp, tuy là thực dân nhưng cũng có một số chính sách nhân đạo. Trong bộ tiểu thuyết “Ông cố vấn” của nhà văn Hữu Mai có đoạn Ngô Đình Diệm vi hành ra đường phố Sài Gòn. Ngồi trong xe hơi quan sát cuộc sống dân tình, Tổng thống bị các cô gái bán hoa xúm vào chèo kéo, sau khi về dinh Gia Long, được cận vệ nói rõ sự thật, ông cho gọi Tổng Giám đốc Nha cảnh sát Đô thành phải triệt hết các ổ mại dâm, làm trong sạch đường phố. Em ruột ông, cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, người từng viết tác phẩm “Chính đề Việt Nam” nổi tiếng, không đồng tình với biện pháp trên. Ông ta nói đại ý rằng, một nhà nước dân chủ, văn minh phải chấp nhận hoạt động mại dâm, điều quan trọng là phải biết cách kiểm soát nó.

Thực trạng mại dâm ở Việt Nam đã trở thành quốc nạn phát triển theo kiểu phản ứng dây chuyền vì nó chưa bao giờ được nhìn nhận như một nguy cơ làm tổn thương dân tộc, băng hoại đạo đức, phá vỡ những giá trị văn hóa tốt đẹp bằng nguy cơ “diễn biến hòa bình” thường trực trong ý thức của các nhà lãnh đạo quốc gia. Mại dâm bị thả nổi thực chất là môi trường béo bở để các quan chức tham nhũng đua nhau hành lạc bằng tiền thuế của dân và lũ đệ tử của thần Bạch My kiếm những món lợi kếch xù trên thân xác người phụ nữ. Đó là thứ quan hệ hai chiều trong một liên minh ma quỷ luôn hành xử như những băng đảng của thế giới tội phạm ngầm. Đại dịch HIV/AIDS đang phát triển với tốc độ chóng mặt, trong khi ấy nạn mại dâm bị chính quyền thả nổi triền miên, thử hỏi, đến thời điểm này chúng ta đã có bao nhiêu người nhiễm căn bệnh thế kỷ?

Sáu mươi chín năm đã qua kể từ khi “Tiếng hát sông Hương” ra đời, giờ, mỗi khi đọc lại tôi vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây lời bình đầy cảm xúc của thầy H.B.N. cho dù ông đã thành người thiên cổ. Ông chết tức tưởi sau những năm liệt giường vì tai biến mạch máu não. Cô H.L.C., con gái út của thầy bỏ học giữa chừng bởi nhà nghèo, có bao nhiêu tiền dồn vào thuốc thang cho bố, đành phải từ biệt bà mẹ già mắc chứng quáng gà, ra Hà Nội làm nghề rửa bát thuê. Và rồi đây liệu em có thoát khỏi kiếp đoạn trường?


                                                                                                           

                                                                      Đặng Văn Sinh

                                                                                       (từ: VV)
Chú thích:

* Dân chi phụ mẫu: Quan chức là cha mẹ dân, lấy ý một đoạn trong “Kinh thi”:

《詩》云:「樂只君子,民之父母。」民之所好好之,民之所惡惡之, 此之謂民之父母。

Thi vân: “lạc chỉ quân tử, dân chi phụ mẫu.” Dân chi sở hảo hảo chi, dân chi sở ố ác chi, thử chi vị dân chi phụ mẫu.

Kinh Thi nói: “Vui thay người quân tử, là cha mẹ của dân”. Điều gì dân thích, thì mình thích, điều gì dân ghét, thì mình ghét. Như vậy thì gọi là cha mẹ dân. (Thi. Tiểu nhã. Nam Sơn hữu đài, chương 2, câu 3-4).

                                  *

                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

                                      

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, May 9, 20217:22 AM(View: 12)
Từ nghìn xưa cho đến nay – trên quê hương chúng ta – hình ảnh người mẹ là hình bóng thiêng liêng, cao quý nhất… không hết lời ngưỡng mộ trong dòng văn học nghệ thuật. Mẹ từ khi “mang nặng đẻ đau”, cưu mang, nuôi nấng, dạy dỗ khi con chào đời cho đến khi trưởng thành, xa cách và khi về già. Nói đến mẹ là nói đến trái tim nhân bản, hy sinh và thương yêu vô bờ bến cả cuộc đời cho con đến khi nhắm mắt. Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại. Trước năm 1975, ở miền Nam VN không có Ngày Hiền Mẫu, Ngày Của Mẹ… để nhắc đến, để vinh danh, để nhớ vì với người con, hình bóng đó gắn liền với ngày tháng cuộc đời. Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ. Gởi đến mọi người những ca khúc tiêu biểu. Và, thân tặng với những ai không còn mẹ
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 73)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 185)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con
Sunday, April 25, 20218:02 AM(View: 290)
Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước
Tuesday, April 20, 202112:01 PM(View: 292)
Không một quan hệ thân xác nào chỉ hoàn toàn là thân xác. Trong khi bạn giao tiếp tình dục với người khác, sờ mó, hôn, làm tình, không chỉ hai cơ thể có dịp cọ xát với nhau mà còn có những tiếp xúc đụng chạm khác nữa: xúc cảm, sự đau đớn, sự hòa tan, hạnh phúc, sự tưởng tượng, những mối quan hệ trở nên bền chặt hơn hoặc trở nên rạn vỡ hơn. Truyền thống của người Việt Nam, cũng như của nhiều tôn giáo, đối lập đời sống nhục cảm và đời sống tinh thần, một bên thấp hèn, một bên cao quý. Trẻ em từ khi sinh ra đến trước tuổi trưởng thành rất dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với tình dục, chẳng thế mà Nguyễn Viện đã ghi rõ dưới nhan đề bài thơ của anh “không dành cho trẻ em dưới 18 tuổi”. Các nhà nghiên cứu nhân chủng học không ngớt ngạc nhiên phát hiện rằng đời sống của nhân loại đầy rẫy các yếu tố dục tính, tổ tiên chúng ta không hề ngượng ngùng khi đề cập đến sex trong văn hóa và nghệ thuật. Rõ ràng có một mối liên hệ mật thiết giữa tình dục và các huyền thoại và tôn giáo và những phẩm chất